Tác động của bạo lực gia đình tới đời sống của người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay ( Nghiên cứu trường hợp Huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN XÃ HỘI HỌC NGÔ THN MAI DIÊN

TÁC ĐỘNG CỦA BẠO LỰC GIA ĐÌNH
TỚI ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI) LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 603130
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Mạnh Lợi
Hà Nội - 2012
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2
3. Mục đích nghiên cứu 11
4. Câu hỏi, giả thuyết, khung phân tích 11
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 13
6. Một số khái niệm chủ yếu sử dụng trong nghiên cứu 14
7. Phương pháp nghiên cứu và chọn mẫu 15
8. Cơ sở lý thuyết 16
PHẦN NỘI DUNG 20
Chương 1. Phản ứng của phụ nữ đối với bạo lực gia đình
20
1.1. Các hình thức phản ứng mạnh 22
1.2. Chấp nhận, chịu đựng - phản ứng yếu trước hành vi bạo lực 35
Chương 2. Các yếu tố thúc đẩy phản ứng mạnh và yếu

bạo lực gia đình 56
Bảng 10 Mức độ phổ biến các tổn thương về sức khỏe thể chất
của phụ nữ do hành vi bạo lực của chồng gây ra 60
Bảng 11 Mức độ phổ biến các tổn thương về sức khỏe tinh thần
của phụ nữ do hành vi bạo lực của chồng gây ra 62
Bảng 12 Tác động của bạo lực tình dục đối với đời sống
của phụ nữ xét ở khía cạnh trải nghiệm tình dục 65

DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu Nội dung Trang
Biểu 1 Thời gian chịu bạo lực tính đến trước thời điểm phỏng vấn 23
Biểu 2 Tác dụng của phản ứng đối với hành vi bạo lực
theo nhận định của phụ nữ
26
Biểu 3 Địa chỉ tìm đến nhờ trợ giúp của phụ nữ bị bạo lực
trong lần rời khỏi nhà gần đây nhất
27
Biểu 4 Tỷ lệ phụ nữ thông tin về câu chuyện bạo lực của bản thân
phân theo các đối tượng trong và ngoài gia đình
36
Biểu 5 Lý do khiến phụ nữ phải rời khỏi nhà lần gần đây nhất 44
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở hầu hết mọi nền văn hóa, mọi quốc gia, gia đình được coi là tổ ấm, là nơi
nương tựa về vật chất và tinh thần của con người. Nhưng gia đình cũng là nơi
hội tụ của những mâu thuẫn và đấu tranh do sự khác biệt về học vấn, nghề
nghiệp, thu nhập, quan niệm và lối sống, do sự xung đột giữa thái độ đề cao giá

đồng nảy sinh trong việc nuôi dạy con cái, trong cách đối xử với bạn bè và họ
hàng. N hững năm gần đây, tình trạng này ngày một gia tăng và hậu quả để lại
cho xã hội là rất lớn. Điều này đã khiến các nhà khoa học, các nhà hoạch định
và tư vấn chính sách nhìn nhận, chú ý và nghiên cứu một cách nghiêm túc. Các
nghiên cứu về bạo lực gia đình đều nhằm đến một mục đích chung nhất là lên
án các hành vi bạo lực, góp phần phòng chống bạo lực gia đình, can thiệp và hỗ
trợ hiệu quả cho nạn nhân bị bạo lực.
N ghiên cứu này tập trung làm rõ một số khía cạnh của bạo lực gia đình còn
chưa được đề cập đầy đủ trong các nghiên cứu trước, đặc biệt là phản ứng của
người phụ nữ khi phải đối mặt với hành vi bạo lực của người chồng, đồng thời
phân tích hệ quả của những cách phản ứng khác nhau đối với sức khỏe của bản
thân người phụ nữ.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Từ những năm 90 của thế kỷ trước, các nghiên cứu chuyên sâu về bạo lực
gia đình ở Việt N am đã bắt đầu được quan tâm và triển khai thực hiện.
PGS.TS. Vũ Mạnh Lợi, PGS.TS. N guyễn Hữu Minh, PGS.TS. Lê Thị Quý,
PGS.TS. Hoàng Bá Thịnh, TS. Trần Thị Vân Anh, PGS.TS. Vũ Tuấn Huy,
PGS.TS. Lê N gọc Văn… là những người có nhiều công trình, bài viết nghiên
cứu về vấn đề này.
2.1. Một số góc nhìn về bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau. Từ góc nhìn
toàn cầu, bản báo cáo do Ủy ban Vì sự tiến bộ phụ nữ và Ủy ban các vấn đề
kinh tế - xã hội của Ban thư ký Liên Hợp Quốc thực hiện (tháng 7/2006) đã
cung cấp những phát hiện chuyên sâu về bối cảnh và các yếu tố làm nảy sinh
bạo lực, mọi hình thức và biểu hiện bạo lực, hậu quả và tổn hại do bạo lực gây
ra đối với phụ nữ (N gô Thị Tuấn Dung, 2007). Báo cáo nhấn mạnh, bạo lực đối
với phụ nữ thường là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, đặc biệt cần được xem
xét trong khung cảnh rộng lớn của sự chênh lệch, sự bất bình đẳng từ cấp độ cá
nhân, nhóm xã hội đến cấp độ quốc gia và toàn cầu.


định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo
hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phNm. N ghiêm cấm mọi hình thức
truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phNm của công dân.”

3
Thứ ba, bạo lực xâm phạm quyền tự do tư tưởng, tư cách con người của phụ
nữ. Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về các quyền dân sự và chính trị năm
1966, “Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo.”
Tự do tư tưởng và sống có tư cách con người là cần thiết để con người có được
sự tôn trọng và thanh danh. Hành vi bạo lực đối với phụ nữ, biến họ thành
những người phụ thuộc hay bị nô dịch về tư tưởng hoặc định hướng họ vào
những lối tư duy bạo lực, tư duy thù hận… đều là những hành vi tội ác.
Thứ tư, bạo lực là hành vi cưỡng bức và bóc lột lao động nữ dưới các hình
thức: 1- Cưỡng bức phụ nữ làm các công việc không do họ lựa chọn. 2- Buộc
lao động nữ làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đến tính mạng,
sức khỏe và nhân cách. 3- Buộc lao động nữ làm việc ban đêm, làm việc thêm
giờ trái pháp luật. 4- Không trả công hoặc trả công không tương xứng với lao
động của phụ nữ. 5- Có hành vi phân biệt đối xử, bất công với lao động nữ.
Thứ năm, bạo lực là hành vi có tính thô bạo, đi ngược lại với văn hóa ứng
xử và đạo đức truyền thống trong xã hội loài người. Hành vi ép buộc quan hệ
tình dục, sự lăng nhục và xâm phạm danh dự, nhân phNm của người phụ nữ là
những hành vi bạo lực, phản văn hóa, phi đạo đức rất đáng bị lên án.
Không những vậy, bạo lực gia đình còn được nhìn nhận là một hình thức
thể hiện sự bất bình đẳng nam nữ (N gô Thị Hường, 2006). Từ góc độ giới, bạo
lực gia đình thông thường được hiểu là bạo lực xảy ra giữa vợ và chồng hoặc
giữa những người chung sống như vợ chồng… Bạo lực gia đình vốn đã tồn tại
từ xa xưa, qua hàng ngàn năm và dưới nhiều dạng khác nhau nhưng phải đến
đầu những năm 70 của thế kỷ XX, bạo lực gia đình mới thực sự được công
nhận như một vấn đề xã hội cơ bản. Các nhà bình luận về quyền bình đẳng nam
nữ viết về bạo lực nói chung để trốn tránh sự thiên vị về giới, để che giấu tính

Theo tác giả Lê Thị Quý (1994), bạo lực gia đình có hai dạng chính là bạo lực
thấy được và bạo lực không nhìn thấy được (bạo lực trực tiếp và bạo lực gián
tiếp). Chúng có quan hệ khi khăng khít, khi độc lập, tách biệt, tùy thuộc vào
hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình, vào nhận thức và hành động của các thành
viên trong gia đình. Các hành vi cụ thể của hình thức bạo lực thấy được là đánh
đập, cưỡng bức tình dục, sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực đối với vợ,
dùng vũ lực để can thiệp vào ý muốn sử dụng các biện pháp tránh thai của vợ.
Còn bạo lực không nhìn thấy được bao gồm việc sỉ nhục, chửi bới, thờ ơ, lãnh
đạm, phớt lờ hoặc “chiến tranh lạnh”. (Lê N gọc Văn, 2004)
Một số nhà nghiên cứu đã phân ra ba loại bạo lực gia đình, gồm có bạo
hành thể xác; bạo hành tinh thần: mọi hành động gây tổn thương tới đời sống
tinh thần của người phụ nữ như lăng mạ, chửi rủa, mắng mỏ, đe dọa hoặc có

5
những hành vi xúc phạm, làm nhục vợ trước mặt người khác, làm cho họ đau
đớn, lo sợ, ngoại tình; và bạo hành tình dục: cưỡng ép vợ trong quan hệ tình
dục, trái với ý muốn của người vợ, thậm chí lúc họ mệt mỏi, ốm đau. (N guyễn
Hữu Minh, Lê N gọc Lân, N guyễn Thị Mai Hoa, 2006)
N ghiên cứu bạo lực trên cơ sở giới ở trường hợp Việt N am, tác giả Vũ
Mạnh Lợi và các nhà nghiên cứu khác cho rằng, có bốn loại bạo lực gia đình là
ngược đãi thân thể; ngược đãi về lời nói; ngược đãi về tình cảm: chiến tranh
lạnh, phớt lờ; và ngược đãi liên quan đến tình dục: cưỡng ép tình dục. (Vũ
Mạnh Lợi, Vũ Tuấn Huy, N guyễn Hữu Minh, 1999)
Còn theo tác giả Bùi Thu Hằng (2001), bạo lực gia đình có năm hình thức.
Một là cưỡng bức thân thể bao gồm các hành vi như đấm đá, bạt tai… gây tổn
thương về thể xác. Hai là cưỡng bức tình dục: bắt phải quan hệ tình dục, bắt
phải xem hình ảnh, phim khiêu dâm. Ba là cưỡng bức về tâm lý và tình cảm:
phải sống trong không khí bị đe dọa, bị so sánh với người khác với những lời lẽ
mạt sát. Bốn là cưỡng bức về mặt xã hội bao gồm việc cắt đứt mối dây liên hệ
của nạn nhân với các thành viên khác trong gia đình hoặc bạn bè. Và năm là

Ba là tác động của một số chuẩn mực và thực tiễn văn hóa cũ.
Bốn là sự bất bình đẳng về kinh tế. N hững bất bình đẳng, phân biệt đối xử
đối với phụ nữ về việc làm, cơ hội tiếp cận các nguồn lực, sự phụ thuộc về kinh
tế làm suy giảm năng lực hành động và sự tự chủ của phụ nữ đều có thể tạo ra
hoặc làm trầm trọng thêm các điều kiện nảy sinh bạo lực.
N ăm là sự tồn tại và tác động của một số yếu tố như khuynh hướng sử dụng
bạo lực trong giải quyết xung đột, thiếu kỹ năng xử lý xung đột của cá nhân và
cộng đồng.
Tác giả N gô Thị Hường (2006) giải thích hai nguyên nhân dẫn đến bạo lực
gia đình. Thứ nhất, bạo lực gia đình do quan niệm truyền thống về “quyền lực
đàn ông”. N gười đàn ông luôn muốn thể hiện sức mạnh và quyền lực của mình
trong gia đình bằng cách buộc vợ con phải phục tùng. Khi những đòi hỏi,
những nhu cầu của họ không được đáp ứng, hoặc khi cảm thấy thua kém người
vợ về mặt này hay mặt khác, họ cho mình quyền được trừng phạt bằng cách
đánh đập, đe dọa, ngăn cấm Thứ hai, bạo lực gia đình do quan niệm của
người phụ nữ không muốn “vạch áo cho người xem lưng”, do đức hy sinh,
nhường nhịn đã được giáo dục nên cam chịu hành vi bạo lực của chồng, không
đủ can đảm tự bảo vệ mình hay kêu gọi, nhờ cậy sự giúp đỡ của người khác.
Bạo lực gia đình ở đây được xem là một vấn đề mà tất cả các thành viên trong
gia đình là người “đồng lõa”.
Các nhà nghiên cứu Luật học ở Việt N am nhìn nhận bạo lực gia đình là do
sự thiếu hiểu biết pháp luật của cả hai phía: nạn nhân và đối tượng gây bạo lực.

7
N hiều người chồng khẳng định quyền hành hạ, ngược đãi vợ mà không ý thức
được sự vi phạm pháp luật của mình. N hiều nạn nhân không nhận thức được
quyền hợp pháp của mình đang bị xâm phạm hoặc mình được pháp luật can
thiệp và bảo vệ khi ở trong tình trạng bị bạo hành. Cộng đồng dân cư nói chung
cũng không có sự hiểu biết đầy đủ về pháp luật. Đối tượng gây bạo lực hầu như
không cần che giấu hành vi bạo lực của mình và người dân hầu như không có

người phụ nữ đã không còn khả năng chịu đựng và buộc phải lên tiếng. (Lưu
Bích N gọc, Đinh N gọc Quý, 2004)
Bên cạnh đó, có nhiều nguyên nhân khác dẫn đến bạo lực gia đình như
nguyên nhân kinh tế, rượu chè, cờ bạc, tác động của gia đình chồng, tình dục
và ngăn cấm sử dụng biện pháp tránh thai (N guyễn Thị Thu Hà, 1998). Trong
nhiều trường hợp, nghèo khổ, thu nhập thấp, việc làm không ổn định, buôn bán
thua lỗ, phá sản, thất nghiệp, gia đình đông con chính là bối cảnh, là mảnh đất
thuận lợi làm nảy sinh và nuôi dưỡng bạo lực gia đình. Trong lúc khó khăn,
thần kinh căng thẳng, người chồng quên rằng vợ mình cũng là người chịu
chung nỗi khổ, họ trút lên đầu vợ mọi nỗi bực dọc. Khi uống rượu say xỉn, có
những người đàn ông đánh đập vợ con tàn nhẫn, đến lúc tỉnh không chịu thừa
nhận những hành động đã làm. Có người ham mê cờ bạc, bắt ép vợ con đưa
tiền, nếu không có thì đánh chửi, hành hung. Sự việc diễn ra hết lần này đến lần
khác khiến cho người phụ nữ phải gánh chịu rất nhiều đau khổ. N hiều trường
hợp, bạo lực gia đình lại nảy sinh do sự tác động của các thành viên trong gia
đình nhà chồng với những hành vi xúi giục, những lời nói xúc xiểm, chia rẽ.
Trong quan hệ tình dục, một số nam giới cho rằng họ có quyền tuyệt đối với
vợ, xem vợ đơn thuần như một công cụ thỏa mãn tình dục mà không hề quan
tâm đến tâm trạng, sức khỏe của vợ. Xem hành động từ chối quan hệ tình dục
của vợ là một sự xúc phạm, họ đã sử dụng bạo lực để thực hiện quyền làm
chồng của mình. Và cũng có những người đàn ông quan niệm, nhận thức sai
lầm về vấn đề kế hoạch hóa gia đình, họ ngăn cấm, đánh đập không cho vợ áp
dụng các biện pháp tránh thai. Hành động này vi phạm nghiêm trọng quyền
sinh sản, làm ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe sinh sản của người phụ nữ.
2.4. Hậu quả và tổn hại do bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình làm gia tăng sự bất bình đẳng giới và làm phương hại đến
danh dự, sức khỏe, an ninh và quyền tự chủ của các nạn nhân. Trong không khí
nặng nề với những khổ đau âm thầm, nạn nhân bị khủng hoảng, cảm thấy bị
xúc phạm, bị làm nhục, buồn khổ, u uất. N hiều phụ nữ bị sNy thai do bị đánh
đập trong thời kỳ mang thai, thai có nhiều triệu chứng rủi ro; nhiều người phải

Hầu hết phụ nữ bị bạo lực tình dục cũng đồng thời bị bạo lực thể xác và
những người phải gánh chịu cả bạo lực thể xác lẫn bạo lực tình dục đều cho
biết bạo lực thể xác thường nghiêm trọng hơn. Các hành vi bạo lực thường bắt
đầu sớm từ khi người phụ nữ thiết lập quan hệ hôn nhân với người chồng và
cũng thường lặp đi lặp lại nhiều lần. So với bạo lực thể xác, bạo lực tình dục và
bạo lực tinh thần có xu hướng tiếp diễn lâu dài hơn trong quan hệ hôn nhân của
người phụ nữ (N ghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt
N am, 2010). Bên cạnh những thương tích về mặt thể chất, tổn thương về tâm
lý, tinh thần có phần dai dẳng và mức độ tác động nặng nề hơn. N ỗi ám ảnh về
những hành vi bạo lực luôn dày vò khiến người phụ nữ phải sống trong cảnh

10
“địa ngục trần gian”, bị đNy vào con đường cùng quẫn và tương lai trở nên mù
mịt. Gia đình không còn là tổ ấm, là nơi trú ngụ an toàn, nơi bao bọc và che
chở cho họ. Hậu quả của bạo lực gia đình không chỉ tác động tiêu cực tới một
cá nhân, một gia đình cụ thể, mà có thể trở thành một vấn nạn, đặc biệt đối với
phụ nữ và trẻ em, hệ lụy tới cả xã hội và cộng đồng. Bạo lực gia đình không chỉ
ảnh hưởng tới những người trực tiếp hứng chịu bạo lực mà còn để lại hậu quả
cho cả những thế hệ mai sau. (N guyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh, 2009)
N hư vậy, các nghiên cứu đi trước đã cung cấp những góc nhìn đa dạng, sâu
sắc về vấn đề bạo lực gia đình; nhiều nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu, phân tích
các hình thức bạo lực gia đình, nguyên nhân và hậu quả của nó. Bạo lực gia
đình tồn tại trong nhiều gia đình, ở cả nông thôn lẫn thành thị. Bạo lực gia đình
chưa được nhận thức đúng mức vì đa số người dân đều cho rằng đó là vấn đề
riêng của mỗi gia đình, của từng cá nhân, người ngoài không có tư cách can
thiệp. Tư tưởng trọng nam khinh nữ, sự ngộ nhận về vai trò của phụ nữ và nam
giới trong các lĩnh vực đời sống cũng là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng bạo lực
gia đình. N hững nguyên nhân khác có thể kể ra là nghèo khổ, thu nhập thấp,
việc làm không ổn định, buôn bán thua lỗ, phá sản, thất nghiệp, gia đình đông
con, v.v… Bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục… tất cả đều để

hướng cam chịu.
4.3. Khung phân tích
4.3.1. Khung phân tích thứ nhất

Các
yếu
tố cá
nhân
người
phụ
nữ
Trình độ học vấn
Cơ hội tiếp cận thông tin
Mức độ hiểu biết về pháp luật
Mức độ hiểu biết về quyền phụ nữ
Mức sống hộ gia đình
N hận thức của người chồng
N ghề nghiệp của người chồng

của phụ nữ

5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu: tác động của bạo lực gia đình tới sức khỏe của
người phụ nữ.
5.2. Khách thể nghiên cứu chủ yếu: người vợ và người chồng trong những
gia đình có hành vi bạo lực.
Bên cạnh đó có thể tìm hiểu thêm các đối tượng có liên quan như các thành
viên khác trong gia đình, hàng xóm, người dân địa phương, chính quyền địa
phương, các đoàn thể quần chúng.
5.3. Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 09 năm 2010 đến tháng 06 năm 2011.
- Không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tại 3 điểm là thị trấn Đông Anh,
xã Cổ Loa và xã Kim Chung (huyện Đông Anh - thành phố Hà N ội).

13
5.4. Đặc điểm chung về địa bàn nghiên cứu:
Đông Anh là một huyện ngoại thành phía Bắc thành phố Hà N ội, gồm có thị
trấn Đông Anh và 23 xã: Bắc Hồng, Cổ Loa, Dục Tú, Đại Mạch, Đông Hội,
Hải Bối, Kim Chung, Kim N ỗ, Liên Hà, Mai Lâm, N am Hồng, N guyên Khê,
Tàm Xá, Thụy Lâm, Tiên Dương, Uy N ỗ, Vân Hà, Vân N ội, Việt Hùng, Võng
La, Xuân Canh, Xuân N ộn, Vĩnh N gọc.
Thị trấn Đông Anh có diện tích 453km
2
. Dân số khoảng 24.000 người. Đây
là đơn vị duy nhất của huyện Đông Anh không trực tiếp tham gia sản xuất nông
nghiệp. Dân cư thị trấn chủ yếu làm việc trong các cơ quan nhà nước, buôn bán
kinh doanh, làm dịch vụ thương mại.
Xã Cổ Loa có diện tích 802ha. Tổng số hộ trên toàn xã là 4.448 hộ với
16.514 nhân khNu. Dân cư chủ yếu làm nông nghiệp (2.446 hộ). N goài ra còn

đình đối với phụ nữ trong nghiên cứu này được hiểu là bạo lực của người
chồng đối với người vợ.
6.4. Đời sống của người phụ nữ được hiểu là do nhiều yếu tố cấu thành,
bao gồm quan hệ vợ chồng, đời sống tình cảm, các mối quan tâm xã hội, sức
khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, v.v… N hưng ở đây, trong phạm vi nghiên
cứu có hạn,
đời sống của người phụ nữ chủ yếu được xét đến ở 3 khía cạnh:
sức khỏe thể chất, sức khỏe tình dục và đời sống tinh thần do chịu ảnh
hưởng từ hành vi bạo lực của người chồng trong gia đình.
- Sức khỏe thể chất: chấn thương các bộ phận cơ thể, ngất, bất tỉnh…
- Sức khỏe tình dục: các bệnh viêm nhiễm đường tình dục, HIV/AIDS, rối
loạn phụ khoa, ghê sợ, vô cảm, suy nghĩ tiêu cực về tình dục …
- Sức khỏe tinh thần: lo sợ, căng thẳng sau chấn thương, tính tự trọng thấp,
trầm cảm, hoảng loạn, mất ngủ, mất trí nhớ, bệnh tâm thần, muốn tự tử…
7. Phương pháp nghiên cứu và chọn mẫu
7.1. Phương pháp nghiên cứu
Do tính chất nhạy cảm của vấn đề nghiên cứu, đề tài chú trọng sử dụng các
phương pháp định tính trong thu thập và phân tích thông tin.
Chú trọng sử dụng phương pháp “quả bóng tuyết” để tiếp tục lựa chọn thêm
những đối tượng cần phỏng vấn.
Phương pháp quan sát được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu nhằm
kiểm chứng, hiểu rõ hơn các thông tin thu được qua thái độ, cử chỉ, hành vi
cũng như môi trường và hoàn cảnh của người cung cấp thông tin.
Để có một hình dung mang tính định lượng, bên cạnh các thông tin được
tập hợp từ các kết quả nghiên cứu đã được công bố (trong đó có Điều tra của

15
N gân hàng thế giới năm 1999, Điều tra thực trạng bình đẳng giới Việt N am
năm 2005, Điều tra Gia đình Việt N am năm 2006 và N ghiên cứu quốc gia về
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt N am năm 2010), nhóm nghiên cứu cũng

16
bạo lực đối với người thân trong gia đình. Sự căng thẳng trong gia đình, trong
xã hội nảy sinh khi cá nhân không có đủ các nguồn lực về tâm lý, xã hội và
kinh tế để đáp ứng sự kỳ vọng của bạn bè, người thân, đồng nghiệp và của
chính bản thân họ. Chẳng hạn như không được thăng tiến trong công việc, gặp
rắc rối với đồng nghiệp, ly hôn, ngoại tình, thất nghiệp, lạm phát giá cả, gia
tăng các chi phí nuôi con… Tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa sự căng thẳng
trong gia đình và xã hội với bạo lực gia đình. Cá nhân không chỉ sử dụng bạo
lực như một cách thức đương đầu với sự căng thẳng xã hội họ đang phải hứng
chịu mà còn xem đó là cách giải quyết những xung đột trong đời sống cá nhân.
Bất cứ khi nào có sự mất cân bằng về kỳ vọng, cá nhân có thể sử dụng bạo lực
để kiểm soát tình hình. Hành vi bạo lực được xem là cách thức để bù đắp cho vị
thế thấp kém hoặc lòng tự trọng bị tổn thương. (Phùng Thị Kim Anh, 2008)
Trong lý thuyết xã hội hóa vai trò giới, bạo lực gia đình được xem là một
trong những kết quả của quá trình xã hội hóa cá nhân, là hành vi do bắt chước,
học theo, làm theo mà có. Các mô hình, kết cấu hành vi, tình cảm và thái độ
đặc thù cho mỗi giới đã có sẵn trong xã hội trước khi con người được sinh ra.
Từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, con người không ngừng tiếp thu và làm theo
các mô hình, kết cấu vốn luôn tồn tại khách quan đó. Động cơ bạo lực, hành vi
bạo lực, thái độ “bình thường hóa” của người chồng xuất phát từ sự tiếp nhận,
làm theo những tấm gương quan sát thấy trong bản thân gia đình và cộng đồng.
Sự nhẫn nhịn và thái độ “cam chịu” của người vợ cũng có điểm xuất phát
tương tự, và đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến và thúc đNy khả
năng tái diễn của bạo lực gia đình.
Cách tiếp cận sinh thái học đối với bạo lực chỉ ra rằng, bạo lực gia đình
xảy ra không phải do một nhân tố duy nhất mà là sự kết hợp của nhiều nhân tố
ở các cấp độ khác nhau. Ở cấp độ cá nhân, tồn tại một số khả năng như người
gây ra bạo lực từng là nạn nhân của bạo lực, từng bị lạm dụng tình dục, từng
phải chứng kiến hành vi bạo lực của cha mẹ và người thân, không có cha mẹ
hoặc bị cha mẹ chối bỏ và thường xuyên uống rượu. Ở cấp độ gia đình, các

hành vi đó bị tác động bởi những phản ứng và phán xét của các thành viên
khác. Khi người chồng có hành vi bạo lực, nếu người vợ luôn tỏ thái độ cam
chịu, thì hành vi bạo lực sẽ không chỉ xảy ra một lần, càng về sau người chồng
càng coi đó là hành vi bình thường đến mức có thể chấp nhận được, còn người
vợ sẽ phải gánh chịu những hậu quả nặng nề về sức khỏe thể chất, đời sống
tinh thần và sức khỏe tình dục. N ếu người vợ không chấp nhận mà tỏ thái độ
phản kháng, hành vi bạo lực của người chồng có thể hoặc không tái diễn hoặc
suy giảm mức độ thường xuyên, sức khỏe của người phụ nữ ở các phương diện
nêu trên ít phải gánh chịu ảnh hưởng tiêu cực.

18
N hư vậy, bạo lực gia đình có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. N ó có thể là
biểu hiện của vị thế bất bình đẳng của phụ nữ trong cộng đồng, do sự phân bố
không đồng đều về quyền lực giữa nam giới và nữ giới. N ó cũng có thể bắt
nguồn từ những hành vi bắt chước, học theo, làm theo, hoặc xuất phát từ những
căng thẳng trong gia đình và xã hội. Bạo lực gia đình thường là sự kết hợp tổng
hòa của nhiều nhân tố ở nhiều cấp độ. Với mọi nguồn căn nguyên, bạo lực gia
đình luôn để lại những hậu quả nặng nề cho nạn nhân bị bạo lực, trong đó có
phụ nữ. Phụ nữ là đối tượng chính phải gánh chịu những hậu quả về sức khỏe
thể chất, tinh thần và sức khỏe tình dục do hành vi bạo lực của người chồng.
N ạn nhân của bạo lực gia đình nói chung và phụ nữ bị bạo lực nói riêng
phải có thái độ phản kháng, có biện pháp ứng phó phù hợp để thay đổi tình
trạng bạo lực, để phòng chống và ngăn ngừa sự tái diễn của các hành vi bạo
lực. N gười phụ nữ càng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng, bạo lực gia đình càng
có khả năng xảy ra với tần suất và mức độ gia tăng. N gười phụ nữ càng phản
kháng kiên quyết, mạnh mẽ, họ càng có nhiều cơ hội thoát khỏi bạo lực gia
đình
.
đựng mọi đòn đánh, hành vi ngược đãi của người chồng cho dù hành vi này
diễn ra thường xuyên, lặp đi lặp lại nhiều lần và đã có lúc người phụ nữ tưởng
như hết khả năng chịu đựng. Chúng tôi coi kiểu hành động như vậy là phản
ứng yếu.

20

Trích đoạn PHẦN NỘI DUNG Bạo lực tình dục CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU ĐỐI TƯỢNG GÂY BẠO LỰC CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU CÂU HỎI HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM PHỤ NỮĐÃ CÓ GIA ĐÌNH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status