Vai trò của Viện Kiểm sát trong thủ tục Giám đốc thẩm các vụ án hình sự - Pdf 25



1

Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí
Hà Nội – 2012 2
MỤC LỤC
14
1.2.
Vai trò của cơ quan công tố (Viện kiểm sát) trong thủ tục
giám đốc thẩm một số nước trên thế giới
30
1.2.1.
Vai trò của Viện công tố trong thủ tục giám đốc thẩm hình
sự theo pháp luật liên bang Hoa Kỳ - quốc gia theo truyền
thống luật án lệ (common law)
30
1.2.2.
Vai trò của Viện Công tố trong thủ tục giám đốc thẩm (thủ
tục phá án) theo pháp luật của Cộng hòa Pháp
31
1.2.3.
Vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm theo
pháp luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga
33
1.2.4
Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục giám đốc
thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa
36
1.2.5
Một số bài học kinh nghiệm Việt Nam có thể vận dụng đê
hoàn thiện và nâng cao vai trò của Viện kiểm sát trong thủ
tục giám đốc thẩm
39
1.3.
Vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm ở

69
2.1.3.
Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp tại
phiên tòa giám đốc thẩm
72
2.2.
Những vướng mắc trong việc thụ lý, giải quyết các trường
hợp đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hình sự
74
2.2.1.
Tình trạng quá tải trong việc giải quyết án giám đốc thẩm
hình sự ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao
74
2.2.2.
Quy định của pháp luật liên quan đến việc xử lý, giải quyết
các trường hợp đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm còn
những điểm bất cập
75
2.2.3.
Một số khó khăn khác
76
2.3.
Nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình thụ lý, giải
quyết vụ án hình sư theo thủ tục giám đốc thẩm
76
2.3.1.
Nguyên nhân chủ quan
76
2.3.2.
Nguyên nhân khách quan

thủ tục giám đốc thẩm
100
KẾT LUẬN
107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
109
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số ký hiệu
Tên bảng
Trang
2.1
Kết quả thụ lý, giải quyết đơn đề nghị kháng nghị
giám đốc thẩm vụ án hình sự trong phạm vi cả nước
(từ 1/12/2006 đến 30/11/2011)
57
2.1
Kết quả thụ lý giải quyết đề nghị kháng nghị giám
đốc thẩm, tái thẩm của các Viện kiểm sát địa phương
và 3 Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm (từ 1/12/2006
đến 30/11/2011)
60
2.3
Kết quả thụ lý, giải quyết án theo thủ tục kháng nghị
giám đốc thẩm vụ án hình sự (từ 1/12/2006 đến
30/11/2011)
70
2.4
Kết quả xét xử giám đốc thẩm vụ án hình sự (từ
1/12/2006 đến 30/11/2011)
71

của Viện Kiểm sát nhưng cũng gắn với đó là trách nhiệm nặng nề nhằm đảm
bảo cho việc truy tố được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế đến
mức thấp nhất tình trạng oan sai và bỏ lọt tội phạm. Thực hành quyền công tố
là một hoạt động mấu chốt trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nó được
tiến hành từ khi người thực hiện hành vi phạm tội bị khởi tố cho đến khi thi
hành phán quyết của Tòa án về hành vi phạm tội đó.
Tuy nhiên, qua thực tiễn tố tụng cho thấy các phán quyết của Tòa án
qua các bản án, quyết định không phải khi nào cũng đúng mà có không ít bản 8
án, quyết định sai phạm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai lầm
trong áp dụng luật hình sự xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị
kết án hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Đòi hỏi tất yếu
cho thấy việc khắc phục những sai lầm, vi phạm đó là hết sức cần thiết, nhằm
một mặt bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kết án hoặc người có
liên quan đến vụ án, mặt khác để đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ một
cách triệt để. Đó là những yêu cầu thiết yếu cần phải có thủ tục đặc biệt trong
tố tụng hình sự để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ
tục giám đốc thẩm. Đây là một chế định quan trọng của luật tố tụng hình sự
và là một thủ tục đặc biệt trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Điều 272
Bộ luật tố tụng hình sự quy định “Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết
định có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp
luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án” [3, tr 199]. Thực tiễn khẳng định,
kháng nghị giám đốc thẩm chính là một biện pháp, một công cụ hữu hiệu để
kiểm tra lại tính hợp pháp của các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Tuy nhiên, qua tổng kết hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân cho thấy,
bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm
sát các hoạt động tư pháp vẫn còn nhiều hạn chế nhất là trong lĩnh vực giám
đốc thẩm vụ án hình sự: tình trạng đơn yêu cầu kháng nghị giám đốc thẩm

điểm hiện nay.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Công tác giải quyết án hình sự trong giai đoạn xét xử nói chung và giai
đoạn giám đốc thẩm nói riêng đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên
cứu của các học giả, các cuốn sách, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các bài
viết trên các tạp chí …Có thể thống kê một số công trình sau: 10
- TS. Dương Thanh Biểu (2010),“Kỹ năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm”, Nhà
xuất bản tư pháp;
- Đinh Văn Quế (1997),“Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự - những
vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia;
- Tôn Thiện Phương (2002), “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong
xét xử vụ án hình sự”, Luận văn Thạc sĩ, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Chuyên đề (2008), "Một số vấn đề rút ra từ các bản án hoặc quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị giám đốc thẩm hủy đề điều tra lại
hoặc xét xử lại", Vụ 3, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Chuyên đề (2006), “Nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm,
tái thẩm, công tác kiểm tra giám đốc thẩm hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách
tư pháp hiện nay”, Vụ 3, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Đỗ Văn Đương (2006), “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải
cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Kiểm sát, Hà Nội;
Tuy vậy, các nghiên cứu, bài viết và chuyên đề nêu trên đều đề cập một
cách toàn diện, hệ thống thủ tục giám đốc thẩm hoặc vai trò của Viện kiểm sát
trong quá trình tố tụng. Còn luận văn tập trung đến vai trò, trách nhiệm của
Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục giám đốc thẩm trên cơ sở phân tích
những vấn đề lý luận, thực tiễn góp phần giải quyết một số vấn đề pháp lý,
nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng của Viện kiểm sát ở giai đoạn giám

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ
sau: 12
Một là, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về vai
trò, trách nhiệm, quyền hạn, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai
đoạn giám đốc thẩm các vụ án hình sự ở Việt Nam và một số nước trên thế
giới.
Hai là, chỉ rõ những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật tố
tụng hình sự hiện hành gây ra khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình ở giai đoạn giám đốc thẩm trong giai
đoạn từ năm 2007 đến năm 2011.
Ba là, đề xuất các quan điểm luận chứng, một số tiêu chí hoàn thiện các
quy định về vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: là những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò,
của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục giám đốc thẩm hình sự ở Việt Nam
và một số nước trên thế giới.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Do điều kiện có hạn, luận văn chỉ
tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về thủ tục giám đốc thẩm cũng như
vai trò của Viện kiểm sát nhân dân (trừ Viện kiểm sát quân sự) theo thủ tục
giám đốc thẩm đối với các bản án hình sự. Luận văn không nghiên cứu thủ
tục này đối với các bản án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận: Để phù hợp với nội dung nghiên cứu và giải quyết được
các nhiệm vụ mà đề tài đặt ra; Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa
Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Đường lối
quan điểm của Đảng thực hiện cải cách tư pháp về xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công

14
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn
gồm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò của Viện kiểm sát trong thủ
tục giám đốc thẩm.
Chương 2: Thực tiễn về vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám
đốc thẩm.
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao vai trò
của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm.

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM
SÁT TRONG THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM
1.1. VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG THỦ TỤC GIÁM ĐỐC
THẨM
1.1.1. Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc
thẩm
Cũng như thông lệ quốc tế, các hoạt động tố tụng hình sự trong pháp
luật Việt Nam đều nhằm phát hiện và xử lý chính xác, kịp thời và công minh
mọi hành vi phạm tội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ
các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể và công dân. Để đạt được 15
mục đích đó, Bộ luật tố tụng hình sự quy định các cơ quan tiến hành tố tụng
hình sự phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án

- Một là, chỉ thực hiện đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật. Theo quy định tại khoản 1, Điều 255 Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003, những bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật bao gồm: (1)
những bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; (2) những bản án và quyết định của Tòa
án cấp phúc thẩm; (3) những quyết định của Tòa án cấp giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm.
- Hai là, có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án.
- Ba là, có kháng nghị của người có thẩm quyền.
Là một thủ tục tố tụng đặc biệt, xong ở mỗi hệ thống pháp luật khác
nhau mà quan niệm về thủ tục giám đốc thẩm cũng có sự khác nhau. Trong hệ
thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới theo truyền thống luật án lệ
thường không quy định thủ tục giám đốc thẩm hay thủ tục phá án mà việc
kháng cáo được tiến hành theo thủ tục tố tụng tại Tòa kháng cáo với nhiều
loại thủ tục khác nhau như pháp luật Australia hay pháp luật Hoa Kỳ. Theo hệ
thống pháp luật của những nước này thì đều coi các bản án, quyết định đã
tuyên của Tòa án cấp thứ nhất (tòa sơ thẩm) là phán quyết cuối cùng và có
hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án; tuy nhiên các cấp tòa án cao hơn
vẫn có thể xem xét lại các bản án, quyết định đã tuyên của tòa án cấp thấp hơn
nếu bị kháng cáo hay kháng nghị. Việc xem xét lại các phán quyết cuối cùng
này cùng có phần tương tự như thủ tục xét lại bản án có hiệu lực pháp luật
hoặc lời kết tội của quy chế Rôma về Tòa hình sự quốc tế (ICC). Điều 84, quy
chế Rôma: "Người bị kết án hoặc nếu người đó chết thì vợ hoặc chồng, con,
cha, mẹ hoặc một người đang sống vào thời điểm bị cáo chết mà được người
đó chỉ dẫn rõ ràng bằng văn bản việc đệ đơn khiếu nại, hoặc Trưởng công tố 17
có quyền đề nghị Hội đồng Phúc thẩm xét lại phán quyết cuối cùng về lời
buộc tội hoặc bản án". Tuy khác nhau về tên gọi, nhưng việc các chủ thể

sai lầm trong bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật đồng thời thực
hiện quyền kháng nghị giám đốc thẩm để sửa chữa, khắc phục những sai lầm
đó; vừa là chủ thể đảm bảo cho hoạt động xét xử giám đốc thẩm được tiến
hành đúng quy định của pháp luật. Theo quy định của Hiến pháp hiện hành thì
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thuộc nhánh quyền tư pháp trong cơ cấu tổ
chức bộ máy nhà nước, chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp là hai chức năng hiến định của Viện kiểm sát. Do đặc thù
của từng giai đoạn, từng thủ tục tố tụng mà hình thức thể hiện các dạng quyền
năng tương ứng với từng giai đoạn như quyền truy tố, xét hỏi, tranh luận, luận
tội, phát biểu ý kiến, kết luận kháng nghị… cũng khác nhau. Ở giai đoạn này,
chức năng công tố của Viện kiểm sát vẫn tiếp tục được duy trì, quyền công tố
thể hiện rõ nét nhất chính là quyền kháng nghị giám đốc thẩm, hoạt động
kiểm sát việc tuân theo pháp luật cũng xoay quanh việc kháng nghị hay không
kháng nghị giám đốc thẩm. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát là căn
cứ giúp cho Hội đồng giám đốc thẩm quyết định việc chấp nhận hay bác bỏ
các nội dung kháng nghị cho rằng bản án đã có hiệu lực pháp luật có sai lầm
nghiêm trọng. Qua đó đảm bảo việc đưa bản án đã có hiệu lực pháp luật ra thi
hành đúng đắn, phù hợp với chân lý khách quan, góp phần bảo vệ quyền con
người xét trên cả hai góc độ: bảo vệ công dân trước sự xâm hại của các loại
tội phạm và bảo đảm quyền và lợi ích của người bị kết án. Để hoàn thành vai
trò quan trọng của mình, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003,
với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện thủ tục giám đốc thẩm
vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân cũng có những quyền hạn nhất định
gắn liền với trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể tương ứng và phù hợp với chức
năng của ngành kiểm sát nhân dân. Cụ thể: quyền kháng nghị theo thủ tục 19
giám đốc thẩm; quyền hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Tòa án; quyền tham gia phiên tòa, phát biểu ý kiến của

pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật. Hiến
pháp năm 1992 tuy có sửa đổi một số quy định về tổ chức và phạm vi hoạt
động của Viện kiểm sát nhưng chức năng công tố vẫn giao cho Viện kiểm sát
đảm nhiệm. Đến Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 thì Viện kiểm sát nhân dân có hai chức
năng: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Tại Nghị
quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về "Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020" vẫn khẳng định: "Viện kiểm sát nhân
dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm
sát các hoạt động tư pháp" [15, tr 5].
Riêng ở giai đoạn giám đốc thẩm, vẫn là chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đối với các chủ
thể, nhưng có những điểm khác biệt đối với thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong các giai đoạn khác của tố tụng hình sự.
Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn
giám đốc thẩm chỉ có thể phát sinh khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
lực pháp luật bị kháng nghị vì có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong
việc xử lý vụ án [3, tr 199].
Trong quá trình thực hành quyền công tố ở giai đoạn giám đốc thẩm,
thì Kiểm sát viên, Kiểm tra viên Viện kiểm sát là những người trực tiếp thực
hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Thực hành quyền công tố thể hiện rõ nét nhất ở giai đoạn này chính là quyền
kháng nghị Giám đốc thẩm, quyền tham gia phiên tòa và phát biểu quan điểm 21
về việc giải quyết vụ án. Thông qua việc xem xét lại các bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp hoặc cấp dưới gửi đến (được gọi là
nguồn án văn), thông qua việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của người bị

luật của Tòa án và thực hiện quyền kháng nghị đối với những bản án, quyết
định đó; vừa là chủ thể đảm bảo cho hoạt động của phiên tòa giám đốc thẩm
được tiến hành đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, thông qua hoạt động
phát biểu quan điểm, kết luận về nội dung kháng nghị của đại diện Viện kiểm
sát, Hội đồng giám đốc thẩm đưa ra được những quyết định có căn cứ, đúng
pháp luật bảo đảm việc xét xử được đúng người, đúng tội, góp phần đấu tranh
phòng ngừa và chống vi phạm pháp luật, đảm bảo pháp chế Xã hội chủ nghĩa.
1.1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong thủ tục giám
đốc thẩm
Để thực hiện tốt chức năng Hiến định của ngành Kiểm sát nhân dân,
với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, trong thực hiện thủ tục giám đốc
thẩm vụ án hình sự Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền sau:
- Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;
- Tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định bị kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm;
- Tham gia phiên tòa, phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân
trong việc giải quyết vụ án.
Một là: thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm
Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là quyết định của người có
thẩm quyền đối với toàn bộ hay một phần bản án hoặc quyết định của Tòa án 23
đã có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xét lại theo thủ tục
giám đốc thẩm.
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm là cơ sở phát sinh thủ tục giám
đốc thẩm, nếu không có kháng nghị giám đốc thẩm thì cho dù bản án hoặc
quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng, vụ án cũng không được xét xử lại theo thủ tục giám đốc thẩm.

quyền kháng nghị quyết định phạm vi, nội dung của việc kháng nghị. Khi có
kháng nghị của người có thẩm quyền, trong thời hạn luật định, Tòa án phải
xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm. Tính có căn cứ của
kháng nghị là cơ sở để Hội đồng giám đốc thẩm đưa ra quyết định chấp nhận
hay không chấp nhận kháng nghị chứ không phải là căn cứ để Tòa án xem xét
có mở thủ tục giám đốc thẩm hay không.
Về nội dung kháng nghị: Điều 285 BLTTHS năm 2003 quy định về
thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm. Đây cũng chính là nội dung kháng
nghị của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm. Xét trên phương diện
kháng nghị giám đốc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân có thể kháng nghị theo
hai hướng:
Thứ nhất, trường hợp khi Kiểm sát viên được giao giải quyết vụ án
chứng minh được bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
có một trong những căn cứ được quy định tại Điều 107 BLTTHS, gồm: (1)
không có sự việc phạm tội; (2) hành vi không cấu thành tội phạm; (3) người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình
sự; (4) người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình
chỉ vụ án có hiệu lực; (5) đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; (6) tội
phạm đã được đại xá; (7) người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã
chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác thì báo cáo lãnh đạo 25
Viện kháng nghị theo hướng hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp
luật và đình chỉ vụ án.
Thứ hai, khi xác minh được bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án có một trong những căn cứ quy định tại Điều 273 BLTTHS,
cụ thể: (1) việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ; (2)
kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết
khách quan của vụ án; (3) có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status