Luận văn
Thực trạng và một số giải
pháp hoàn thiện công tác
quản trị vật tư tại công ty
cơ khí Z179
1
MỞ ĐẦU
Sau khi kết thúc các môn học tại trường đại học và qua hai đợt thực tập tại công
ty cơ khí Z179 thuộc Bộ Quốc Phòng, dựa vào những kiến thức đã học ở trường và
những kiến thức thực tế tại công ty, em nhận thấy rằng vấn đề quản trị vật tư là
một trong số những vấn đề nổi cộm nhất của công ty. Vì là một công ty cơ khí,
chuyên sản xuất các loại bánh răng, phụ tùng ôtô, máy nông nghiệp…nên việc sử
dụng vật tư sao cho có hiệu quả nhất luôn được ban giám đốc và các phòng ban
chức năng của công ty chú trọng đến. Thêm vào đó, hiện nay giá của các loại sắt
thép trên thị trường đang có xu hướng tăng cao nên việc thu mua, dự trữ và sử
3
NỘI DUNG
CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CƠ KHÍ Z179
I. Quá trình hình thành và phát triển
1. Lịch sử hình thành
Công ty cơ khí Z179 được chính thức thành lập ngày 11 tháng 3 năm 1972, do
quyết định của cục quản lý xe. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Bộ Quốc Phòng,
công ty không ngừng phát triển và trưởng thành. Công ty cơ khí Z179 là một công
ty sản xuất công nghiệp Quốc Phòng để góp phần xây dựng lực lượng vũ trang
nghề phục vụ lâu dài trong quốc phòng và cho sự lớn mạnh của ngành xe mai sau.
Công ty cơ khí Z179 đã phấn đấu liên tục trở thành công ty được tổng cục phân
cấp loại 2, có cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh, có các trang thiết bị tương đối hiện đại
nhằm phục vụ lâu dài cho ngành xe.
2.2. Thời kì phát triển sau khi sát nhập và những đóng góp của nhà máy
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975-1978)
Ngay từ đầu năm 1975 Tổng cục Kĩ Thuật đã chủ trương hợp nhất một số xí
nghiệp nhỏ tạm thời, bao cấp nhập thành những quy mô sản xuất lớn vào Z179.
Nhiệm vụ đặt ra ngay lúc đó là phải vận chuyển toàn bộ các trang thiết bị nhân lực
về địa điểm tập kết sao cho an toàn tuyệt đối về người và của. Song song với việc
di chuyển, công ty vừa thiết kế, vừa thi công, vừa xây dựng và lắp đặt thiết bị để đi
vào sản xuất đảm bảo kế hoạch năm.
Công ty đã hết sức cố gắng ổn định công việc và thực hiện các nhiệm vụ được
giao. Ngay sau khi sát nhập nhà máy đã được giao nhiệm vụ chính là sản xuất bánh
răng, phụ tùng gầm ôtô, ngoài ra còn tiến hành sản xuất các phụ tùng thay thế để
đáp ứng yêu cầu cấp bách cho việc sửa chữa xe phục vụ cho chiến đấu. Ngay từ
giữa năm 1975, sau khi sát nhập nhà máy đã đưa ngay vào lắp đặt dây chuyền sản
xuất bánh răng cho nên cuối năm 1975 dây chuyền sản xuất này đã đi vào ổn định.
Sản phẩm bánh răng sau này trở thành sản phẩm chính và là một trong những mặt
hàng truyền thống của công ty. Từ năm 1978 đến năm 1980, công ty đã sản xuất
5
nhiều mặt hàng đột xuất để phục vụ kịp thời cho chiến đấu như sản xuất xích xe
tăng sản xuất các công trình xa để phục vụ sửa chữa lưu động, sản xuất 2000 cần
gạt mưa, 10000 kẹp cáp, 10 triệu đạn bi, 1 triệu con dao tông, 138468 xẻng, 5966
cuốc bộ binh, 362 ghế hành quân, 60 ngàn biển số ô tô, chế tạo thử buồng nổ…
Trong thời gian này việc sản xuất ra nhiều mặt hàng phục vụ chiến đấu trở
thành phong trào thi đua sôi nổi. Mọi người coi đây là mặt trận và mỗi cá nhân là
một chiến sĩ trên mặt trận ấy. Nổi bật nhất trong giai đoạn này là thành tích đạt
được trong sản xuất của công ty. Trong những năm vừa xây dựng, vừa trưởng
thế trong việc vay vốn của các ngân hàng nhà nước và quân đội, nhưng cơ cấu vốn
của công ty thường xuyên không ổn định, tình hình sản xuất kinh doanh của công
ty còn đạt hiệu quả thấp, nhà nước thường xuyên phải bù lỗ. Một số mặt hàng của
công ty, doanh thu không bù đắp được chi phí nên không thu được lợi nhuận. Tuy
vậy, công ty vẫn tiến hành sản xuất, nhằm tạo công ăn việc làm và ổn định đời
sống cho cán bộ công nhân viên trong toàn bộ doanh nghiệp. Chủ yếu các hoạt
động sản xuất của công ty đều tập trung vào sản xuất sản phẩm truyền thống của
công ty là sản phẩm bánh răng côn xoắn. Sản phẩm này luôn mang lại cho công ty
những cơ hội làm ăn lớn và những thành tích sản xuất đáng tự hào. Hàng năm,
ngoài sản xuất các mặt hàng kinh tế cho các thị trường công, nông, lâm, ngư
nghiệp, công ty còn phải sản xuất một số mặt hàng Quốc Phòng, do Bộ giao. Khi
đó, tất cả mọi hoạt động của công ty đều phải tập trung vào việc sản xuất đủ số
lượng và chất lượng sản phẩm được giao. Đó vừa là một lợi thế, vừa là một bất lợi
của một doanh nghiệp nhà nước. Những hoạt động sản xuất như vậy, điều mà công
ty quan tâm không phải là lợi nhuận hay doanh thu mà là thành tích đạt được: sản
phẩm có đủ về số lượng hay không, có kịp tiến độ bàn giao hay không, có được
đảm bảo về chất lượng hay không.
Cũng như các doanh nghiệp nhà nước khác, công ty cơ khí Z179 luôn tìm cho
mình một hướng đi mới nhằm thoát khỏi những áp đặt sẵn có từ trước đến nay,
7
giúp doanh nghiệp phát huy hết khả năng của mình trong hoạt động sản xuất kinh
doanh và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
*Loại hình sản xuất kinh doanh
Công ty cơ khí Z179 là một doanh nghiệp sản xuất, chuyên sản xuất các mặt
hàng cơ khí cho Quốc Phòng và Kinh Tế.
Trong lĩnh vực hàng Quốc Phòng, công ty có nhiệm vụ sản xuất đủ số lượng và
đảm bảo về chất lượng sản phẩm được giao. Hàng năm, Bộ Quốc Phòng giao cho
công ty sản xuất một số mặt hàng phục vụ cho vấn đề an ninh quốc phòng. Công ty
nghiên cứu và đề ra kế hoạch sản xuất sao cho kịp tiến độ được giao. Nguồn
lô cán ren, cán thép.
- Các loại bánh xe làm việc trong môi trường ăn mòn.
Trong đó mặt hàng truyền thống của công ty là bánh răng côn xoắn có nhiều ưu
thế trên thị trường sản phẩm cơ khí. Công ty gần như không có đối thủ cạnh tranh
trong lĩnh vực này. Hiện nay tuy đã có một số nơi sản xuất bánh răng côn xoắn
nhưng chất lượng không cao, không đảm bảo các quy trình kĩ thuật nên sản phẩm
của công ty vẫn tiêu thụ được với khối lượng lớn. (Xem bảng số liệu về sự biến
động sản phẩm của công ty trong 5 năm gần đây).
Số lượng sản phẩm sản xuất ra của công ty hàng năm phụ thuộc chủ yếu vào chỉ
tiêu của Bộ giao và số hợp đồng đặt hàng của khách hàng. Do công ty chỉ sản xuất
sản phẩm theo đơn đặt hàng nên số lượng sản xuất sản phẩm hàng năm không ổn
định và có sự biến động lớn qua các năm. Một số mặt hàng có năm không sản xuất
nhưng có năm lại sản xuất với số lượng sản phẩm rất lớn. Điều đó phụ thuộc rất
nhiều vào tình hình kinh tế xã hội trong từng năm. Như nhóm sản phẩm phụ tùng
xe máy, hai năm 1998 và 1999 công ty không có hợp đồng nên không sản xuất một
sản phẩm nào, nhưng đến những năm 2000 đến 2002, công ty đã sản xuất với số
lượng rất lớn. Đó là do trong ba năm gần đây, ở Việt Nam, “cơn sốt” xe máy với
phụ tùng nội địa hoá đã làm cho ngày càng nhiều doanh nghiệp trong nước sản
xuất những sản phẩm này. Nhưng có thể thấy, mặt hàng bánh răng côn xoắn của
công ty hàng năm được sản xuất với khối lượng tương đối ổn định, năm nào công
ty cũng có hợp đồng để tiến hành sản xuất. Ngoài sản phẩm bánh răng côn xoắn
9
sản xuất phục vụ cho lĩnh vực kinh tế, hàng năm công ty phải sản xuất một khối
lượng hàng nhất định phục vụ cho lĩnh vực an ninh quốc phòng. Năm nào công ty
cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sản xuất sản phẩm truyền thống đặc chủng này
của mình. Điều đó góp phần rất lớn vào việc ổn định tình hình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp trong những năm qua, tạo công ăn việc làm cho toàn thể cán bộ
công nhân viên trong công ty.
Bảng số liệu về sự biến động sản phẩm từ năm 1999 đến năm 2003
100
42
30
40
38
3 Côn xoắn khác Bộ
10
116
55
75
112
II NPK đường
dây
Cái
110000
91974
V PT băng tải Con
19000
12300
-
-
8900
VI PT ô tô máyxúc
Cái
2150
2075
2440
2684
19879
VII PT xe máy Cái
-
Bánh răng côn xoắn được coi là mặt hàng truyền thống của công ty và không có
đối thủ cạnh tranh. Do đặc thù của việc sản xuất bánh răng côn xoắn là đòi hỏi chất
lượng nguyên vật liệu, cụ thể là thép, cao, không pha chế nhiều mà nguồn cung
ứng nguyên vật liệu trên thị trường tự do là rất hạn chế (nếu có thì chất lượng thép
không cao, không phù hợp với yêu cầu của việc chế tạo bánh răng côn xoắn) nên
doanh nghiệp chiếm nhiều ưu thế trong việc sản xuất và phân phối sản phẩm này
trên thị trường toàn miền Bắc. Nguồn nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm truyền
thống của công ty chủ yếu là do Bộ Quốc Phòng cung cấp với số lượng lớn và do
công ty luôn luôn chú trọng đến việc đảm bảo khối lượng vật tư dự trữ, bảo hiểm
cho sản xuất nên công ty luôn đáp ứng được các đơn đặt hàng cũng như yêu cầu
cấp bách của khách hàng. Tuy sản phẩm bánh răng côn xoắn vẫn là một mặt hàng
“đặc chủng” của công ty nhưng hiện nay trên thị trường đã xuất hiện sản phẩm
bánh răng côn xoắn nhập ngoại có chất lượng tương đương mà giá thành lại thấp
hơn rất nhiều nên công ty đã gặp phải một số khó khăn. Nhưng do sự hỗ trợ của Bộ
Quốc Phòng và các chính sách “nội địa hoá” của nhà nước, công ty vẫn tiếp tục
đứng vững và phát triển được mặt hàng truyền thống của mình.
Ngoài ra, các sản phẩm khác của công ty cũng có mặt trên thị trường công
nghiệp trong cả nước như các mặt hàng nông nghiệp, các loại phụ tùng xe máy,
nhông xích. Tuy nhiên, sản phẩm nhóm này của công ty lại bị cạnh tranh gay gắt
trên thị trường trong nước, bởi một số công ty chuyên ngành khác. Các sản phẩm
này thường là sản xuất nhỏ lẻ và không ổn định, khi thì sản xuất với số lượng lớn,
11
khi thì không có hợp đồng để tiến hành sản xuất. Tuy vậy, các mặt hàng này cũng
góp phần làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty diễn ra liên tục và ổn
định hơn. Nguồn cung cấp vật tư để sản xuất các sản phẩm thuộc nhóm này, doanh
nghiệp chủ yếu mua trên thị trường của các doanh nghiệp chuyên cung cấp vật tư
khác nên nhìn chung là việc đảm bảo nguyên vật liệu để sản xuất không gặp nhiều
khó khăn.
4. Máy móc thiết bị
Đánh giá một cách khách quan thì hiện nay, trình độ máy móc công nghệ kĩ
Máy khác 4 3 5 5 67
Tổng số máy móc hiện có trong toàn công ty 210
Qua bảng theo dõi trên, ta thấy hiệu suất sử dụng của các máy móc thiết bị của
công ty còn rất thấp.
Máy móc thiết bị không sử dụng quá nhiều, loại máy nào số lượng lớn thì bỏ
không lại càng nhiều. Công ty nên có kế hoạch sử dụng máy móc thiết bị hợp lý
hơn để từ đó có thể tiết kiệm được nguồn nguyên nhiên vật liệu vận hành máy
móc. Những loại máy nào còn nhiều mà không sử dụng hết, công ty có thể thanh lý
hoặc bán để có vốn đầu tư mua những máy móc thiết bị hiện đại hơn.
Tuy trình độ máy móc, công nghệ lạc hậu nhưng do trình độ lành nghề của
công nhân và cán bộ trong công ty nên quá trình sản xuất sản phẩm vẫn diễn ra liên
tục. Các dây chuyền sản xuất vẫn đạt kết quả cao. Tuy nhiên, nếu được đầu tư
đúng chỗ, năng suất lao động bình quân nhà máy sẽ đạt kết quả tốt hơn. Trong thời
gian tới, công ty có kế hoạch đầu tư 7 tỉ đồng vào việc mua sắm một số loại máy
móc thiết bị mới, hiện đại. Điều đó sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu
quả sản xuất của công ty.
5. Doanh thu, lợi nhuận
Trong thời gian khoảng 5 năm gần đây, công ty cơ khí Z179 đã tránh được tình
trạng sản xuất trì trệ, không hoàn thành kế hoạch sản xuất đã đề ra. Ban giám đốc
phối hợp chặt chẽ với các phòng ban, phân xưởng điều hành sản xuất trực tiếp nên
trong 5 năm gần đây nhất, nhà máy đã đạt được những thành quả nhất định. Riêng
nhiệm kì 2001 - 2003, Đảng bộ công ty lãnh đạo đã chấm dứt những năm không
13
hoàn thành nhiệm vụ, phấn đấu đạt được một số kết quả nhất định trong sản xuất
kinh doanh, giá trị tăng trưởng bình quân đạt từ 15 - 20%/năm, đảm bảo công ăn
việc làm và thu nhập ổn định cho cán bộ công nhân viên chức trong toàn công ty,
vẫn giữ được năng lực sản xuất hàng Quốc Phòng để lúc yêu cầu là đáp ứng được
ngay. Bảng số liệu dưới đây sẽ giúp ta thấy được rõ hơn tình hình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp trong những năm qua.
715425
981230
2 Côn xoắn xe TY7E 454500
210000
151134
1652245
2084431
3 BR côn xoắn khác 590900
337626
82536
90759
95711
II N.phụ kiện đườngdây 1043171
833834
117508
330349
338712
VI Phụ tùng xe máy 526330
410835
768021
844832
648832
14
VII Hàng cột vi ba 998175
1738124
632009
695210
732110
VIII Giá trị các hàng khác 1226787
554072
500612
29,37%) và cho đến năm 2002, lợi nhuận của doanh nghiệp đã đạt 91443000 đồng,
tăng hơn năm 1999 là 43,41%, tăng hơn so với năm 2001 là 10%. Trong năm
2003, lợi nhuận của công ty đã đạt hơn 110 triệu đồng, tăng vượt bậc so với những
năm trước. Đó là nhờ doanh nghiệp đã cân đối được giữa các khoản thu và chi, có
nhiều tiến bộ trong lĩnh vực quản trị sản xuất, làm giảm giá thành sản phẩm mà
vẫn giữ được chất lượng tốt.
Bảng lợi nhuận của công ty cơ khí Z179 trong 5 năm gần đây (1999 –
2003)
Đơn vị: 1000 đồng
TT Tên sản phẩm 1999 2000 2001 2002 2003
A KD trong SXCN
I Nhóm BR côn xoắn 125172
93458
54790
60269
72103
1 Côn xoắn benla 46029
54620
30348
33383
51388
III Phụ tùng máy cày -5580
10546
1747
1922
4842
IV Phụ tùng băng tải 30814
21076
36711
40382
41283
V PT ôtô, máy xúc 42033
23122
12148
13363
15830
33412
B KD ngoài SXCN 9090
-
15000
16500
15998
Tổng cộng 60727
-
83130
91443
1101576. Đánh giá chung
6.1. Những kết quả đạt được
Qua những phần đã nêu ở trên, ta thấy rằng công ty cơ khí Z179 trong 5 năm
gần đây đã có những bước tiến đáng kể. Kết quả sản xuất kinh doanh đã đạt được
một số thành công nhất định, chấm dứt tình trạng nhiều năm không hoàn thành
nhiệm vụ, làm ăn không có hiệu quả, Bộ và nhà nước luôn phải “bù lỗ”. Trong 4
tháng đầu năm 2004, công ty đã đạt doanh thu trên 7 tỉ đồng (cụ thể là 7498104000
cho sản xuất và phát triển còn ít, chưa đáp ứng đủ yêu cầu của việc sản xuất kinh
doanh. Nguồn vốn tự có của công ty lại quá eo hẹp, không đủ khả năng để cải thiện
điều kiện sản xuất tốt hơn.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VẬT
TƯ TẠI CÔNG TY CƠ KHÍ Z179
I. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác quản trị vật tư của công ty
1. Hình thức pháp lý và loại hình sản xuất kinh doanh
Là một doanh nghiệp sản xuất nên các vấn đề liên quan đến việc mua sắm, dự
trữ và sử dụng vật tư sao cho có hiệu quả nhất luôn được công ty cơ khí Z179 chú
trọng đến. Ban giám đốc cùng phối hợp với phòng kĩ thuật, phòng kế hoạch vật tư
thông qua kế hoạch sản xuất trong kì để xác định nhu cầu vật tư cần thiết. Hàng
năm, ngoài kế hoạch sản xuất các mặt hàng kinh tế cho các thị trường công, nông,
lâm, ngư nghiệp theo hợp đồng của khách hàng, công ty phải sản xuất một số mặt
17
hàng Quốc Phòng theo chỉ tiêu do Bộ đề ra. Trong lĩnh vực hàng Quốc Phòng,
công ty có nhiệm vụ sản xuất đủ số lượng và đảm bảo về chất lượng sản phẩm
được giao. Công ty nghiên cứu và đề ra kế hoạch sản xuất sao cho kịp tiến độ được
giao. Nguồn nguyên vật liệu để sản xuất các mặt hàng này được cấp trên cấp
xuống nên rất thuận lợi cho việc sản xuất đúng tiến độ đề ra. Đây cũng chính là
một thế mạnh của công ty. Vật tư dùng để sản xuất các mặt hàng Quốc Phòng hầu
như không có bán trên thị trường nên công ty rất có ưu thế trong việc sản xuất các
mặt hàng này.
Do đặc điểm sản xuất sản phẩm của công ty là chuyên sản xuất các mặt hàng cơ
khí phục vụ cho Quốc Phòng và Kinh Tế bao gồm các loại: phụ tùng ôtô, xe máy,
các cơ cấu truyền động, hộp số các loại, phụ kiện đường dây, các loại dụng cụ cắt
gọt…nên hầu hết vật tư dùng để sản xuất sản phẩm như các loại thép, đồng, gang,
các loại que hàn, than, vòng bi, dụng cụ đo, dụng cụ cắt… có thể dễ dàng mua trên
thị trường. Tuy nhiên có một số sản phẩm Quốc Phòng lại phải sử dụng những loại
*Chức năng của các phòng ban trong bộ máy quản trị
-Phòng kế hoạch-vật tư: có nhiệm vụ nghiên cứu tình hình sản xuất thực tế
năm trước do phòng kế toán gửi xuống rồi thông qua đó lập kế hoạch sản xuất từng
kì (tháng, quý, năm). Ngoài ra, phòng kế hoạch còn phải thực hiện các việc liên
quan đến vấn đề kí kết hợp đồng kinh tế với các đơn vị khác như: marketing,
quảng cáo sản phẩm, đưa các kế hoạch tham dự các hội chợ. Phòng kế hoạch phải
tạo mối liên hệ chặt chẽ với khách hàng, sẵn sàng cung ứng đủ số lượng sản phẩm
cần thiết cho khách hàng. Ngoài việc phải lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm, phòng kế hoạch-vật tư còn phải tổ chức sản xuất, đảm bảo cung ứng nguồn
vật tư cần thiết cho sản xuất, sửa chữa. Phải tính toán chi tiết lượng vật tư dự trữ,
Giám đốc
PGĐ Kỹ thuật SX PGĐ Kinh doanh PGĐ Hành chính
P. Kỹ
thuật
P. Cơ
điện
P.
KCS
P. KH
vật tư
P. TC-
Kế
bị của doanh nghiệp. Xây dựng định mức vật tư cho từng loại sản phẩm sản xuất
trong kì. Tham mưu cho lãnh đạo đơn vị về phương hướng duy trì, đẩy mạnh, phát
triển công tác khoa học quản lý công nghệ, phục vụ cho mục tiêu sản xuất kinh
doanh của đơn vị ngày càng tốt hơn. Xây dựng đội ngũ về chuyên môn, nghiệp vụ
phục vụ lâu dài cho công tác đảm bảo kĩ thuật.
-Phòng cơ điện: Quản lý kĩ thuật thiết bị năng lượng. Phải đảm bảo mọi quy
định đối với việc quản lý, sửa chữa máy móc thiết bị, năng lượng đảm bảo cho sản
xuất: nước, điện. Ngăn ngừa, hạn chế các hư hỏng bất thường,khai thác tối đa công
suất thiết kế của thiết bị và hệ thống năng lượng. Tìm mọi biện pháp để cải tiến,
hiện đại hoá và đổi mới thiết bị nhằm tạo nên chất lượng sản phẩm và năng suất
cao hơn.
20
-Phòng KCS: Có nhiệm vụ quản lý chất lượng sản phẩm, quản lý máy móc
thiết bị dụng cụ đo lường, đề xuất với giám đốc các biện pháp sử dụng sao cho hợp
lý và có hiệu quả. Đảm bảo kĩ thuật và phương pháp đo cho mọi người sử dụng
phương tiện dụng cụ đo trong xí nghiệp. Cùng với cán bộ của phòng kĩ thuật tìm ra
các nguyên nhân sai hỏng hàng loạt.
-Phòng hành chính: bao gồm một số phòng ban như văn thư, ytế, tổ bảo vệ,
nhà trẻ, nhà ăn nhằm đảm bảo đời sống tinh thần và thể lực cho công nhân viên
toàn nhà máy. Ngoài ra, tổ bảo vệ còn có nhiệm vụ giữ cho tình hình an ninh sản
xuất của nhà máy được ổn định, tránh thất thoát tài sản.
-Phòng chính trị: có nhiệm vụ nghiên cứu các nghị quyết của Đảng và cấp trên
đề ra. Thông qua các biên bản, nghị quyết đó, tiến hành các hoạt động nhằm hướng
dẫn và giáo dục toàn bộ cán bộ công nhân viên trong công ty thực hiện đúng đắn
những đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Tổ chức các buổi nói chuyện,
sinh hoạt tập thể nhằm tìm ra các định hướng đúng đắn cho công ty trong thời gian
tới sao cho phù hợp với đường lối chính sách đã đưa ra.
Nhìn chung, mỗi phòng ban trong công ty đều có những chức năng và nhiệm vụ
cụ thể. Mỗi phòng ban đều tập trung thực hiện những nhiệm vụ chính của mình và
kết hợp với các phòng ban chức năng khác thực hiện các kế hoạch chung của toàn
ứng được các yêu cầu về chất lượng cũng như kĩ thuật của sản phẩm. Công nhân
có thể thích nghi được với điều kiện làm việc liên tục, căng thẳng nhằm đạt đúng
tiến độ đã đề ra. Với số công nhân trực tiếp sản xuất có tay nghề cao, công ty có
thể thay đổi cơ cấu công nhân trực tiếp sản xuất cho phù hợp với tình hình chung
sao cho sản xuất đạt hiệu quả cao nhất. Tính đến ngày 19/4/2004 bậc thợ bình quân
của công ty là 5,28.
Trình độ công nhân sản xuất tính đến ngày 19/4/2004
Bậc thợ 3/7
4/7
5/7
6/7
7/7
Bậc thợ bình quân
Số lượng
39
4 22 40
47
5,28
22
Với số lượng công nhân có trình độ tay nghề cao chiếm tỉ lệ lớn như vậy, công
xuất kinh doanh trong toàn công ty, ban lãnh đạo công ty còn hết sức chú ý đến đời
sống vật chất cũng như tinh thần của CBCNV. Về vấn đề thu nhập của người lao
động, hiện nay công ty cũng đang hết sức cố gắng thực hiện các biện pháp nhằm
đảm bảo lợi ích cho toàn thể cán bộ công nhân viên cho toàn doanh nghiệp. Mức
lương hiện nay của CNVC cũng đã tăng đáng kể so với những năm 1998 - 1999.
Đối với công nhân, công ty trả lương sản phẩm hoặc lương định mức hoặc lương
khoán, lương khoán có thưởng. Đối với gián tiếp, công ty trả lương thời gian.
Ngoài ra, cán bộ viên chức trong nhà máy ngoài tiền lương theo thời gian thực tế
làm việc còn được hưởng lương phụ cấp công chức. Chính vì những vấn đề về
quản trị nguồn nhân lực luôn luôn được công ty quan tâm, chú ý nên đời sống vật
chất của người lao động trong công ty ngày càng được nâng cao. Nếu như năm
1998, tiền lương bình quân của cả công ty chỉ đạt 558000 đồng thì đến năm 2002,
con số này đã lên đến hơn 850000 đồng và những tháng đầu năm 2004 là
1.020.000 đồng. Tuy so với cuộc sống hiện nay, mức lương này là không cao như-
ng trong tình hình nhà máy còn khó khăn như hiện nay, đó đã là một nguồn động
viên lớn cho toàn thể cán bộ công nhân viên chức công ty. Công ty còn thường
xuyên tổ chức các phong trào thi đua nhằm tăng năng suất lao động cũng như tiết
kiệm nguyên, nhiên vật liệu sử dụng trong quá trình sản xuất.
Tóm lại, đội ngũ lao động trong công ty có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản
trị vật tư. Công ty cần quan tâm động viên và đầu tư nhiều hơn nữa đến người lao
động.
4. Kĩ thuật – công nghệ
Trình độ máy móc thiết bị kĩ thuật là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến
lượng tiêu dùng vật tư trong sản xuất. Máy móc thiết bị hiện đại, năng suất cao
cộng với trình độ lành nghề của người lao động sẽ dẫn đến việc sử dụng vật tư tiết
kiệm và có hiệu quả. Ngược lại, với trình độ máy móc thiết bị kĩ thuật quá lạc hậu
thì sự lãng phí vật tư trong quá trình sản xuất là điều không thể tránh khỏi. Đánh
giá một cách khách quan thì hiện nay, trình độ máy móc công nghệ kĩ thuật của
24
công ty cơ khí Z179 còn lạc hậu, chủ yếu nhập vào những năm 70 của Liên Xô.