vđồ án quy hoạch đô thị Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý cơ sở hạ tầng kĩ thuật trên địa bàn huyện Sóc Sơn – TP.Hà Nội - Pdf 27


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ ĐÔ THỊ
~~~~~~*~~~~~~
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế và Quản lý đô thị
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CƠ SỞ
HẠ TẦNG KỸ THUẬT TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN SÓC SƠN – T.P HÀ NỘI
Sinh viên thực hiện : ĐẶNG HỮU PHÚ
Lớp : KINH TẾ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
Khóa : 49
Hệ : CHÍNH QUY
Giáo viên hướng dẫn : TH.S. BÙI THỊ HOÀNG LAN
Cán bộ hướng dẫn : KT. PHAN ĐÌNH ẤN
HÀ NỘI 5- 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện, không sao
chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác; nếu sai phạm tôi xin chịu kỷ
luật với Nhà trường.
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2011
Ký tên

Đặng Hữu Phú
PHỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 7
1.1.1.2 Khái niệm cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị : 11
1.1.1.3 Cấu trúc cơ bản của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị 11
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị 12

Bảng 07: Chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong các khu phát triển đô thị trên địa
bàn huyện Sóc Sơn 40
2.3.2 Hạn chế 42
2.3.3 Nguyên nhân : 43
2.4 Kết luận chương II 46
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CƠ SỞ HẠ
TẦNG KỸ THUẬT HUYỆN SÓC SƠN 46
3.1 Quan điểm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật huyện Sóc Sơn 46
3.2 Dự báo nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật huyện Sóc Sơn 47
Dự báo nhu cầu cơ sở hạ tầng kỹ thuật huyện Sóc Sơn 47
3.2.2 Dự báo Quy mô đất đai dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị theo phương án
chọn 50
Bảng 11: Dự báo nhu cầu sử dụng đất dành cho các công trình cơ sở hạ tầng
kỹ thuật huyện Sóc Sơn tới năm 2020 50
3.3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn huyện Sóc Sơn 51
3.4 Kết luận chương III 56
KẾT LUẬN 57
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 01. Chỉ tiêu cung cấp điện sinh hoạt cho các loại đô thị. Error:
Reference source not found
Bảng 02: Hiện trạng lao động toàn huyện Sóc Sơn năm 2009 Error:
Reference source not found
Bảng 03: Một số chỉ tiêu kinh tế năm 2009 Error: Reference source not
found
Bảng 04: Thực trạng sử dụng đất huyện Sóc Sơn năm 2009 Error:
Reference source not found
Bảng 05: Tỷ lệ kết cấu các loại mặt đường tại trung tâm thị trấn Sóc Sơn
Error: Reference source not found
Bảng 06: Chiều rộng tối thiểu của hè phố đi bộ dọc theo đường phố tại trung
tâm thị trấn Sóc Sơn năm 2007 và năm 2009 Error: Reference source not

Ðược sự quan tâm và chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành, sự nỗ lực của chính
quyền các cấp cùng với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế và các nước trên thế giới,
hệ thống hạ tầng kỹ thuật các đô thị và các khu vực dân cư nông thôn tập trung ở
nước ta đã từng bước được đầu tư, cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới, qua đó góp
phần cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Trong hơn 10 năm trở lại đây, hệ thống các quy định khung pháp lý cho
công tác xây dựng, phát triển và quản lý hạ tầng kỹ thuật đã được tập trung nghiên
cứu, xây dựng và ban hành. Sau khi Luật Xây dựng được thông qua vào năm 2003,
Chính phủ đã ban hành các Nghị định cùng với nhiều định hướng, chiến lược trọng
tâm bao trùm hầu hết các lĩnh vực chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật. Ðây là những cơ
sở quan trọng để các bộ, ngành và địa phương tích cực triển khai đầu tư xây dựng
và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị và nông thôn, bước đầu đã đạt được
những kết quả rất đáng khích lệ.
Huyện Sóc Sơn có vị trí tự nhiên nằm ở cửa ngõ phía Bắc thành phố, là một
trong những huyện có diện tích đất lớn. Trong những năm qua hệ thống cơ sở hạ
tầng kỹ thuật của huyện cũng đã có những chuyển biến tích cực. Hầu hết các trục
giao thông chính (trục xã và liên xã) được rải nhựa và bê-tông hóa, 100% số xã
được cấp điện, khoảng 90 - 95% số hộ dân được sử dụng điện từ các nguồn. Tỷ lệ
dân cư nông thôn tiếp cận với nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt khoảng 84,5%. Ðây
là những kết quả bước đầu triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển
cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại các địa phương.
Trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, nguồn lực dành cho đầu tư xây
dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật còn rất hạn chế, những kết quả đã đạt được là
sự nỗ lực rất lớn của các cấp, các ngành trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, trước
những yêu cầu và nhiệm vụ của thực tiễn xây dựng phát triển kinh tế xã hội lĩnh
vực hạ tầng kỹ thuật ở huyện Sóc Sơn cũng như tại các đô còn nhiều yếu kém, cần
được nhìn nhận và khắc phục một cách có hệ thống.
Xuất phát từ những vấn đề trên, em đã thực hiện đề tài: “Một số giải pháp hoàn thiện
công tác quản lý cơ sở hạ tầng kĩ thuật trên địa bàn huyện Sóc Sơn – TP.Hà Nội”
nhằm có những cái nhìn về thực trạng quản lý cơ sở hạ tầng kĩ thuật của huyên, đồng thời

Trong quá trình thực tập và nghiên cứu chuyên đề, em luôn nhận được sự
giúp đỡ tận tình của anh, chị trong trung tâm thiết kế Đô thi – Viện kiến trúc, quy
hoạch Đô thị và Nông thôn cùng với sự hướng dẫn, chỉ bảo của ThS. Nguyễn Thị
Hoàng Lan. Em xin chân thành cảm ơn giảng viên ThS. Bùi Hoàng Lan và KT.
Phan Đình Ấn cùng tập thể các anh chị trong trung tâm đã tận tình giúp đỡ chỉ bảo
em trong suốt quá trình thực tập và thực hiện chuyên đề tốt nghiệp này.
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ
THUẬT Ở ĐÔ THỊ
1.1 Đô thị và cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thi.
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản.
1.1.1.1 Khái niệm đô thị .
Cho đến ngày nay chúng ta có khoảng trên 1000 điểm dân cư đô thị. Đây là những
trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế xã hội của toàn bộ đất nước. Các đô thị này là nguồn
động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước nhằm phát huy triệt để nguồn lao động,
nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho lợi ích cộng đồng.
Các đô thị lớn giữ vai trò trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, đào tạo và là đầu
mối giao thông, giao lưu trong vùng, cả nước và quốc tế.
Các đô thị trung bình và nhỏ giữ vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa, dịch vụ của
khu vực.
Mạng lưới đô thị cả nước được hình thành và phát triển trên cơ sở các đô thị trung
tâm. Chẳng hạn như ở nước ta một số thành phố trung tâm quốc gia như thủ đô Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng; thành phố trung tâm vùng như: Biên Hòa,
Vũng Tàu, Nha Trang, Buôn Mê Thuật, Vinh… Ngoài ra còn có các đô thị trung tâm
vùng, tỉnh, huyện và các tiểu vùng (cụm xã).
Hệ thống đô thị nước ta đã được hình thành từ lâu đời tại các địa điểm đã hội tụ
được nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên, kinh tế và xã hội. Vị trí và khoảng cách giữa
các đô thị nhìn chung là tương đối hợp lý. Ngày nay chúng ta cần phát triển mở rộng các
đô thị cũ đồng thời xây dựng thêm các đô thị mới nhằm hoàn thiện mạng lưới đô thị toàn
quốc. Mỗi đô thị cần phát huy nguồn lực và đặc thù riêng của mình để phát triển. Chẳng
hạn như đô thị phát triển công nghiệp, có đô thị phát triển du lịch lại có đô thị phát triển

truyền dẫn ống cấp nước (nguyên liệu) từ hồ chứa vào nhà máy nước, tuyến ống dẫn
nước (bán thành phẩm) từ trạm xử lý nước sơ bộ đến trạm xử lý cuối cùng, tuyến dẫn
nước sạch từ nhà máy nước đến các hộ tiêu thụ. Đối với hệ thống giao thông đô thị thì
chính các tuyến đường phố là tuyến vận chuyển của người và xe cộ.
Các công tình dạng điểm thường là các công trình đầu mối, các công trình điểm
nút của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị. Ví dụ như bến xe, bãi đỗ xe, nhà máy
nước, trạm xử lý nước thải, trạm biến thế điện, trạm bơm, hồ chứa…
Việc quản lý các công trình dạng tuyến và các công trình dạng điểm có những đặc
điểm khác nhau. Tùy thuộc vào đặc tính kỹ thuật, hình thức công nghệ mà người ta đưa
ra các giải pháp quản lý khác nhau.
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Khác với các công trình đô thị thông thường, hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng
kỹ thuật đô thị có những đặc điểm nổi bật mà chính quyền các cấp và người dân quan
tâm. Các đặc điểm cơ bản của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm:
1.1.2.1 Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị có vai trò quan trọng trong đời
sống đô thị
Một trong những yếu tố quan trong thúc đẩy sự phát triển mọi mặt về kinh tế xã
hội trong đô thị là hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị. Đây cũng là tiêu chuẩn quan
trọng quyết định sự khác nhau giữa đô thị và nông thôn. Chính vì vậy nhà nước đã quy
định phân loại đô thị phải dựa vào mức độ phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Đối với một đô thị thì mọi hoạt động ăn ở, làm việc, nghỉ ngơi giải trí của người
dân đều chịu ảnh hưởng của mạng lưới giao thông, hệ thống cung cấp năng lượng, cung
cấp thông tin, hệ thống đảm bảo vệ sinh môi trường… Chẳng hạn như tắc nghẽn giao
thông ảnh hưởng đến giờ giấc làm việc, học tập của nhân dân; thiếu nước sạch cho sinh
hoạt sẽ gây nhiều bệnh tật; ngập úng đô thị làm trì trệ mọi hoạt động của đô thị và ô
nhiễm môi trường; thiếu điện làm sản xuất trì trệ…
Vì lẽ đó hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị có vai trò đặc biệt quan trọng với
mọi mặt đời sống đô thị. Bên cạnh những mặt tích cực của dịch vụ, hệ thống cơ sở hạ
tầng kỹ thuật đô thị còn gây ra các ngoại ứng. Đó là những tác động đến lợi ích hoặc chi
phí nằm bên ngoài thị trường phục vụ. Các ngoại ứng tích cực và têu cực do hệ thống cơ

gọi đây là loại hàng hóa câu lạc bộ.
Như vậy, dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là loại hàng hóa công cộng hoặc
nhiều khi là hàng hóa tư được cung cấp dưới hình thức công cộng.
1.1.2.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị có tuổi thọ dài và chịu tác động
của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội.
Mỗi loại công trình đều có tuổi thọ thiết kế. Nhưng tuổi thọ thực tế của công trình
không những phụ thuộc vào độ bền của vật liệu, chất lượng xây dựng, mà còn phụ thuộc
vào việc khai thác sử dụng có đúng hay không, việc bảo trì, duy trì và việc cải tạo nâng
cấp.
Các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị thường là các công trình lớn và phục
vụ đô thị theo thời gian dài nên chúng chịu tác động từ nhiều khía cạnh. Đó là nhu cầu
tiêu dùng ngày càng tăng do sự gia tăng của dân số, do sự tăng của mức sống nhưng
mạng lưới cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị không dễ gì tăng đươc. Chẳng hạn như dân số
tăng làm cho nhu cầu cung cấp nước sạch tăng. Bên cạnh đó mức sống ngày càng tăng
cao thì nhu cầu dùng nước sạch tăng. Trong khi đó khó có thể lắp đặt thêm một hệ thống
đường ống mới. Thêm vào đó các tiêu chí về cung cấp nước sạch ngày càng sạch hơn và
các tiêu chuẩn cấp nước ngày càng chặt chẽ hơn nhưng công nghệ sản xuất nước cũng
không dễ gì thay đổi.
Nếu các công việc vận hành, duy tu bảo dưỡng làm tốt thì tuổi thọ thực tế của các
công trình còn vượt tuổi thọ thiết kế. Trông nhiều trường hợp công trình cơ sở hạ tầng kỹ
thuật đô thị vẫn còn bền chắc nhưng chúng không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn phát
triển và việc vận hành không đạt hiệu quả kinh tế - xã hội thì người ta vẫn loại bỏ chúng.
Trường hợp này gọi là công trình đạt tuổi thọ kinh tế. Ngoài ra còn có các khái niệm tuổi
thọ dịch vụ là số năm mà cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị có thể khai thác đạt các chỉ tiêu kỹ
thuật.
Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị cũng bị già cỗi theo thời gian. Người ta cần
có giải pháp chống già cỗi cho hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị bằng cách bảo trì tu
dưỡng, sữa chữa, nâng cấp các công trình để cho việc cung cấp dịch vụ công cộng ngày
càng tốt hơn.
Như vậy do tuổi thọ công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị tương đối dài nên

1.1.2.7 Dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị mang “tính tất nhiên”
Trên thực tế, đại đa số dân cư không đánh giá đúng vai trò của dịch vụ cơ sở hạ
tầng kỹ thuật đô thị. Họ coi như việc cung cấp dịch vụ đó là việc “tất nhiên”, thậm chí
như dịch vụ của tự nhiên vậy. Hàng ngày, hàng giờ, mọi người dân đều sử dụng dịch vụ
công cộng như đi lại trên đường phố, sử dụng điện cho sinh hoạt và làm việc, sử dụng
nước cho sinh hoạt và sản xuất…nhưng họ đều coi dịch vụ đó là bình thường. Nói cách
khác là việc cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị đầy đủ, chất lượng tốt đồng
nghĩa với các hoạt động bình thường trong tự nhiên.
Người dân đô thị chỉ có thể nhìn thấy vai trò quan trọng của dịch vụ cơ sở hạ tầng
kỹ thuật đô thị khi dịch vụ đó không đáp ứng được các yêu cầu sử dụng của họ như: khi
tắc nghẽn về giao thông, hệ thống điện, hệ thống nước ngừng hoạt động…Tuy vậy, khi
mà các dịch vụ đã khắc phục sự cố, các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị lại được
cung cấp đầy đủ thì người dân lại nhanh chóng lãng quyên vai trò của dịch vụ cơ sở hạ
tầng kỹ thuật đô thị.
Mặc dù vậy, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị vẫn liệc tục cố gắng cung cấp
nhu cầu sử dung của người dân một cách “tự nhiên”. Không thể vì nhận thức chưa đầy đủ
của nhân dân mà không cung cấp dịch vụ hoặc cung cấp không đầy đủ dịch vụ. Hệ thống
quản lý đô thị luôn tìm cách phát huy mọi nguồn lực để duy trì, sữa chữa và nâng cấp hệ
thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị. Những sự cố kỹ thuật xảy ra trong trường hợp bất
khả kháng.
Như vậy là cho dù dân cư không đánh giá đúng vai trò quan trọng của dịch vụ cơ
sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, hệ thống quản lý không những vẫn liên tục cung cấp dịch vụ
mà còn phải phấn đấu để dịch vụ ngày càng tốt hơn.
1.1.2.8 Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là di sản đô thị
Các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị ra đời cùng với sự xuất hiện và phát
triển hay tiêu vong của mỗi đô thị. Mọi hoạt động của đô thị, mọi thăng trầm của đô thị
luôn gắn liền vói hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị. Chính vì vậy nói về di sản đô thị
thì không thể bỏ qua di sản hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Những con đường, những đoạn cống thoát nước, những quản trường …đã sinh ra
và mất đi theo quá trình vận động của đô thị. Đây là những di vật quý báu chứng minh

giảm nhu cầu sử dụng. Chẳng hạn như phí điện năng tiêu thụ tăng lũy tiến, ngời dùng ít
thì giá thấp, người dùng nhiều thì giá cao. Điều này đã kiềm chế nhu cầu ngày càng tăng
trong việc tiêu dùng điện năng.
1.1.3 Các thành phần chủ yếu của các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị :
1.1.3.1 Hệ thống giao thông đô thị :
Nhiệm vụ chính của hệ thống giao thông đô thị là đáp ứng các yêu cầu về vận tải
hàng hóa và vận tải hành khách. Giao thông đô thị được hiểu là các công trình, các
phương tiện, các con đường đảm bảo liên hệ thuận lợi giữa các khu vực trong đô thị với
nhau và giữa đô thị với các khu vực bên ngoài đô thị. Hệ thống bến bãi, đường phố, cầu
cống cần đáp ứng nhu cầu đi lại của các phương tiện giao thông và người đi bộ.
Giao thông đô thị là một hệ thống khá phức tạp nhưng lại có vai trò đặc biệt quan
trọng với tất cả các đô thị. Nếu giao thông đường phố không đảm bảo thì dẫn tới tình
trạng ách tắc giao thông, tai nạn giao thông…Vì vậy, đô thị chỉ phát triển khi hệ thống
giao thông phát triển.
1.1.3.2 Hệ thống cấp nước đô thị :
Hàng ngày các đô thị có nhu cầu cung cấp nước sạch phục vụ sinh hoạt và sản
xuất. Chính vì vậy dịch vụ cung cấp nước đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội
đô thị. Chính quyền đô thị cần có kế hoạch đầu tư, nâng cấp cải tạo các nhà máy nước
thải để sản xuất nước sạch phục vụ cho các hoạt động đô thị người tiêu dùng có đủ nước
và nước đảm bảo chất lượng.
Các cơ quan quản lý cần nghiên cứu và đưa ra giá nước hợp lý cho cả người sản
xuất và người tiêu dùng đồng thời phải quan tâm đến các vấn đề tích lũy để tái sản xuất
mở rộng. Các chi phí cấp nước và tái đầu tư mở rộng, sửa chửa đều lấy từ lợi nhuận. Do
dân số đô thị ngày càng tăng và nhu cầu nước ngày càng nhiều nên nhu cầu ưu tiên cải
tạo và mở rộng kết hợp xây dựng hệ thống cấp nước mới để thỏa mãn nhu cầu sử dụng
của cư dân đô thị.
Về mặt tổ chức quản lý, các cấp thành phố và chính quyền tỉnh giao cho các cơ
quan chuyên môn chịu trách nhiệm quản lý cung cấp hệ thống nước đô thị. Chính sách
đối với đô thị là cung cấp nước phải đầy đủ về khối lương, nước phải đảm bảo chất lượng
và đặc biệt là phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật bảo vệ nguồn nước. Các nhà máy nước phải

đô thị cho các ngành chuyên môn như công ty điện lực, công ty công trình công cộng…
Việc sử dụng năng lượng cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên trách quản lý và
các hộ sử dụng. Mọi việc xây dựng. cải tạo các công trình đô thị đều phải theo quy định
của các cơ quan quản lý để đảm bảo hành lang an toàn lưới điện, mạng lưới cấp hơi đốt,
an toàn phòng chống cháy nổ.
Cung cấp năng lượng là một ngành dịch vụ công cộng, bên cạnh việc kinh doanh
là vấn đề xã hội, chính trị, an ninh… Cho nên các cơ quan quản lý càn tìm giải pháp tốt
nhất nhằm đáp ứng đực những yêu cầu đa dạng tại đô thị.
1.1.3.5 Hệ thống cung cấp thông tin liên lạc đô thị
Thông tin liên lạc truyền thông báo chí là dịch vụ công cộng. Ủy ban nhân dân đô
thị chịu trách nhiệm đáp ứng nhu cầu về thông tin liên lạc, báo chí cho mọi người dân đô
thị.
Quán lý thông tin liên lạc là một công việc hết sức quan trọng vì ngoài việc nó
phải đáp ứng nhu cầu của cư dân, nó còn là phương tiện để chính quyền các cấp thực thi
các biện pháp quản lý đô thị. Công tác quản lý đô thị luôn cần đến thông tin tuyên truyền.
1.1.3.6 Hệ thống cơ sở vệ sinh môi trường
Môi trương đô thị bao gồm nhiều yếu tố: chất thải rắn, nước thải, khí thải, tiếng
ồn, cây xanh…Ở những đô thị nhỏ, mật độ dân cư thấp, lượng rác thải ra hàng ngày
không nhiều thì việc thu gom, vân chuyển và thanh toán phế thải rất đơn giản và ít gây ô
nhiễm môi trường. Nhưng khi tốc độ đô thị hóa ngày càng cao, cư dân đô thị ngày càng
lớn thì vấn đề không đơn giản vậy. Các đô thị lớn vấn đề bức xúc, đòi hỏi các cấp chính
quyền đô thị phải tổ chức việc này một cách quy mô và khoa học.
Việc quản lý vệ sinh môi trường, nhất là việc quản lý chất thải rắn là một dịch vụ
công cộng mà chính quyền đô thị phải chịu trách nhiệm. Ủy ban nhân dân thành phố, thị
trấn, thị xã giao cho một hay nhiều đơn vị đảm nhận. Phần lớn các doanh nghiệp công ích
làm nhiệm vụ này. Các cấp chính quyền đô thị tổ chức phối hợp giữa các đơn vị này và
các ngành liên quan như giao thông, năng lượng, nông nghiệp để việc quản lý chất thải
được thực hiện một cách tốt nhất.
Bên cạnh đó vấn đề nghĩa trang cũng là một dịch vụ công cộng mà chính quyền đô
thị cần có kế hoạch đầu tư, quản lý và sử dụng. Khu vực nghĩa trang liên quan đến vệ

dữ liệu, bao gồm bảng liệt kê tài sản, nguồn gốc lịch sử, tài liệu thiết kế xây dựng, các kết
quả thí nghiệm, các tư liệu trong quá trình vận hành kể cả số liệu về môi trường… Ngày
nay tin học và nhiều công nghệ mới như thiết bị nghe nhìn, ra đa, ảnh vệ tinh, kiểm định
không tiếp xúc…ngày càng được sử dụng rộng rãi trong quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật
đô thị.
Cơ sở dữ liệu rất cần thiết trong việc ra quyết định, là thành phần quan trọng trong
hệ thống trợ giúp quyết định. Hệ thống này thông qua máy tính, tổ chức quá trình xử lý,
phân tích và cung cấp thông tin cần thiết cho việc ra quyết định, do vậy nó là bộ phận cấu
thành hệ thống quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm: các công trình giao thông,
các công trình cấp nước, các công trình thoát nước, hệ thống điện, vệ sinh môi trường,
cung cấp năng lượng…Quá trình cải tạo và xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng kỹ
thuật đô thị phải tuân theo quy hoạch đô thị đã được phê duyệt. Ủy ban Nhân dân tỉnh,
thành phố, thị xã, thị trấn giao cho các cơ quan chuyên trách quản lý sử dụng và khai thác
công trình này.
1.2.2 Cơ sở quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
Theo một cách tiếp cận khác thì quản lý hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị bao
gồm hai nhóm :
+ Quản lý kỹ thuật: sử dụng các định mức, đơn giá, quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy
phạm kỹ thuật, quy trình kỹ thuật…để quản lý các hoạt đông trong hệ thống cơ sở hạ tầng
kỹ thuật đô thị.
+ Quản lý tổ chức: Thiết kế và vận hành bộ máy tổ chức và quản lý trong nhân lực
hệ thống hạ tầng kỹ thuật.
Hai nhóm chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau trong mọi hoạt động với
nhau trong mọi hoạt động của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Nội dung quản lý sử dụng và khai thác các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
bao gồm:
Lập và lưu trữ hồ sơ hoàn công sau khi cải tạo và xây dựng công trình.
Phát hiện các hư hỏng, sự cố kỹ thiuật và có các biện pháp sữa chữa kịp thời.
Thực hiện chế độ duy tu bảo dưỡng, cải tạo, nâng cấp để duy trì chức năng sử

đê, đập, trạm bơm và trạm xử lý nước thải. Ủy ban nhân dân thành phố, thị xã, thị trấn
giao cho cơ quan chuyên trách quản lý việc sử dụng và khai thác các công trình thoát
nước đô thị. Khi đầu nối công trình thoát nước cục bộ vào hệ thống thoát nước đô thị phải
được sự đồng ý của cơ quan quản lý đô thị. Nước thải xả vào mạng lưới thoát nước đô
thị, xã vào sông hồ tự nhiên phải đảm bảo các yêu cầu vệ sinh môi trường.
Các công trình cấp điện và chiếu sáng đô thị bao gồm các nhà máy phát điện (nếu
có), các trạm biến áp, tủ phân phối điện, hệ thống đường dây dẫn điện, cột điện, đèn
chiếu sáng.
Phạm vi bảo vệ các công trình này được quy định theo các Nghị định, quy phạm,
quy định riêng. Ủy ban nhân dân đô thị giao cho cơ quan chuyên trách quản lý các công
trình cấp điện và chiếu sáng đô thị. Cơ quan chuyên môn được giao nhiệm vụ quản lý
việc cấp điện cần tổ chức phục vụ theo các yêu cầu chính đáng của các cá nhân và tập thể
trên địa bàn đô thị. Mọi việc cải tạo, xây dựng các công trình đô thị có ảnh hưởng đến
phạm vi bảo vệ công trình điện đều phải được các cơ quan có thẩm quyền cho phép và
đảm bảo an toàn hành lang lưới điện.
Mọi công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị khi xây dựng xong phải được tổ chức
nhiệm thu. Ủy ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương giao cho các sở ban
ngành của mình quản lý các công trình đó.
Các tổ chức, cá nhân sử dụng và khai thác các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô
thị cần phải :
• Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về chế độ sử dụng đối với từng loại
công trình và phối hợp đồng bộ giữa các loại công trình;
• Không lấn chiếm đất công cộng dành để xây dựng các công trình cơ sở hạ
tầng kỹ thuật đô thị đô thị; kế cả vùng được bảo vệ được khoanh định theo tiêu chuẩn quy
phạm Nhà nước.
• Việc sử dụng hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phải
được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
• Các sự cố kỹ thuật gây hư hỏng công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị do
các hành vi của người sử dụng gây ra phải được xử lý.
Việc sửa chửa các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị cần phải :

điều hòa).
Phạm vi bảo vệ hệ thống cấp nước đô thị: Nguồn nước mặt hoặc nước ngầm có
phạm vi bảo vệ theo quy định hiện hành.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giao cho cơ quan chuyên
trách quản lý hệ thống cấp nước đô thị. Tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu sử dụng nước
phải làm đơn ký kết hợp đồng với các cơ quan chuyên trách quản lý hệ thống cấp nước
đô thị. Việc khai thác và sử dụng nguồn nước ngầm có quy mô trên 50m
3
/h và các nguồn
nước mặt thì cần phải kể đến tính hợp lý, đảm bảo vệ sinh môi trường và phải được phép
cảu cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quản lý thoát nước đô thị:
Dựa vào tiêu chuẩn quy phạm do Nhà nước ban hành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương quy định phạm vi bảo vệ các công trình thoát nước đô thị. Mỗi
đô thị có cơ quan chuyên trách quản lý và các công trình thoát nước. Trường hợp nước
thải độc hại, gây ô nhiễm môi trường và gây bệnh, khi xả vào hệ thống thoát nước của
thành phố phải được làm sạch theo tiêu chuẩn của luật bảo vệ môi trường quy định. Khi
đấu nối hệ thống thoát nước nội bộ với hệ thống thoát nước chung của thành phố phải
được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quản lý các công trình cấp điện:
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định phạm vi bảo vệ
các công trình cấp điện đựa theo các tiêu chuẩn quy phạm của Nhà nước và điều kiện cụ
thể của từng khu vực.
Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng điện cần làm đơn và ký hợp đồng với cơ
quan quản lý điện. Mọi nhu cầu cải tạo sửa chữa các công trình cấp điện và chiếu sáng đô
thị cần phải có biện pháp an toàn và được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.
1.2.3 Nội dung công tác quản lý hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
Hoạt động quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm các công tác chủ yếu sau:
Lập dự án đầu tư cải tạo và xây dựng công trình, triển khai các dịch vụ (khai thác) và lập
kế hoạch tài chính ngân sách cho các hoạt động quản lý hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status