Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh tại chi cục thuế huyện nam trực, nam định - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

--------------

LƯU QUANG TUYỂN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ
NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ
HUYỆN NAM TRỰC, NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HOC:
TS. PHẠM CẢNH HUY

HÀ NỘI - 2013


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

MỤC LỤC
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT..................................................................................4
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................5
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................................6
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................7
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ


CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ NGOÀI QUỐC
DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM TRỰC ...............................................45
2.1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN NAM TRỰC .............45
2.1.1. Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ...............................................45
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ........................................................................45
2.2. THỰC TRẠNG KTNQD VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ NQD ĐỊA BÀN
HUYỆN NAM TRỰC TRONG NHỮNG NĂM 2009 - 2011 .........................46
2.2.1. Thực trạng KTNQD - ảnh hưởng đến quản lý thu thuế NQD trên địa bàn
huyện .................................................................................................................46
2.2.2.THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN NAM TRỰC ........................................................................50
2.2.2.1. Kết quả thu ngân sách năm 2009 ....................................................50
2.2.2.2. Kết quả thu ngân sách năm 2010 ....................................................54
2.2.2.3. Kết quả thu ngân sách năm 2011 ....................................................58
2. 2.3. Đánh giá công tác quản lý thuế trên địa bàn huyện Nam Trực: ...................62
2.2.3.1. Về quản lý đối với các doanh nghiệp Ngoài quốc doanh: ..............63
2.2.3.2.Về quản lý đối với các hộ kinh doanh cá thể: ..................................63
2.2.3.3. Kiểm tra chống thất thu trong quản lý thuế khu vực KTNQD tại
năm 2009 – 2011: .........................................................................................63
2.3. NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU
THUẾ NQD TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ............................................................65
KẾT LUẬN CHƯƠNG II .......................................................................................68
CHƯƠNG III. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU
THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM TRỰC .......69
3.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
THU THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH ..............................................................69
Lưu Quang Tuyển

2

3

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NQD

Ngoài quốc doanh

NSNN

Ngân sách nhà nước

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

KTNQD

Kinh tế ngoài quốc doanh

CNXH

Chủ nghĩa xã hội


Đối tượng nộp thuế

TKTN

Tự khai tự nộp

QLT

Quản lý thuế

KD

Kinh doanh

DN

Doanh nghiệp

XDCB

Xây dựng cơ bản

UBND

Uỷ ban nhân dân

UNT

Uỷ nhiệm thu



Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tính thuế MB căn cứ vào vốn ..................................................................27
Bảng 1.2: Tính thuế MB căn cứ thu nhập bình quân tháng .....................................27
Bảng 2.1:GDP của tỉnh theo giá năm 2000:..............................................................46
Bảng 2.2: Sự phát triển của KTNQD trên địa bàn huyện từ năm 2009 - 2011 .........47
Bảng 2.3: Phân bổ cơ sở sản xuất kinh doanh NQD trên địa bàn huyện theo ngành
nghề hoạt động ở năm 2009 ......................................................................................48
Bảng 2.4: Quy mô và tỷ trọng thu thuế NQD trong NSNN huyện ...........................49
Bảng 2.5: Kết quả thu ngân sách năm 2009 - Phân theo sắc thuế ............................50
Bảng 2.6: Kết quả thu ngân sách năm 2009 - phân theo đơn vị thu .........................51
Bảng 2.7: Kết quả thu ngân sách năm 2010 - phân theo sắc thuế.............................54
Bảng 2.8: Kết quả thu ngân sách năm 2010 - phân theo đơn vị thu .........................54
Bảng 2.9: Kết quả thu ngân sách năm 2011 - phân theo sắc thuế.............................58
Bảng 2.10: Kết quả thu ngân sách năm 2011 - phân theo đơn vị thu .......................59

Lưu Quang Tuyển

5

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh


1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà
nước, thuế là công cụ chủ yếu để huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
(NSNN), hàng năm số thu về thuế chiếm khoảng 80% đến 90% tổng thu
NSNN và thuế còn là công cụ quan trọng để điều tiết nền kinh tế, kích thích sản
xuất phát triển. Do có vai trò rất quan trọng nên các quốc gia đều rất quan tâm
đến thuế và đưa ra nhiều biện pháp quản lý và thu thuế. Trong các đối tượng
quản lý về thuế thì quản lý thu thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (NQD) là
phức tạp nhất. Đây là khu vực kinh tế gồm nhiều đơn vị sản xuất, hoạt động
trong hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Đây cũng là khu vực khó quản
lý và dễ gây thất thu lớn. Do vậy làm thế nào để quản lý thuế của khu vực kinh tế
NQD vừa bảo đảm thu ngân sách, thực hiện công bằng giữa các chủ thể kinh
doanh, vừa kích thích phát triển sản xuất - kinh doanh của khu vực này đang là
bài toán khó.
Chi cục thuế Nam Trực là một trong những Chi cục thuộc Cục
thuế Tỉnh Nam Định trong nhiều năm đều hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN.
Tuy vậy việc quản lý thu thuế khu vực kinh tế NQD hiện còn nhiều trở ngại
trong cơ chế chính sách, quy trình hành thu còn nhiều vướng mắc, ý thức chấp
hành nghĩa vụ của người nộp thuế còn thấp. Một số hiện tượng tiêu cực còn phổ
biến như: không sử dụng hoá đơn khi bán hàng, khai tăng chi phí, ghi giá thấp,
khai man chốn thuế còn nhiều. Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN với nhiều thành phần tham gia, các chủ thể kinh doanh khu
vực kinh tế NQD tăng lên nhanh chóng cả về số lượng lẫn quy mô. Việc đẩy
mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế , cơ chế chính sách quản lý từ Trung
ương đến các địa phương. Điều đó đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản quản lý thuế
nói chung và quản lý thu thuế khu vực kinh tế NQD trên địa bàn huyện Nam
Lưu Quang Tuyển

7



Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

CHƢƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ
VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thuế
1.1.1.1 Khái niệm
Việc nghiên cứu về sự tồn tại và phát triển của Nhà nước đã giúp cho
chúng ta hiểu ra một điều đó là: Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của
mình Nhà nước phải dùng quyền lực để bắt buộc các thành viên trong xã hội
có nghĩa vụ đóng góp một phần sản phẩm, thu nhập cho Nhà nước. Hình thức
đó chính là thuế. Như vậy thuế là sản phẩm tất yếu từ sự xuất hiện bộ máy
Nhà nước.
Trong quá trình tồn tại của mình, thuế đã được nghiên cứu, định nghĩa
khá nhiều và trên nhiều góc độ khác nhau. Các nhà kinh điển thì cho rằng:
“Thuế cấu thành nên phần thu của chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của
đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản
hay thu nhập của người chịu thuế” (Lê-nin toàn tập), hoặc thuế được quan
niệm rất đơn giản: "Thuế khóa là cái vú sữa của chính phủ"
Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta lại cho rằng: Thuế là hình
thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước để đáp ứng
nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện chức năng của Nhà nước.

Tóm lại, qua quá trình phát triển của Nhà nước và thuế cho chúng ta
thấy, thuế và Nhà nước là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Nhà nước tồn
tại tất yếu phải có thuế. Thuế là cơ sở vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển của Nhà nước. Kết hợp những hạt nhân hợp lý của những quan niệm về
thuế kể trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một
khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện
đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước
ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng
nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng
xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và
pháp luật.

Lưu Quang Tuyển

11

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

1.1.1.2. Đặc điểm:
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có
của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định qua từng giai đoạn phát triển.
Nghiên cứu về thuế người ta thấy nó có những đặc điểm riêng để phân biệt
với các công cụ tài chính khác.
Đặc điểm thứ nhất: Thuế có tính pháp lý và tính cưỡng chế cao.
Chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng thuế là nguồn thu chủ yếu đảm bảo cho sự


tượng có thu nhập phải chuyển giao.
- Hai là: trong xã hội văn minh nhu cầu của các thành viên cộng đồng
về hàng hóa công cộng ngày càng tăng cao. Để duy trì hoạt động đó thì thu
nhập về hàng hóa công cộng từ những người thụ hưởng phải bù đắp đủ các
chi phí bỏ ra. Nhưng hàng hóa công cộng lại có tính chất đặc biệt, nó không
thể phân bổ theo "khẩu phần" để sử dụng và người thụ hưởng cũng không
muốn sử dụng theo "khẩu phần". Mặt khác, hàng hóa công cộng không có
tính cạnh tranh và không thể đem trao đổi trực tiếp trên thị trường để bù đắp
các chi phí. Chính vì vậy trong việc cung cấp hàng hóa công cộng đã xuất
hiện những "người ăn không", nghĩa là không ai tự nguyện trả tiền cho việc
thụ hưởng hàng hóa công cộng. Do đó, để đảm bảo cung cấp hàng hóa công
cộng, Nhà nước chỉ có thể sử dụng phương pháp thuế để buộc "người ăn
không" phải chuyển giao thu nhập từ khu vực tư sang khu vực công. Tuy
nhiên, tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa là hành động
đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi có biểu hiện
phạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của
người công dân.
Từ đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài
chính khác của NSNN như: lệ phí, công trái hoặc hình thức phạt bằng tiền.
Hình thức phạt bằng tiền cũng là hình thức bắt buộc, song việc phạt tiền chỉ
xảy ra đối với người nộp phạt khi có hành vi vi phạm luật làm phương hại đến
lợi ích nhà nước hoặc cộng đồng. Hình thức phí, lệ phí, công trái nói chung
mang tính tự nguyện và có tính chất đối giá. Tính bắt buộc của phí và lệ phí
chỉ xảy ra khi người trả phí, lệ phí thụ hưởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà
nước cung cấp.
Đặc điểm thứ hai: Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả
trực tiếp.Thuế thu được sẽ sử dụng vào các khoản chi tiêu của Nhà nước như
Lưu Quang Tuyển


giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ
nộp cho Nhà nước. Đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế và
các khoản phí, lệ phí.
+ Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước
bằng luật pháp:
Đặc điểm này một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác
Lưu Quang Tuyển

14

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

phản ánh sự chuyển giao thu nhập không mang tính chất tùy tiện mà dựa trên
những cơ sở pháp luật nhất định và đã được xác định trước trong Luật thuế;
Pháp lệnh thuế. Những tiêu thức thường được xác định trước trong các Luật
thuế, Pháp lệnh thuế là: đối tượng chịu thuế; đối tượng nộp thuế; mức thuế
phải nộp; thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác.
+ Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chịu sự ảnh
hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định:
Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thường là mức độ tăng trưởng của
nền kinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, sự
biến động của NSNN....
Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thường là thể chế chính trị
của Nhà nước, tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn
hóa, xã hội của dân tộc...

nộp thuế ít đi, họ sẽ cảm thấy không xứng đáng với công sức mình bỏ ra và
như vậy ham muốn làm việc giảm xuống, kết quả là sản xuất kinh doanh
không được khuyến khích mở rộng, số thuế thu về của Nhà nước tất yếu sẽ
giảm đi. Để đảm bảo nguồn thu này ngày càng gia tăng thì Chính phủ các
nước phải có những biện pháp thích hợp, đảm bảo hài hòa lợi ích của cả Nhà
nước và đối tượng nộp thuế. Vì vậy khi đánh thuế cần tuân thủ các nguyên tắc
như: Nguyên tắc lợi ích, nguyên tắc khả năng thanh toán, nguyên tắc công
bằng dọc và nguyên tắc công bằng ngang.
Thứ hai: thuế là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô. Nếu như trong cơ chế
kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế
xã hội bằng hệ thông các mệnh lệnh, chỉ tiêu, các kế hoạch từ trung ương đến
địa phương, thì ở cơ chế nền kinh tế thị trường Nhà nước chỉ quản lý ở tầm vĩ
mô bằng các định hướng, biện pháp nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã
hội đã đề ra. Sự điều tiết của Nhà nước thông qua thuế gồm hai mặt: khuyến
khích và hạn chế. Điều đó được thể hiện ra trong việc xây dựng cơ cấu các
loại thuế và mối quan hệ giữa chúng cũng như việc xác định thuế suất, chế độ
miễn - giảm thuế phù hợp với điều kiện thực tế. Khuyến khích đối với những
ngành nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết cho nền kinh tế quốc dân
hoặc những ngành nghề những hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ cho đại
đa số quần chúng nhân dân thì áp dụng thuế suất thấp. Hạn chế, thu hẹp những
ngành nghề không có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, cho nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân hoặc những ngành nghề ảnh hưởng đến thuần phong mỹ
Lưu Quang Tuyển

16

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Lưu Quang Tuyển

17

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

tư nhân sang sử dụng công cộng. Xét về mặt sản xuất, thuế có thể làm thay
đổi quyết định đầu tư của các hãng sản xuất kinh doanh bằng cách đầu tư vào
những mặt hàng có nhiều ưu đãi thuế suất và rút dần khỏi các mặt hàng có
mức thuế suất cao.
Thứ tư: thuế là công cụ để điều hoà thu nhập thực hiện công bằng xã
hội trong phân phối. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường,
khoảng cách giàu nghèo giữa các cá nhân trong xã hội ngày càng có xu hướng
gia tăng. Đây là một "khiếm khuyết" lớn mà nền kinh tế thị trường - bản thân
nó không tự giải quyết được. Hậu quả của vấn đề này không chỉ ảnh hưởng
đến đạo đức và công bằng xã hội mà còn tạo nên sự đối lập về quyền lợi giữa
các tầng lớp dân cư trong cộng đồng. Để giải quyết tình trạng này Nhà nước
cần có các biện pháp cụ thể mà một trong những giải pháp đó là thuế. Thông
qua thuế thu nhập, thuế thu nhập cá nhân, Chính phủ sẽ khấu trừ thu nhập của
các cá nhân theo những tỉ lệ khác nhau hoặc thông qua thuế tiêu thụ đặc biệt
đánh vào các hàng hoá mà chỉ có lớp người giàu mới tiêu thụ. Số thuế thu
được sẽ đầu tư vào các chương trình trợ giúp cho người nghèo, giảm bớt
khoảng cách giàu nghèo, tạo công bằng xã hội.
Trong thực tế, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều có sự đóng
góp của cộng đồng, của toàn xã hội. Chính vì vậy mà thành quả kinh tế đạt

nước chủ yếu thực hiện chức năng dịch vụ công cộng, nặng về mục tiêu chính
là lợi ích chung của toàn xã hội; KTNQD chủ yếu làm chức năng kinh doanh
mưu cầu lợi nhuận. Từ đó trong cơ cấu sản xuất xã hội, KTNQD được coi là
một thực thể khách quan, gồm các thành phần kinh tế được xác định tùy theo
đặc điểm kinh tế - xã hội và đường lối chính trị của mỗi Nhà nước trong từng
giai đoạn khác nhau như: kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, kinh
tế tư bản nhà nước...
Khu vực KTNQD: là khu vực kinh tế bao gồm các tổ chức, cá nhân
hoạt động kinh doanh bằng vốn của các tổ chức, của một số cá nhân góp lại;
hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường vì mục tiêu lợi nhuận. KTNQD
có nhiều đặc điểm riêng biệt, nhưng có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản sau:
+ Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do tư nhân quản lý và phân phối
lợi nhuận;
+ Có tính tư hữu cao, trình độ phổ biến thấp, cho nên hiểu biết về luật
cũng như ý thức chấp hành pháp luật chưa cao;
+ Vốn ít, số lượng cơ sở nhiều, nằm rải rác, phân tán ở tất cả các địa
phương trong cả nước;
+ Số thu hàng năm chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số thu ngân sách;
Lưu Quang Tuyển

19

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

+ Thường xuyên biến động về số lượng cơ sở, tùy thuộc vào chính

Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

bằng xã hội và tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở sản xuất kinh
doanh thuộc các thành phần kinh tế. Trên cơ sở quan niệm và tiếp cận
KTNQD từ góc độ thuế, quản lý thu thuế NQD có một số ý nghĩa chủ yếu
sau:
+ Góp phần tích cực trong việc tạo môi trường kinh tế, pháp lý và tạo
sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh; thực hiện chức năng kiểm soát,
định hướng phát triển của Nhà nước đối với khu vực KTNQD; thúc đẩy nền
kinh tế hàng hóa phát triển nhanh chóng và đúng hướng; thúc đẩy cơ sở thực
hiện hạch toán kinh doanh, huy động triệt để nguồn vốn ngày càng có hiệu
quả, sử dụng nguồn lao động, thiết bị tốt hơn, từ đó tạo bước chuyển biến mới
trên lĩnh vực tài chính.
+ Công tác thuế đã góp phần quan trọng phát huy mặt tốt của kinh tế
thị trường và hạn chế những mặt trái của nó. Đất nước ta, nhiều năm qua đã
thực hiện mô hình kinh tế thị trường, bên cạnh những ưu điểm đã bộc lộ rõ
những khuyết tật lớn, đó là phân hóa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, là điều
kiện để phát sinh tệ nạn tham nhũng, tha hóa bản chất đạo đức của con người,
do kinh doanh chạy theo lợi nhuận bất chấp cả luật pháp. Hoạt động quản lý
thu thuế đã góp phần hạn chế những mặt trên, thông qua thu thuế đã góp phần
điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, góp phần thực hiện công bằng xã
hội, định hướng cho KTNQD phát triển có lợi cho nền kinh tế quốc dân và tạo sự
cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh.
+ Quản lý thu thuế NQD còn giáo dục ý thức và trách nhiệm của công
dân trong việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Thông qua công tác tuyên

với nước ta, khi công cuộc đổi mới được triển khai từ Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI, nhiều sáng kiến cá nhân của quần chúng lao động, của nhân dân
đã và đang được phát huy cả trong lao động sản xuất cũng như trong việc tìm
tòi các hình thức kinh doanh thích hợp, năng động, từng bước đáp ứng yêu
cầu ngày càng đa dạng và phong phú của thị trường.
+ Tiềm năng về kiến thức, kinh nghiệm quản lý, nâng cao tay nghề,
đặc biệt là phát huy kiến thức, bí quyết truyền thống được tích lũy qua nhiều
đời là nguồn tiềm năng vô cùng to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế nếu được
khởi động với những chính sách, chủ trương thích hợp.
+ Nguồn vốn trong khu vực KTNQD nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ
khác đã và đang được tích lũy ngày càng lớn. ở hầu hết các nước, nguồn vốn đầu
tư từ phía Nhà nước không đáng kể (chiếm từ 13% - 30% tổng vốn
Lưu Quang Tuyển

22

đầu tư).
Khóa 2010 A


Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

+ KTNQD có tiềm năng lao động to lớn và góp phần đáng kể vào
việc giải quyết việc làm cho xã hội. ở nước ta hàng năm bình quân có thêm
khoảng 1,243 triệu người đến tuổi lao động bao gồm: lực lượng thanh niên đến
tuổi lao động, số học sinh tốt nghiệp dạy nghề, trung học, cao đẳng, đại học
hoặc những người lao động thất nghiệp do sắp xếp lại biên chế trong các cơ
quan, đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc do sắp xếp lại sản xuất trong các

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

+ Sự đa dạng của KTNQD tạo ra nguồn sản phẩm đa dạng, phong phú
đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng của xã hội ở mọi nơi, mọi thời điểm. Thực tế
nhiều năm qua ở các nước XHCN và ở Việt Nam đều cho thấy nền kinh tế
chủ yếu dựa trên Kinh tế nhà nước thì hàng hóa sẽ nghèo nàn về chủng loại,
số lượng. Ở Liên Xô cũ, sau 70 năm xây dựng CNXH với hàng ngàn doanh
nghiệp nhà nước chỉ có 10 triệu loại sản phẩm. Trong khi đó ở Nhật Bản một
nước nhỏ bé hơn nhiều về dân số và diện tích có tới 1,4 triệu doanh nghiệp
với hơn 50 triệu loại sản phẩm. Ở nhiều nước Đông Nam Á, KTNQD đang
được đánh giá là nguồn lực chủ yếu làm tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong
lĩnh vực xuất khẩu, có thể tạo thu nhập quốc dân tính theo đầu người tăng lên
rất nhanh.
Ở Việt Nam, tuy KTNQD mới được công nhận và phục hồi nhưng
trong những năm qua đã xác định được chỗ đứng xứng đáng, có vai trò quan
trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Sự đóng góp của KTNQD không chỉ dừng lại ở mặt làm tăng tổng sản
phẩm trong nước, đa dạng hàng hóa với nhiều mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý mà
còn tạo ra môi trường thuận lợi cho giải quyết việc làm, nâng cao đời sống xã
hội, cả cho người sản xuất lẫn người tiêu dùng.
Từ một số thế mạnh của KTNQD, có quan điểm muốn tư nhân hóa
một cách triệt để nhằm huy động được tối đa mọi nguồn lực, khai thác mọi
tiềm năng, lợi thế đang tiềm ẩn trong KTNQD. Thực ra, quan điểm này chưa
thấy hết được những khiếm khuyết của KTNQD. Tuy là một khu vực năng
động nhưng nếu thiếu định hướng và không bao quát hết mọi nhu cầu xã hội,
tự phát theo cơ chế thị trường, trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ
quan nhà nước thì sẽ có không ít cơ sở hoạt động vô chính phủ, kinh doanh
trái phép, buôn bán trốn lậu thuế. Điều đó càng trở nên khó khăn, phức tạp đối
với một nền kinh tế sản xuất nhỏ, phân tán, chưa quen với văn minh công
Lưu Quang Tuyển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status