TRƯỜNG..........................
KHOA…………………… BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Thực trạng và một số giải
pháp hoàn thiện hoạt động
nhập khẩu ở Công ty XNK
và kỹ thuật bao bì
Trang 1
LỜI NÓI ĐẦU
Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra với tốc độ ngày càng
nhanh và sâu sắc. Đó là xu thế tất yếu khách quan và là một quy luật mà mọi
quốc gia trong khu vực và trên thế giới đều phải tuân theo. Biểu hiện rõ nét nhất
của xu thế này là quá trình tự do hoá buôn bán trong khu vực và phạm vi toàn
cầu.
Thực hiện đường lối chuyển đổi nền kinh tế của đất nước hội nhập với nền
kinh tế thế giới. Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương không ngừng mở rộng quan
hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt là trong lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế. Trong
đó,Thương mại quốc tế là lĩnh vực quan trọng để Việt Nam dần có chỗ đứng
nhập khẩu của Công ty PACKEXPORT.
Kết cấu của bài luận văn gồm 3 phần:
Phần thứ nhất: Hoàn thiện hoạt động Nhập khẩu là yêu cầu bức thiết ở các
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Phần thứ hai: Phân tích thực trạng hoạt động Nhập khẩu của Công ty Xuất
nhập khẩu và Kỹ thuật Bao bì.
Phần thứ ba: Những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động Nhập khẩu đối
với Công ty Xuất nhập khẩu và Kỹ thuật Bao bì
Trang 3
Phần thứ nhất :
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU LÀ YÊU CẦU BỨC
THIẾT Ở CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG.
I. Lý luận chung về hoạt động nhập khẩu.
1. Khái niệm.
Lịch sử phát triển nền kinh tế thế giới đã chỉ ra rằng không một quốc gia nào
có thể duy trì được nền kinh tế tự túc khép kín. Bởi để duy trì nó thì phải bỏ ra rất
nhiều nguồn lực song hiệu quả lại không cao. Trong khi đó yếu tố nguồn lực thì
có hạn, đối lập hẳn với thực tế nhu cầu của con người là vô hạn và rất đa dạng.
Lý thuyết về thương mại quốc tế giúp chúng ta nhận thấy các quốc gia đều có lợi
khi tham gia vào thương mại quốc tế và lợi ích rõ nhất mà chúng ta có thể dễ
dàng nhận thấy được từ thương mại quốc tế mà nó có thể bù đắp và bù đắp một
cách hiệu quả những nhu cầu của con người ta về một loaị hàng hoá nào đó mà
nội địa chưa hoặc không có khả năng đáp ứng được.
Với ý nghĩa ấy, Nhập khẩu được hiểu là hoạt động mua hàng hoá của các
doanh nghiệp trong nước từ nước ngoài nhằm mục tiêu thoả mãn nhu cầu tiêu
dùng cũng như sản xuất trong nước và là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng giữa
các quốc gia. Nhập khẩu là một trong những hoạt động cốt lõi của thương mại
tế. Không chỉ tạo thêm hàng tiêu dùng trong nước, nhập khẩu còn tạo nên nguồn
nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất trong nước, tạo ra chuyển giao công nghệ.
Nhờ đó nó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tiết kiệm
được chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển kinh tế xã hội,
Trang 5
tiết kiệm đựơc chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển kinh
tế xã hội, góp phần xoá bỏ tình trạng độc quyền trong nước.
Thứ ba, với những sản phẩm nhập ngoại có tính cạnh tranh cao, nhập khẩu
làm tăng sức cạnh tranh trên thị trường, tạo ra năng lực mới trong sản xuất. Các
doanh nghiệp nội địa phải chịu một sức cạnh tranh lớn, để tồn tại họ buộc phải
năng động hơn, vươn lên chiến thắng trong cạnh tranh. Qua đó, hiệu quả sản xuất
trong nước được nâng cao, hàng hoá nội địa trở nên có tính cạnh tranh hơn,
người lao động có nhiều cơ hội tìm việc làm hơn góp phần nâng cao đời sống
kinh tế - xã hội.
Thứ tư, kết hợp với xuất khẩu, nhập khẩu tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa
sản xuất và tiêu dùng trong nước và nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho phân
công lao động quốc tế phát triển. Điều đó có ý nghĩa to lớn trong bối cảnh quốc tế
hoá diễn ra mạnh mẽ ngày nay. Nó mở rộng quan hệ hợp tác giữa các nền kinh
tế,.v.v.
Đất nước từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế đã có thêm sức mạnh
mới, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp với nhiều nhược điểm từng bước được
thay thế bằng tính năng động, tự chủ của cơ chế thị trường. Ngoại thương của
Việt Nam không còn chỉ bó hẹp trong phạm vi nội khối xã hội - chủ nghĩa qua
các khoản viện trợ hoặc qua các nghị định thư mà được mở rộng ra trên phạm vi
toàn cầu. Chính sách phát triển kinh tế, thương mại Việt Nam từng bước được
điều chỉnh cho phù hợp với xu thế chung của thời đại, hội nhập mạnh mẽ vào nền
kinh tế thế giới. Vai trò của nhập khẩu ngày trở nên rõ rệt: Không chỉ là nhân tố
giúp Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới mà còn là
nhân tố làm thay đổi diện mạo của các doanh nghiệp Việt Nam. Để tiếp tục phát
huy vai trò của hoạt động nhập khẩu, Nhà nước ta xác định: Trong hoạt động
khẩu chứ không được tính doanh số, doanh thu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp
phải lập hai hợp đồng:
1. Hợp đồng mua bán hàng hoá với người nước ngoài.
2. Hợp đồng uỷ thác với bên uỷ thác.
b/ Nhập khẩu tự doanh (Nhập khẩu trực tiếp).
Đây là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp nhập khẩu trực
tiếp. Khi tiến hành nhập khẩu theo phương thức này, doanh nghiệp cần phải tiến
hành nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, tính toán đầy đủ chi phí, đảm
bảo kinh doanh nhập khẩu có lãi, đúng chính sách luật pháp quốc gia cũng như
quốc tế.
Đặc điểm:
- Do phải đứng ra tiến hành các khâu nên doanh nghiệp phải chịu mọi rủi
ro, tổn thất cũng như lợi nhuận thu được. Vì vậy, để có hiệu quả cao đòi hỏi
doanh nghiệp phải thận trọng trong từng bước từ việc nghiên cứu thị trường cho
đến khi bán hàng và thu tiền.
- Ở phương thức này, doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng với đối tác
nước ngoài, còn các hợp đồng liên quan đến khâu tiêu thụ thì có thể lập sau.
c/ Nhập khẩu liên doanh.
Nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết
một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp
nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra các chủ
trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này
phát triển theo hướng có lợi cho các bên tham gia, lãi cùng hưởng rủi ro cùng
gánh chịu.
Đặc điểm:
Trang 8
- Các bên tham gia chỉ phải góp một phần vốn nhất định và tỷ lệ phân chia
lãi lỗ phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp giữa các bên.
- Theo phương thức này, doanh nghiệp đứng ra nhập hàng sẽ được kim
hữu hàng hoá có giá trị tương đương.
e/ Nhập khẩu tái xuất.
Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu hàng hoá song không phải để
tiêu thụ ở nội địa mà để xuất sang nước thứ ba nào đó nhằm thu lợi nhuận.
Những hàng nhập khẩu này không được qua chế biến ở nước tái xuất. Như vậy,
phương thức nhập khẩu này được thực hiện thông qua 3 nước: nước xuất khẩu,
nước nhập khẩu, nước tái xuất.
Đặc điểm:
- Doanh nghiệp nhập khẩu ở nước tái xuất phải tính toán chi phí, ghép mỗi
bạn hàng xuất và bạn hàng nhập khẩu, bảo đảm sao cho có thể thu được số tiền
lớn hơn tổng chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động.
- Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính kim ngạch cả xuất và
nhập khẩu. Doanh số bán trên trị giá hàng xuất khẩu đối với các mặt hàng kinh
doanh.
- Doanh nghiệp tái xuất lập hai bản hợp đồng:
1. Hợp đồng xuất khẩu
2. Hợp đồng nhập khẩu và không chịu thuế xuất nhập khẩu đối với
các mặt hàng kinh doanh.
- Để đảm bảo thanh toán, hợp đồng tái xuất thường sử dụng thư tín dụng
giáp lưng.
- Hàng hoá không nhất thiết phải qua nước tái xuất mà có thể nhập thẳng
về nước thứ ba (các hoạt động giao dịch thì vẫn liên quan đến nước tái xuất).
Trang 10
Doanh nghiệp tái xuất còn có thể có được những khoản lợi do được thanh toán
tiền hàng song lại có thể trả chậm cho bên xuất khẩu.
Với nhiều phương thức nhập khẩu như vậy, các doanh nghiệp cần thiết phải
tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng môi trường kinh doanh để từ đó ứng dụng các
phương thức này một cách linh hoạt với thị trường này, với bạn hàng này, ta có
thể dùng phương thức này là có lợi hơn, song với thị trường, với bạn hàng khác
và vào một thời điểm khác thì phương thức ấy chưa chắc đã có lợi bằng các
trước, vào giá của lô hàng trước, tính đến những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để tăng
hay giảm giá thành nhập khẩu khi giao dịch.
2. Lựa chọn phương thức giao dịch nhập khẩu.
a/ Giao dịch thông thường.
Là phương thức giao dịch được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc, người bán và
người mua trực tiếp quan hệ bằng cách gặp gỡ trực tiếp hoặc qua thư từ để bàn
bạc và thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch. Những nội dung của lần
giao dịch này được thực hiện một cách tự nguyện, không có sự ràng buộc với lần
giao dịch trước, việc mua không nhất thiết phải gắn với việc bán.
b/ Giao dịch qua trung gian.
Trong hình thức giao dịch này có người thứ ba làm trung gian giữa người bán
và người mua. Các trung gian phổ biến trên thị trường là đại lý và môi giới.
Đại lý là tự nhiên nhân hoặc pháp nhân tiến hành một hay nhiều hành vi theo
sự uỷ thác. Quan hệ giữa người uỷ thác và đại lý là hợp đồng đại lý.
Môi giới là thương nhân trung gian giữa người mua và người bán nhận sự uỷ
thác của họ. Những người môi giới khi thực hiện nghiệp vụ không đứng tên
mình, không chiếm hữu hàng hoá và không chịu trách nhiệm pháp nhân trước
Trang 12
người uỷ thác về việc khách hàng có thực hiện hợp đồng hay không. Quan hệ
giữa người uỷ thác và người môi giới dựa trên sự uỷ thác từng lần chứ không dựa
vào hợp đồng dài hạn,
Sử dụng đại lý, người môi giới có nhiều thuận lợi hơn do họ có nhiều hiểu biết
về thị trường, luật pháp, tập quán của địa phương, và ta cũng có tận dụng được
những cơ sở vật chất của họ,... song nó có nhược điểm là ta không có sự liên hệ
trực tiếp với khách hàng, với thị trường, và lợi nhuận bị chia sẻ.
c/ Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá.
Sở giao dịch hàng hoá là một thị trường đặc biệt tại đó thông qua những
người môi giới do sở giao dịch chỉ định, người ta mua bán các loại hàng hoá có
khối lượng lớn, có tính chất đồng loạt, có phẩm chất có thể thay thế được nhau.
bên bán.
b/ Những điều khoản cơ bản của một hợp đồng ngoại thương.
Về nội dung của hợp đồng theo nguyên tắc tự do ký hợp đồng hai bên được
tuỳ ý quyết định những nghĩa vụ của họ sao cho phù hợp với quyền lợi của cả hai
bên. Tuy nhiên, việc ký kết hợp đồng kinh tế ngoại thương thường khó khăn hơp
hợp đồng trong nước do các chủ thể hợp đồng thường không có sự tương đồng về
văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán,...Do vậy, để tránh sự tranh chấp có thể
xảy ra, để đảm bảo sự thi hành hợp đồng được suôn sẻ, nội dung hợp đồng xuất
nhập khẩu cần có một số điều căn bản, ngoài ra hai bên có thể ghi thêm các điều
khoản khác mà họ thấy cần thiết.
Một số điều khoản căn bản trong hợp đồng kinh tế ngoại thương.
- Điều khoản về đối tượng hợp đồng:
Trang 14
+ Điều khoản tên hàng: Cần ghi tên thông dụng, tên thương mại và tên khoa
học (nếu có).
+ Điều khoản chất lượng: Hợp đồng cần ghi rõ tiêu chuẩn quy định phẩm
chất của hàng hoá. Có thể căn cứ vào mẫu hàng, vào các tài liệu kỹ thuật, nhãn
hiệu hàng hoá, hay căn cứ vào một tiêu chuẩn được tập quán thương mại quốc tế
công nhận.
+ Điều khoản số lượng: Hợp đồng phải ghi rõ đơn vị đo lường đươc hai bên
lựa chọn, quy định cụ thể số lượng hàng giao dịch. Nếu số lượng quy định phỏng
chừng phải dự liệu một số có thể chấp nhận được.
+ Điều khoản trọng lượng của hàng hoá: Có thể tính theo trọng lượng cả bì
hay không có bì. Người ta tính theo trọng lượng thương mại tức là trọng lượng
của hàng hoá có độ ẩm tiêu chuẩn.
- Điều khoản về giá cả hàng hoá:
Điều khoản về giá cả hàng hoá trong buôn bán ngoại thương là điều kiện cơ
bản, điều kiện giá cả bao gồm: Đồng tiền tính giá, mức giá, phương pháp quy
định và giảm giá.
40%. Giảm giá như vậy thường gặp ở các hợp đồng mua bán thiết bị, nhất là loại
máy có tiêu chuẩn, giảm giá so với giá tham khảo về hàng nguyên liệu công
nghiệp giảm trung bình 2- 5%. Mặt khác giảm giá đơn cũng thường gặp khi trả
tiền mặt vì thường bán hàng theo tín dụng ngắn hạn, nhưng người mua trả tiền
mặt nên được giảm giá 2- 3% giá tham khảo nghĩa là tương ứng với phần trăm
vay lãi.
* Giảm giá đoạt doanh số: Giảm giá cho người mua trái vụ để khuyến khích
mua hàng lúc khó tiêu thụ.
Trang 16
* Giảm giá kép: Giảm giá khi mua hàng với số lượng lớn với mức tăng dần
theo số lượng mua.
- Điều khoản giao hàng.
Nội dung cơ bản là xác định thời hạn, thời điểm, phương thức và việc thông
báo giao hàng.
+ Trong hợp đồng cần ghi rõ thời hạn giao hàng: Giao hàng không đúng thời
hạn quy định có thể gây thiệt hại lớn và chịu trách nhiệm, có thể phải trả tiền
phạt.
+ Điểm giao hàng: Trên thực tế người nhập khẩu thường chỉ định bến đi và
bến đến cho hàng hoá. Nơi giao hàng có thể là đầu mối vận tải để mang tiếp hàng
đi nơi khác hoặc là nơi họ đã nắm vững tập quán giao hàng, khả năng bốc dỡ, khả
năng về kho tàng, trình độ trang thiết bị bảo quản hàng hoá,...
+ Phương thức giao hàng: Về sơ bộ cuối cùng hay giao nhận về số lượng, chất
lượng.
+ Thông báo giao hàng: Quy định số lần thông báo và nội dung thông báo khi
người bán giao hàng xong.
- Điều khoản về thanh toán trả tiền.
+ Đồng tiền thanh toán: Phải là đồng tiền ổn định, tự do chuyển đổi trên thị
trường tiền tệ quốc tế, có thể là đồng tiền của bên xuất hoặc bên nhập hoặc là của
nước thứ ba.
Đồng tiền thanh toán có thể trùng hợp hoặc không trùng hợp với đồng tiền tính
tiền cho người hưởng. Thông thường ngân hàng xác nhận là ngân hàng thông
báo thư tín dụng tại nước người bán.
Trang 18
Xét về mặt thực hiện, thư tín dụng có thể là trả tiền ngay (At Sight), hoặc trả
tiền sau (With deferrer Payment) hoặc có thể chuyển nhượng được
(Transferable) cho người thứ ba.
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có nhiều ưu điểm hơn so với
phương thức nhờ thu. Đối với người bán, nó đảm bảo chắc chắn thu được tiền
hàng. Đối với người mua, nó đảm bảo rằng việc trả tiền cho người bán chỉ được
thực hiện khi người bán đã xuất trình đầy đủ bộ chứng từ hợp lệ và ngân hàng đã
kiểm tra bộ chứng từ đó.
c/ Phương pháp ký hợp đồng.
Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn tới việc ký kết hợp đồng mua
bán ngoại thương. ở các nước tư bản, hợp đồng có thể được thành lập dưới hình
thức văn bản hoặc dưới hình thức miệng, hoặc hình thức mặc nhiên. Ở các nước
xã hội chủ nghĩa, hợp đồng phải được ký kết dưới hình thức văn bản. Hợp đồng
dưới hình thức văn bản có thể được thành lập dưới nhiều cách như:
- Hợp đồng gồm một văn bản, trong đó ghi rõ nội dung buôn bán, mọi điều
kiện giao dịch đã thoả thuận và có chữ ký của hai bên.
- Hợp đồng gồm nhiều văn bản như: điện báo, thư từ giao dịch, chẳng hạn hợp
đồng gồm hai văn bản như đơn chào hàng cố định của người bán, chấp nhận của
người mua và chấp nhận của người bán.
Hình thức văn bản của hợp đồng là bắt buộc đối với các đơn vị xuất nhập khẩu
của ta trong quan hệ với các nước. Hình thức hợp đồng bằng văn bản là hình thức
tốt nhất trong việc bảo vệ quyền lợi của hai bên, nó xác định mọi quyền lợi và
nghĩa vụ của bên mua và bên bán, tránh được những hiểu lầm do không thống
nhất được quan niệm. Ngoài ra hình thức văn bản còn tạo thuận lợi cho thống kê,
kiểm tra việc ký kết và thực hiện hợp đồng.
*/ Khi ký kết hợp đồng, các bên cần chú ý một số đặc điểm sau:
Trang 19
thuận đã thoả thuận).
4. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Sau khi hợp đồng đã được ký kết nghĩa là quyền lợi và nghĩa vụ của các bên
đã được xác lập. Các bên cần phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Bên nhập khẩu
cần phải xắp xếp các việc phải làm, ghi thành biểu bảng theo dõi tiến độ thực
hiện hợp đồng, kịp thời ghi lại các diễn biến của các bước thực hiện. Quá trình
thực hiện hợp đồng là rất phức tạp đòi hỏi phải tuân thủ luật lệ quốc gia và quốc
tế, đồng thời phải đảm bảo quyền lợi của quốc gia, uy tín của doanh nghiệp.
Trong quá trình thực hiện cố gắng không để xảy ra những sai sót dẫn đến khiếu
nại, đồng thời phải tính toán, tiết kiệm các khoản chi phí lưu thông, và điều quan
trọng là phải giám sát và yêu cầu đối tác thực hiện đúng các nghĩa vụ của họ
trong hợp đồng. Nếu có những vấn đề phức tạp phát sing các bên phải kịp thời
bàn bạc trao đổi, giải quyết kịp thời. Các bước thực hiện hợp đồng gồm có:
Xin giấy Mở thư tín dụng Thuê phương tiện Mua BH
phép NK L/C ( nếu thanh chuyên chở hàng hoá
toán bằng L/C) Khiếu nại và Làm thử tục Nhận hàng Làm thủ tục
xử lý khiếu nại thanh toán hải quan
( nếu có )
Trang 21
a/ Xin giấy phép nhập khẩu:
Giấy phép nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để Nhà nước quản lý xuất
nhập khẩu. Vì thế, sau khi ký hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp phải xin giấy
phép nhập khẩu để thực hiện hợp đồng đó. Giấy phép do Bộ Thương mại cấp.
Thủ tục xin giấy phép nhập khẩu khác nhau đối với hàng hoá thuộc các nhóm
lượng nhỏ thì thuê tàu chợ.
d/ Mua bảo hiểm hàng hoá.
Hàng hoá chuyên chở trên biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Vì thế bảo
hiểm hàng hoá đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại thương.
Hợp đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng bảo hiểm bao hoặc là hợp đồng bảo hiểm
chuyến. Khi mua bảo hiểm bao, doanh nghiệp ký kết hợp đồng từ đầu năm, mỗi
khi giao hàng xuống để vận chuyển chỉ cần gửi đến Công ty bảo hiểm một thông
báo một văn bản gọi là: “Giấy báo bắt đầu vận chuyển”. Khi mua bảo hiểm
chuyến, doanh nghiệp gửi đến công ty bảo hiểm một băn bản gọi là: “Giấy yêu
cầu bảo hiểm”. Trên cơ sở giấy yêu cầu này, doanh nghiệp và Công ty bảo hiểm
đàm phán ký kết hợp đồng bảo hiểm.
Bên cạnh hình thức bảo hiểm, doanh nghiệp cần lựa chọn điều kiện bảo hiểm:
Loại A hay B hay C. Để lựa chọn điều kiện bảo hiểm thích hợp cần căn cứ vào:
Tính chất, đặc điểm của hàng hoá, thời tiết, khả năng vận chuyển bốc dỡ, đặc
điểm quãng đường,...
e/ Làm thủ tục hải quan.
Hàng hoá đi ngang qua biên giới quốc gia để nhập khẩu đều phải làm thủ tục
hải quan. Việc làm thủ tục hải quan gồm 3 bước chủ yếu sau:
Trang 23
+ Khai báo hải quan: Chủ hàng phải khai báo chi tiết về hàng hoá lên tờ khai
hải quan một cách trung thực và chính xác. Tờ khai phải được xuất trình cùng
một số chứng từ khác: Giấy phép nhập khẩu, hoá đơn, phiếu đóng gói, bản kê
khai chi tiết, vận đơn,...
+ Xuất trình hàng hoá: Hải quan được phép kiểm tra hàng hoá nếu thấy cần
thiết. Hàng hoá nhập khẩu phải được xắp xếp trật tự, thuận tiện cho việc kiểm tra.
Chủ hàng chịu chi phí, nhân công về việc mở, đóng các kiện hàng.
+ Thực hiện các quyết định của hải quan: Sau khi kiển tra các giấy tờ và hàng
hoá, hải quan đưa ra quyết định: cho hàng được phép qua biên giới (thông quan),
hoặc cho hàng qua với một số điều kiện kèm theo hoặc hàng không được
nhận,...Chủ hàng phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của hải quan.
thức nào phải quy định cụ thể trong hợp đồng. Doanh nghiệp phải tiến hành
thanh toán theo đúng điều kiện quy định của hợp đồng.
h/ Khiếu nại và xử lý khiếu nại (nếu có).
Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủ hàng nhập khẩu phát hiện thấy
hàng nhập khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, thiếu hụt, mất mát, thì cần lập hồ sơ khiếu nại
ngay để khỏi bỏ lỡ thời hạn khiếu nại. Đối tượng khiếu nại có thể là bên bán,
người vận tải, Công ty bảo hiểm,... tuỳ theo tính chất của tổn thất. Bên nhập khẩu
chỉ viết đơn khiếu nại và gửi cho bên bị khiếu nại trong điều kiện quy định. Đơn
khiếu nại phải kèm theo những bằng chứng về việc tổn thất như: biên bản giám
định, hoá đơn, vận đơn đường biển, đơn bảo hiểm (nếu khiếu nại Công ty bảo
hiểm),...