Thực trạng và một số giải pháp hoàn
thiện công tác quản lý dự án tại công ty
cổ phần xây dựng SHINEC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã, đang và tiếp tục tăng cường công cuộc
đổi mới kinh tế trên nhiều lĩnh vực và đạt được những thành tựu đáng kể. Tiến trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ
trọng của công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp. Đặc biệt là
sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO thì toàn cầu hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế khách quan chi phối sự phát triển kinh
tế – xã hội của nước ta cũng như của các quốc gia khác. Việt Nam đang trên đà phát
triển với nhiều công trình đang được dựng xây. Chính vì vậy ngành Xây dựng luôn
thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển
của quốc gia. Ngành Xây dựng luôn giữ vai trò là một trong những ngành kinh tế
mũi nhọn, là lực lượng chủ yếu trong việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nắm vững được tầm quan trọng ấy,
công ty cổ phần xây dựng SHINEC – đơn vị thành viên của công ty cổ phần công
nghiệp tàu thủy SHINEC thuộc Tập đoàn tàu thủy Việt Nam đã, đang và từng bước
dần hoàn thiện mình về mọi mặt nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Là
đơn vị hạch toán độc lập, công ty đã có những bước tiến phát triển khá mạnh mẽ.
Công ty đã bố trí một cách hợp lý lao động, đồng thời nỗ lực phát triển sản xuất
mang tính chuyên môn và khoa học, tạo ra năng suất lao động cao, nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh. Mục tiêu: “Chất lượng – Thời gian – Uy tín” luôn được
đưa lên hàng đầu trong chính sách phát triển của công ty.
Một trong những lĩnh vực mà công ty đang cố gắng hoàn thiện và đẩy mạnh phát
triển hơn nữa là công tác quản lý dự án. Mặc dù công ty đã có những tiến bộ và
thành tựu đáng kể trong hoạt động này nhưng vẫn không thể tránh khỏi những thiếu
sót còn tồn tại. Chính vì thế, sau thời gian thực tập tại công ty cổ phần xây dựng
SHINEC, em nhận thấy có nhiều vấn đề trong công tác này cần phải tìm hiểu thêm.
Được sự giúp đỡ tận tình của quý công ty, cụ thể là phòng Kế hoạch và Ban
quản lý dự án, em xin được lựa chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp hoàn
nước và nghĩa vụ với công ty. Xí nghiệp có tài khoản riêng, con dấu và mã số thuế
riêng theo quy định chung của Nhà nước. Sau hơn hai năm hoạt động, nhận thấy sự
phát triển nhanh và bền vững của Xí nghiệp xây dựng SHINEC, Hội đồng quản trị
Công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy SHINEC đã quyết định chuyển đổi và hình
thành Công ty cổ phần Xây dựng SHINEC theo quyết định góp vốn số 07-
QĐ/HĐQT-SHI ngày 01/4/2007. Công ty cổ phần xây dựng SHINEC mà tiền thân
là Xí nghiệp xây dựng SHINEC chính thức đi vào hoạt động từ ngày 27/4/2007 theo
giấy chứng nhận kinh doanh số 0203003063 ngày 27/4/2007 của Phòng đăng ký
kinh doanh – Sở kế hoạch đầu tư Thành phố Hải Phòng cấp.
Công ty hoạt động trong nhiều ngành nghề lĩnh vực, phấn đấu trở thành đơn vị
có đủ kinh nghiệm và năng lực đúng với phương châm: “ Chất lượng là yếu tố căn
bản”.
1.1.2. Đặc điểm và ngành nghề kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng
SHINEC:
Công ty cổ phần xây dựng SHINEC hoạt động trong lĩnh vực thi công xây dựng
các công trình dân dụng và công nghiệp, gia công và chế tạo thép phi tiêu chuẩn,
kinh doanh sắt thép, phế liệu và vật tư cho ngành công nghiệp tàu thủy.
Cụ thể, các ngành nghề kinh doanh của công ty bao gồm:
Bảng 1.1: Các ngành nghề kinh doanh của công ty.
STT Tên ngành Mã ngành
1 Xây dựng nhà các loại 41
2
Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng khác:
- Tư vấn, xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng,
giao thông, thủy lợi, cầu cảng, đầu tư cơ sở hạ tầng các cụm
khu công nghiệp, khu đô thị.
- Xây lắp công trình điện đến 35 KV
- Xây dựng công trình điện, hệ thống điện công nghiệp chiếu
sáng trong và ngoài trời.
- Khoan thăm dò địa chất công trình xây dựng.
46599
15 Trồng hoa cây cảnh 01183
16 Trông cây lâu năm 01290
( Nguồn: Phòng kế hoạch công ty cổ phần xây dựng SHINEC)
1.1.3. Cơ cấu tổ chức:
Mô hình 1.1: Mô hình cơ cấu tổ chức của công ty
( Nguồn: Phòng Tổ chức công ty cổ phần xây dựng SHINEC)
Hình thức quản lý dự án ở công ty vẫn là mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý
nhưng trong một số trường hợp cụ thể, công ty sẽ lập ra Ban quản lý dự án. Các
thành viên trong Ban quản lý dự án sẽ được chọn lựa từ ban lãnh đạo, các phòng
ban và tập hợp lại để chịu trách nhiệm thực hiện công tác này. Thường thì Phòng kế
ngoài Công ty, tham mưu cho Giám đốc thực hiện chức năng quản lý tài chính, tổ
chức thực hiện các chỉ tiêu về tài chính – kế toán.
- Phòng kế hoạch đầu tư do Ông Phí Trọng Chiến làm trưởng phòng có những
chức năng như sau: thiết lập hồ sơ dự thầu theo yêu cầu của khách hàng; Phối hợp
với chỉ huy trưởng của công trình để giải quyết các vấn đề kỹ thuật có liên quan đến
hợp đồng trong quá trình thi công; Nghiên cứu, tìm kiếm các nguồn vật tư phục vụ
cho sản xuất kinh doanh, thi công của công ty một cách ổn định, hiệu quả; Theo dõi,
đánh giá và đưa ra các ý kiến, biện pháp để hoàn thiện và thực hiện đúng kế hoạch
kinh doanh chung; Thu thập, sắp xếp và bảo quản cẩn thận tài sản, hồ sơ, tài liệu,
thông tin nội bộ của Công ty…
- Phòng kỹ thuật của công ty sẽ chịu trách nhiệm một số vấn đề như: Thi công
các công trình xây dựng; Phụ trách các vấn đề kỹ thuật – công nghệ cũng như thiết
kế các công trình; Gia công, lắp đặt các sản phẩm khung nhà thép; Quản lý việc sử
dụng máy móc, thiết bị thi công; Nghiệm thu các công trình xây dựng…Trưởng
phòng kỹ thuật là Ông Phạm Quốc Việt.
- Phòng kinh doanh do ông Đỗ Quang Thắng làm trưởng phòng có một số chức
năng chính như: Đảm bảo cung ứng vật tư, thiết bị và nhân công theo đúng tiến độ
và chất lượng yêu cầu; Kiểm soát việc sử dụng vật tư trong quá trình thi công; Theo
dõi việc tạm ứng, thanh quyết toán của công trình đồng thời kiểm soát chi phí trong
quá trình thi công của các hợp đồng; Tham mưu cho Giám đốc về các vấn đề liên
quan đến thương lượng và ký kết hợp đồng với khách hàng.
1.1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty:
Bảng 1.2: Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
2
0
0
7
35.853.4
34.818
0
0
6
26.633.6
38.323
--
20.633.6
38.323
19.253.3
15.382
1.380.3
22.940
2.867
.706
98.965
.410
253.01
5.482
127.74
1.692
903.468
.062
--
5.553.
371
-
5.553.
371
897.914
.691
--
24.000
.000
201.883
.514
--
201.883
.514
2
0
0
4
16.974.2
61.139
--
16.974.2
61.139
16.409.2
63.319
564.997
.820
6298
85.374
.621
257.66
6.449
45.524
.551
176.438
.497
đặc
biệt,
thuế
xuất
khẩu
3.
Doanh
thu
thuần
về bán
hàng và
cung
cấp dịch
vụ
4. Giá
vốn
hàng
bán
5. Lợi
nhuận
gộp
bán
hàng và
cung
cấp
dịch vụ
6.
Doan
h thu
hoạt
khác
13.
Lợi
nhuận
khác
14.Tổn
g lợi
nhuận
kế toán
trước
thuế
15.
Thuế
TNDN
phải
nộp
16. Lợi
nhuận
sau
thuế
thu
nhập
doanh
nghiệp
Qua bảng trên, ta thấy lợi nhuận sau thuế của công ty đã tăng dần qua các năm.
Tuy nhiên từ năm 2004 đến năm 2005, mức độ tăng lợi nhuận là rất chậm. Hai năm
2004 và 2005 không có khoản thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp vì tất cả khoản
lợi nhuận trước thuế được đưa lên công ty mẹ rồi mới tính thuế thu nhập doanh
nghiệp phải nộp chung của cả công ty Công nghiệp tàu thủy SHINEC. Bắt đầu từ
năm 2006, công ty mới độc lập tính thuế thu nhập doanh nghiệp riêng của đơn vị
tư gia tăng lao động cả về mặt số lượng và chất lượng. Công ty đã cố gắng tuyển
dụng ngày một nhiều hơn đội ngũ có trình độ tay nghề và ý thức nghề nghiệp cao.
Hàng năm công ty có gửi một số cán bộ và công nhân đi học tại các lớp đào tạo
chuyên sâu để củng cố thêm kiến thức nghề nghiệp cũng như phát huy sáng tạo giúp
sức cho công ty ngày một vững mạnh đi lên. Bên cạnh đó, ban lãnh đạo công ty
cũng hết sức quan tâm đến các vấn đề về an toàn lao động, bảo hiểm xã hội cũng
như chế độ lương thưởng… của công nhân.
► Vốn và nguồn vốn của công ty:
Nguồn vốn của công ty được huy động từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm: vốn
góp ban đầu của các cổ đông; trích phần thu nhập giữ lại; vốn vay từ các tổ chức tín
dụng như ngân hàng và một số tổ chức tài chính khác; phát hành chứng khoán ra
công chúng, chào bán cổ phần. Công ty được thành lập với vốn điều lệ ban đầu là
10,000,000 Việt Nam đồng (10 tỷ Việt Nam đồng).
Nói chung là nguồn vốn của công ty được hình thành từ nguồn vốn bên trong và
nguồn vốn bên ngoài. Trong đó nguồn vốn bên trong hay chính là nguồn vốn được
huy động trong nội bộ công ty có ưu điểm đảm bảo sự độc lập, tự chủ trong việc sử
dụng. Đồng thời nguồn vốn nội bộ sẽ giúp công ty hạn chế việc phụ thuộc vào chủ
nợ, làm giảm bớt rủi ro về tín dụng. Đây cũng là nguồn tài trợ chủ yếu cho các hoạt
động của công ty. Để mở rộng quy mô đầu tư, công ty cũng cố gắng huy động từ
nhiều nguồn khác nhau. Trong đó việc vay ngân hàng là phổ biến để tạo tiềm lực về
vốn, đảm bảo cho việc đầu tư được thực hiện một cách có hiệu quả. Bên cạnh đó,
công ty cũng thực hiện việc chào bán cổ phần ra thị trường. Theo điều lệ của công
ty, Hội đồng quản trị sẽ quyết định thời điểm, phương thức và giá chào bán cổ phần
trong số cổ phần được quyền chào bán. Giá chào bán cổ phần không được thấp hơn
giá trị thị trường tại thời điểm gần nhất, trừ một số trường hợp đặc biệt được quy
định cụ thể trong điều lệ. Sau khi cổ phần được chào bán, công ty phải phát hành và
trao cổ phiếu cho người mua. Công ty có thể bán cổ phần mà không trao cổ phiếu.
Đại hội đồng cổ đông chịu trách nhiệm về các quyết định trích lập các loại quỹ
từ lợi nhuận sau thuế. Lợi nhuận sau thuế này được phân phối cho nhiều loại quỹ
khác nhau trong công ty. Cụ thể tình hình trích lập cho các quỹ năm 2007 của công
Ban lãnh đạo công ty luôn cố gắng chú trọng và thực hiện tốt công tác lập dự án
dù ở phương diện trực tiếp lập hay đi thuê cơ quan tư vấn riêng.
► Công tác thẩm định dự án đầu tư:
Công ty chưa có một tổ chức thẩm định mang tính chuyên sâu. Khi một dự án
được lập ra thường thì Phòng kế hoạch sẽ phối hợp với một số phòng ban khác để
kiểm tra lại dự án một cách chi tiết. Sau đó sẽ đưa cho Ban lãnh đạo cũng như Hội
đồng quản trị của công ty xem xét thật kĩ lưỡng trước khi đề ra những quyết định
quan trọng. Thường thì các dự án sau khi đã được xem xét chi tiết sẽ trình lên Sở
Xây dựng thành phố Hải Phòng để tiến hành tổ chức thẩm định lại một cách hoàn
chỉnh.
Công việc thẩm định có vai trò quan trọng để đưa ra những quyết định đầu tư
sáng suốt. Hay nói cách khác kết quả của thẩm định là căn cứ cơ sở để ra quyết định
chấp thuận hoặc bác bỏ dự án. Do vậy khi tiến hành xem xét lại dự án, công ty luôn
dựa vào các căn cứ để nghiên cứu hợp lý. Không chỉ dựa vào hồ sơ dự án mà còn
phải dựa vào các căn cứ pháp lý như các chủ trương, quy hoạch, kế hoạch, chính
sách phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước, địa phương và của ngành; các văn bản
pháp luật chung và văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp tới hoạt động đầu tư.
Ngoài ra đối với từng dự án khác nhau, quá trình thẩm định còn phải dựa vào các
tiêu chuẩn, quy phạm và định mức trong từng lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật cụ thể.
Một số phương pháp thẩm định cũng được công ty sử dụng tùy vào từng dự án
cụ thể như: phương pháp thẩm định theo trình tư; phương pháp so sánh đối chiếu
chỉ tiêu; phương pháp phân tích độ nhạy… Tuy nhiên thông thường trong quá trình
xem xét lại hồ sơ dự án, công ty thường sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu với
các chỉ tiêu để có thể tiến hành nhanh gọn và đơn giản.
► Công tác quản lý kế hoạch hóa đầu tư:
Trong hoạt động quản lý chung, công ty cổ phần xây dựng SHINEC luôn đánh
giá tầm quan trọng của công tác quản lý đầu tư. Công ty đã cố gắng thực hiện tốt
việc quản lý đầu tư để tạo sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng vào quá trình
đầu tư của mình. Trong từng điều kiện cụ thể, Ban lãnh đạo công ty luôn cố gắng sử
dụng đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội, tổ chức kỹ thuật và một số biện pháp
tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm. Khi đi vào từng
dự án cụ thể thì công ty cũng xác định những chỉ tiêu cơ bản như: tỷ lệ vốn đầu tư
thực hiện của dự án; tỷ lệ hoàn thành của hạng mục, đối tượng xây dựng dự án…
Về hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả đầu tư, thực tế công ty chỉ xác định một số chỉ
tiêu cơ bản như: cơ cấu tài sản; cơ cấu nguồn vốn; khả năng thanh toán; tỷ suất lợi
nhuận trên doanh thu.
► Công tác đấu thầu, quản lý hoạt động đấu thầu của công ty:
Trong những năm qua, công ty đã có nhiều đơn đặt hàng và ký kết được một số
hợp đồng quan trọng có giá trị cao. Nhưng chỉ một số ít dự án là công ty tham gia
đấu thầu và đã thắng thầu để trở thành đơn vị thi công chính thức cho các bạn hàng.
Còn các dự án khác, thường là công ty nhận hoàn thành từ công ty mẹ hoặc ký kết
trực tiếp với đối tác. Một số dự án mà công ty đã tham gia và thắng thầu như dự án
xây dựng Nhà máy sản xuất nội thất tàu thủy và nhà máy chế biến gỗ tại 59 – Ngô
Quyền, Hải Phòng; Dự án xây dựng Nhà xưởng sản xuất nội thất kim loại tại xã
Nam Sơn, huyện An Dương, Hải Phòng… Từ 2004 đến nay, công ty chủ yếu là đơn
vị thi công, tham gia đấu thầu đối với các gói thầu của bạn hàng. Ngoài ra công ty
cũng đứng ra làm chủ đầu tư một số dự án tiêu biểu như: Công trình xây dựng nhà
máy chế biến gỗ SHINEC xã Lai Vu – huyện Kim Thành – tỉnh Hải Dương; Dự án
Đầu tư xây dựng Trạm xăng dầu và Khu văn phòng phục vụ điều hành Khu công
nghiệp Nam Cầu Kiền (VINASHIN – SHINEC) tại huyện Thủy Nguyên – Hải
Phòng…
► Tình hình hợp tác, đầu tư với nước ngoài và hoạt động chuyển giao công
nghệ:
Do mới thành lập và quy mô còn nhỏ nên hoạt động chuyển giao công nghệ và
hợp tác với nước ngoài của công ty còn chưa mạnh và phổ biến. Trong tương lai,
công ty sẽ mở rộng các quan hệ với các đối tác nước ngoài, đặc biệt là các đối tác
đã có quan hệ từ trước với công ty mẹ là Công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy
SHINEC. Theo định hướng đó, công ty sẽ cùng với một số công ty nước ngoài để
ký các hợp đồng liên doanh, liên kết.
Trong năm 2008, công ty đã cùng đối tác tại Singapore thành lập nên Công ty
biến động theo chiều hướng tăng và tăng cao. Điều đó đã dẫn đến tình trạng các
công trình đang xây dựng dở dang gặp nhiều khó khăn trong việc thi công, như vậy
khả năng thua lỗ khi quyết toán công trình sẽ xảy ra nếu như không có kế hoạch hợp
lý. Công ty có thể đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế phần nào những rủi ro. Việc
lựa chọn đội ngũ giám sát quản lý thi công có trình độ, kinh nghiệm cũng sẽ bớt đi
phần nào rủi ro do chậm tiến độ thi công gây ra. Bên cạnh đó phải lựa chọn kỹ càng
những dây chuyền thiết bị phù hợp cả về chất lượng, công suất…nhằm tránh tình
trạng thực hiện sai với yêu cầu của dự án.
1.3. Thực trạng về hoạt động quản lý dự án của công ty cổ phần xây dựng
SHINEC:
1.3.1. Đặc điểm của các dự án mà công ty tham gia quản lý:
Từ khi thành lập đến nay, công ty đã tham gia và hoàn thành nhiều dự án lớn nhỏ
trong nước. Một số dự án tiêu biểu của công ty như:
Hạng mục: Nhà ăn ca 400 m
2
– Xây dựng Nhà kho Thành phẩm 300 m
2
tại
59 – Ngô Quyền, HP.
Xây dựng nhà xưởng nấu thép – tại Km 94, xã Nam Sơn, huyện An
Dương, Hải Phòng.
Công trình xây dựng Nhà xưởng sản xuất nội thất kim loại – xã Nam Sơn,
huyện An Dương, Hải Phòng.
Công trình xây dựng Nhà máy sản xuất nội thất tàu thủy và nhà máy chế
biến Gỗ tại 59 – Ngô Quyền, HP.
Công trình xây dựng Nhà máy xi măng Cẩm Phả - Quảng Ninh.
Công trình xây dựng Nhà máy Giấy bao bì.
Công trình Nhà máy Xi măng Yên Bình.
Công trình xây dựng mở rộng kho Clinker – Giai đoạn 3 tại tỉnh Thanh
Hóa.
triển sản xuất, công ty cổ phần xây dựng SHINEC đã chủ động chuyển sang vai trò
là chủ đầu tư trong một số dự án như: dự án mở rộng nhà máy chế biến gỗ và nội
thất tàu thủy Ngô Quyền – Hải Phòng; dự án xây dựng nhà máy chế biến gỗ
SHINEC xã Lai Vu – huyện Kim Thành – tỉnh Hải Dương… Khác với các dự án
mà công ty làm nhà thầu thì đối với những dự án này, công ty được chủ động hơn từ
khâu lập dự án đến thực hiện và vận hành các kết quả của dự án. Công ty cũng chủ
động hơn trong công tác quản lý dự án, từ đó nâng cao hơn nữa vị thế của mình.
Các dự án trên dù là dự án bên trong do công ty làm chủ đầu tư hay dự án bên
ngoài do công ty làm nhà thầu đều cần thiết có sự quản lý một cách kĩ lưỡng và cẩn
thận. Càng thực hiện nhiều công trình, công ty cổ phẩn xây dựng SHINEC càng
nhận rõ vai trò của công tác quản lý dự án trong tất cả các nội dung và các giai đoạn
của một dự án cụ thể. Công việc quản lý dự án không phải là một công việc dễ dàng
mà nó đòi hỏi có sự kết hợp ăn ý của tất cả các thành viên trong ban quản lý. Những
tác dụng và hoạt động quản lý đem lại đã được kiểm nghiệm và chứng minh chính
tại những dự án thực tế. Cụ thể vai trò của công tác quản lý dự án được thể hiện như
sau:
- Trước hết việc quản lý là điều kiện tốt để liên kết tất cả các hoạt động, các
công việc của một dự án lại với nhau. Khi một dự án được lập ra, bản thân nó đã
bao gồm rất nhiều các công việc khác nhau. Trong quá trình thực hiện cũng như vận
hành khai thác dự án, còn nảy sinh nhiều công việc cần phải giải quyết. Vì vậy nếu
không có một sự quản lý rõ ràng thì các hoạt động sẽ trở nên rời rạc, thiếu sự liên
kết. Và như thế thì mục tiêu của dự án sẽ không thể được thực hiện.
- Việc có quá nhiều công việc và hoạt động trong một dự án cũng sẽ kéo theo có
nhiều nhiệm vụ dành cho mỗi thành viên thuộc dự án đó. Việc phân công nhiệm vụ
rõ ràng, cụ thể cho từng thành viên không phải là điều dễ dàng. Hơn nữa, sự hợp tác
giữa họ lại càng trở nên phức tạp hơn. Điều đó đòi hỏi phải có công tác quản lý rõ
ràng, giúp cho việc phân công cũng như phối hợp nhiệm vụ giữa các thành viên
được thực hiện thuận lợi hơn.
- Khi tiến hành thực hiện bất kỳ một dự án nào thì việc giữ mối liên hệ, gắn kết
giữa nhóm quản lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào luôn là một
- Chịu trách nhiệm chính trong công tác điều hành sản xuất và tiến độ công
trình, kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, biện pháp an toàn lao động và vệ sinh công
nghiệp.
- Có toàn quyền chủ động trong sản xuất và điều phối nhân lực.
- Có quyền phát hiện sai sót và đình chỉ tạm thời thi công khi không đảm bảo
kỹ thuật và an toàn lao động.
Còn bộ phận kỹ thuật hiện trường sẽ chịu trách nhiệm các công việc như:
- Trợ giúp chỉ huy trưởng chuyên trách về công tác quản lý kỹ thuật và an toàn
lao động.
- Nghiên cứu triển khai hồ sơ, biện pháp thi công và an toàn lao động chung
cho toàn công trình.
- Chịu trách nhiệm chính về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm cũng như công
tác an toàn lao động.
- Có quyền phát hiện sai sót và đình chỉ tạm thời thi công của các tổ sản xuất
khi không đảm bảo kỹ thuật và an toàn lao động.
Còn đối với những dự án do công ty làm chủ đầu tư thì công tác quản lý dự án
sẽ có phần chủ động hơn và đi xuyên suốt các giai đoạn của quá trình đầu tư. Khi
tiến hành thực hiện một dự án, chủ đầu tư là công ty cổ phần xây dựng SHINEC có
quyền quyết định, lựa chọn hình thức quản lý dự án theo quy định của khoản 2 điều
45 Bộ Luật Xây dựng. Căn cứ vào điều kiện năng lực của tổ chức mà chủ đầu tư có
thể lựa chọn một trong hai hình thức quản lý dự án chính sau:
- Hình thức thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án khi chủ đầu tư xây dựng công
trình không đủ điều kiện năng lực.
- Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án khi có đủ điều kiện năng lực
quản lý.
Thực tế tại công ty cổ phần xây dựng SHINEC, đối với các dự án do công ty làm
chủ đầu tư từ trước đến nay đều được quản lý theo mô hình chủ đầu tư trực tiếp
quản lý dự án và có thành lập ban quản lý dự án trong một số trường hợp cụ thể.
Sơ đồ của mô hình này có thể được biểu diễn như sau:
Mô hình 1.3: Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án đầu tư.
với tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng thay vì là 1 tỷ trước đây. Tất nhiên trong trường
hợp này, chủ đầu tư phải có đầy đủ năng lực và kinh nghiệm để đảm nhiệm tốt việc
quản lý dự án.
Trong trường hợp dự án có quy mô vốn đầu tư trên 7 tỷ đồng thì công ty cổ phần
xây dựng SHINEC sẽ đưa ra quyết định thành lập Ban quản lý dự án. Ví dụ: đối với
dự án “Đầu tư xây dựng công trình nhà máy chế biến gỗ SHINEC tại cụm công
nghiệp tàu thủy Hải Dương” có quy mô vốn đầu tư là 137.656 triệu đồng tức là một
trăm ba mươi tỷ sáu trăm năm mươi sáu triệu đồng. Do quy mô vốn đầu tư của dự
án là tương đối lớn nên hội đồng quản trị công ty cổ phần xây dựng SHINEC đã ra
quyết định số 1153/QĐ-CNT-TCCB-LĐ về việc thành lập Ban quản lý dự án Nhà
máy chế biến gỗ SHINEC. Ban quản lý dự án gồm những thành viên sau:
- Ông Nguyễn Như Hải Triều, cử nhân Luật, Giám đốc công ty cổ phần xây
dựng SHINEC: Trưởng ban.
- Ông Đỗ Quang Thắng, cử nhân quản trị kinh doanh, Phó giám đốc công ty cổ
phần xây dựng SHINEC: Phó trưởng ban.
- Ông Phạm Quốc Việt, cử nhân kỹ thuật công nghiệp, trưởng phòng kỹ thuật
công ty cổ phần xây dựng SHINEC: Phó trưởng ban.
- Ông Võ Đức Từ, cử nhân mỹ thuật công nghiệp, Phó trưởng Ban Quản lý dự
án SHINEC 1: Phó trưởng ban.
- Bà Đỗ Hải Yến, cử nhân kế toán, chuyên viên tài chính kế toán công ty cổ
phần xây dựng SHINEC: Phụ trách kế toán.
- Ông Đoàn Văn Sương, cử nhân điện công nghiệp, Trưởng ban điều hành Nhà
máy gỗ Lai Vu: Thành viên.
- Ông Lê Quang Hiển, kỹ sư công trình thủy, Chu yên viên Ban quản lý dự án
SHINEC 1: Thành viên.
- Ông Mai Đăng Trung, kỹ sư kinh tế vận tải biển, Chu yên viên Ban quản lý
dự án SHINEC 1: Thành viên.
- Ông Hoàng Xuân Thắng, kỹ sư xây dựng, chuyên viên Ban quản lý dự án
SHINEC 1: Thành viên.
- Bà Tăng Thị Hòa, cử nhân kinh tế, Chu yên viên Ban quản lý dự án SHINEC
nội dung phân theo đối tượng quản lý như:
Lập kế hoạch tổng quan.
Quản lý phạm vi.
Quản lý thời gian.
Quản lý chi phí.
Quản lý chất lượng.
Quản lý nhân lực.
Quản lý thông tin.
Quản lý rủi ro.
Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán.
Còn theo khoản 1 điều 45 Luật Xây dựng thì Quản lý dự án đầu tư xây dựng
công trình bao gồm một số nội dung như:
Quản lý chất lượng xây dựng.
Quản lý tiến độ xây dựng.
Quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình.
Quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng.
Quản lý môi trường xây dựng.
Sau quá trình tìm hiểu về tình hình hoạt động kinh doanh nói chung cũng như
hoạt động quản lý dự án của công ty nói riêng, chuyên đề này xin phép được tập
trung vào một số nội dung chính về công tác quản lý dự án. Đó là các nội dung:
Quản lý thời gian; Quản lý chất lượng; Quản lý chi phí; Quản lý nhân lực và một số
hoạt động quản lý khác như quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng,
quản lý môi trường xây dựng, quản lý rủi ro…
1.3.3.1. Quản lý thời gian, tiến độ của dự án:
Một công trình xây dựng trước khi được đưa vào triển khai phải được lập tiến độ
thi công xây dựng. Quản lý thời gian và tiến độ của dự án là một quá trình quản lý
bao gồm những công việc như sau:
• Thiết lập mạng công việc.
• Dự tính thời gian thực hiện từng công việc.
• Quản lý tiến độ thực hiện các công việc của dự án.
GANTT dường như lại trở nên phổ biến và được công ty sử dụng khá nhiều. Đối
với các dự án phức tạp thì việc xây dựng biểu đồ GANTT lại thể hiện được ưu thế
của mình. Nó giúp những nhà quản lý dự án nhìn nhận rõ một cách dễ dàng hơn
thực trạng của dự án. Mặt khác trong một số dự án, khi khối lượng công việc trở
nên quá nhiều thì các nhà quản lý sẽ gặp một số rắc rối nếu như sử dụng phương
pháp sơ đồ GANTT. Lúc này việc nhìn nhận về trật tự cũng như mối quan hệ giữa
các công việc lại dường như là công việc khó khăn.
Chính vì vậy, ban quản lý dự án của công ty cũng đã cố gắng linh hoạt trong việc
quản lý tiến độ của dự án. Việc sử dụng phương pháp nào là hợp lý cũng được đưa
ra xem xét một cách kỹ lưỡng với sự góp ý của tất cả các thành viên. Đối với những
dự án có quy mô lớn và thời gian thi công kéo dài thì việc quản lý tiến độ được xây
dựng cho từng giai đoạn, có thể là từng tháng, từng quý, từng năm tùy dự án cụ
thể. Chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn qua hai ví dụ dự án dưới đây:
Ví dụ 1: dự án xây dựng Nhà xưởng sản xuất nội thất kim loại – xã Nam Sơn,
huyện An Dương, Hải Phòng.
Bảng 1.5: Bảng tiến độ thực hiện công việc dự án “Xây dựng Nhà xưởng sản
xuất nội thất kim loại – xã Nam Sơn, huyện An Dương, Hải Phòng”
Tê
n
cô
ng
việ
c
Thời gian thực hiện
2006 2007 2008
3 … 6 7 … 12 1 2 3 4
5 6 … 12 1
… 9 … 12
1.
Ch