Vai trò của Viện kiểm sát trong việc khởi tố vụ án hình sự - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN KHẮC QUANG

VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS. TS Đỗ Ngọc Quang


1.2.4. Khái quát lịch sử các quy định pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến vai trò của
Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự 30
Chương 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA
VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 37

2

2.1. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ VAI
TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 37
2.1.1. Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 37
2.1.2. Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án
hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 41
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN
HÌNH SỰ 53
2.2.1. Những kết quả đạt đƣợc 53
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế về hoạt động của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự
59
2.3. NGUYÊN NHÂN NHỮNG HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM
SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 63
2.3.1. Những bất cập trong các quy định của pháp luật về vai trò của Viện kiểm sát trong
khởi tố vụ án hình sự 63
2.3.2. Những vƣớng mắc trong tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Viện
kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự 67
2.3.3. Những khó khăn về công tác cán bộ và đảm bảo cơ sở vật chất của ngành Kiểm sát
68
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN
KIỂM SÁT TRONGKHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 70
3.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN
KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 71

sai phạm của những người tiến hành tố tụng làm nhiệm vụ
1

Trong những năm qua, thực hiện chỉ đạo của VKS nhân dân tối cao, các
VKS địa phƣơng trong cả nƣớc đã thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của ngành,
nâng cao tỉ lệ phát hiện tội phạm, hạn chế bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, bên cạnh
kết quả đạt đƣợc vẫn còn có những hạn chế nhƣ: Tình trạng hồ sơ vụ án phải trả
để điểu tra bổ sung nhiều, năm 2011 VKS đã trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra

1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội. 4

(CQĐT) để điều tra bổ sung 1.257 vụ, Tòa án trả cho VKS là 1.398 vụ, năm
2012 VKS trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung 1.216 vụ, Tòa án trả cho
VKS 1.570 vụ. Vẫn còn nhiều ngƣời bị bắt, khởi tố, điều tra oan, sai. Theo số
liệu thống kê của VKS nhân dân tối cao trong trong năm 2011 CQĐT và VKS
đã phải đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 25 BLHS 1.055 bị can,
đình chỉ 94 bị can do không phạm tội; năm 2012 CQĐT và VKS đã phải đình
chỉ 561 vụ và 1.286 bị can. Trong số các bị cáo Tòa án đã xét xử năm 2011 có
13 bị cáo và năm 2012 có 16 bị cáo Toà án tuyên không phạm tội
2
. Những hạn
chế đó đã gây ra những hậu quả về danh dự, nhân phẩm cũng nhƣ vật chất đối
với những ngƣời bị bắt, khởi tố, điều tra oan, sai, làm ảnh hƣởng không nhỏ đến
uy tín của ngành Kiểm sát nói riêng và các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung
trƣớc quần chúng nhân dân và dƣ luận xã hội.

Trong những năm qua, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của VKS
trong khởi tố vụ án hình sự đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên
quan đến vấn đề này, qua nghiên cứu tìm hiểu cho thấy, các công trình khoa học
tập trung nghiên cứu theo những khía cạnh sau:
Nghiên cứu chung về việc đổi mới tổ chức, hoạt động của VKS nhân
dân. Điển hình nhƣ: tác giả Khuất Văn Nga với bài viết: Những chủ trương của
Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của VKS nhân
dân trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Kiểm sát, số 7/2005, 2005; Tác giả Đỗ Văn
Đƣơng với bài viết: Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở
nước ta hiện nay, Tạp chí Kiểm sát số 4/2006; Tác giả Nguyễn Minh Đức với
bài viết: “Về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo tinh thần cải cách tư
pháp”, Tạp chí Kiểm sát số 9/2006; Tác giả Lê Hữu Thể với bài viết: “Tổ chức
bộ máy và chức năng nhiệm vụ của VKS trong tiến trình cải cách tư pháp”, Tạp
chí Kiểm sát, số 6/2008
Nghiên cứu về quyền công tố và thực hành quyền công tố trên một số
lĩnh vực cụ thể, nhƣ các tác phẩm nhóm tác giả do TS. Lê Hữu Thể (Chủ biên):
Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn
điều tra (Sách tham khảo), Nxb. Tƣ pháp, Hà Nội, 2005; Tác giả Lê Thị Tuyết
Hoa với Luận án tiến sỹ: Quyền công tố ở Việt Nam, Khoa Luật - Đại học Quốc

6

gia Hà Nội năm 2002; Tác giả Phạm Mạnh Hùng với bài viết: Hoàn thiện các
quy định của BLTTHS về quan hệ giữa VKS và CQĐT trong tố tụng hình sự,
Tạp chí Kiểm sát, số 2/2007
Những công trình khoa học, những bài viết trên đây đã tập trung nghiên
cứu về tổ chức và hoạt động của VKSND nói chung, có một số công trình, bài
viết nghiên cứu về chức năng hoạt động của VKS trên một số lĩnh vực cụ thể.
Về vấn đề “Vai trò của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự”, cũng đã có
một số công trình đề cập đến vấn đề này nhƣng chƣa có công trình nào nghiên

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật VKS biện chứng và duy
vật lịch sử Mác-Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về nhà nƣớc và pháp luật nói chung và tổ chức, hoạt động của VKS
nhân dân nói riêng, đặc biệt là quan điểm của Đảng trong giai đoạn hiện nay về
cải cách tƣ pháp.
Trên cơ sở phƣơng pháp luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng các
phƣơng pháp nghiên cứu truyền thồng của khoa học xã hội nhƣ: Lý luận – thực
tiễn, Phân tích – tổng hợp, Lịch sử - cụ thể; kết hợp với các phƣơng pháp nghiên
cứu khác nhƣ: So sánh luật học, thống kê
6. Các đóng góp mới của luận văn
Luận văn là tài liệu chuyên khảo nghiên cứu tƣơng đối có hệ thống và
toàn diện về vài trò VKS trong khởi tố vụ án hình sự, cụ thể là:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của VKS trong
khởi tố vụ án hình sự, góp phần xây dựng một cách nhìn toàn diện về vị trí và

8

chức năng của VKS trong giai đoạn khởi tố. Qua đó thấy đƣợc vai trò quan
trọng của VKS trong công tác phòng, chống tội phạm.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động của VKS trong khởi tố vụ
án hình sự. Trên cơ sở đó chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của
những hạn chế và đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động của VKS trong khởi tố vụ án hình sự.
7. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vai
trò của VKS trong khởi tố vụ án hình sự. Luận văn góp phần làm phong phú
thêm tri thức về pháp luật tố tụng hình sự, đấu tranh chống tội phạm và phòng
ngữa tội phạm trên thực tiễn, nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân đƣợc pháp luật bảo hộ.

pháp luật đƣợc đƣa vào thi hành. Mỗi giai đoạn tố tụng thực hiện các nhiệm vụ
cụ thể của quá trình tố tụng. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về phân
chia các giai đoạn tố tụng hình sự, song hầu hết các quan điểm đều thừa nhận
“khởi tố vụ án là một giai đoạn tố tụng” có vị trí đặc biệt và có vai trò riêng
trong quá trình tố tụng hình sự. Nó đƣợc coi là một giai đoạn khởi động quá
trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự.
Theo Từ điển luật học thì khởi tố vụ án hình sự là hoạt động của cơ quan
tiến hành tố tụng xác định có sự việc phạm tội để tiến hành điều tra phát hiện tội
phạm. Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt
động điều tra. Trong giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành các
hoạt động để xác định dấu hiệu của tội phạm.
3

Theo tác giả Lê Cảm thì giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố
tụng hình sự đầu tiên mà trong đó cơ quan tƣ pháp hình sự có thẩm quyền căn

3
Bộ Tƣ pháp (2006), Từ điển luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr 429

10

cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tiến hành việc xác định có
(hau không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã
đƣợc thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố vụ án (hoặc
không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó.
4
Do vậy, khởi tố vụ án
hình sự là giai đoạn đầu tiên của trình tự giải quyết vụ án, có nhiệm vụ xác định
một sự việc xảy ra trong thực tế có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra
quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Giai đoạn khởi


11

Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đƣợc tiến hành trong một khoảng thời
gian cụ thể, có nhiệm vụ riêng, có chủ thể và các hoạt động tố tụng độc lập với
các giai đoạn tố tụng khác. Khởi tố vụ án hình sự đƣợc coi là một giai đoạn độc
lập của tố tụng hình sự. Do đó, theo chúng tôi, khái niệm khởi tố vụ án hình sự
có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn độc lập của quá
trình tố tụng hình sự, mở đầu cho quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong đó
các cơ quan có thẩm quyền sử dụng các biện pháp mà pháp luật tố tụng hình sự
quy định nhằm xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định
khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có các nhiệm vụ cơ bản nhƣ sau.
Thứ nhất, phát hiện và tiếp nhận các thông tin về tội phạm kịp thời,
chính xác.Phát hiện và tiếp nhận các thông tin về tội phạm là trách nhiệm của
các cơ quan có thẩm quyền và các cơ quan, tổ chức khác đƣợc pháp luật về tố
tụng hình sự quy đinh. Thông tin về tội phạm có thể đƣợc thu thập từ các nguồn
khác nhau nhƣ tố giác của công dân; tin báo về tội phạm của các cơ quan, tổ
chức; ngƣời phạm tội tự thú và đƣợc coi là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền
tiến hành kiểm tra, xác minh nhằm xác định dấu hiệu tội phạm để ra quyết định
khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Pháp luật tố
tụng hình sự quy định trong phạm vi trách nhiệm của mình các cơ quan có thẩm
quyền và các cơ quan, tổ chức khác phải kịp thời phát hiện và tiếp nhận mọi
nguồn tin về tội phạm với các hình thức phù hợp, bảo đảm chính xác
Thứ hai, sử dụng mọi biện pháp luật định tiến hành các hoạt động kiểm
tra, xác minh nhằm nhanh chóng xác định các dấu hiệu của tội phạm. Sau khi
tiếp nhận thông tin về tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt
động kiểm tra, xác minh để xác định xem có sự việc phạm tội xảy ra hay không,
nếu có thì sự việc đó có hay không có dấu hiệu tội phạm? Hoạt động kiểm tra,
xác minh thông tin về tội phạm đƣợc tiến hành bằng nhiều biện pháp khác nhau


13

quả nguy hiểm cho xã hội, các tình tiết khách quan chứng tỏ ngƣời thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội có lỗi
Trƣớc khi quyết định việc khởi tố vụ án hình sự, CQĐT phải xác định
đƣợc hành vi bị khởi tố không thuộc một trong những căn cứ không đƣợc khởi
tố vụ án hình sự quy định tại Điều 107 BLTTHS, đó là các căn cứ: Không có sự
việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; ngƣời thực hiện hành vi chƣa
đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; ngƣời mà hành vi phạm tội của họ đã có bản
án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã đƣợc đại xá; ngƣời thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội đã chết trừ trƣờng hợp cần tái thẩm đối với ngƣời khác.
Sau khi đã xác định dấu hiệu tội phạm đƣợc quy định trong BLHS và
hành vi thực hiện không thuộc một trong các trƣờng hợp không đƣợc khởi tố vụ
án hình sự, cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án cần xem xét đến khả năng hành
vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện có thuộc trƣờng hợp khởi tố theo yêu cầu
của ngƣời bị hại theo quy định tại Điều 105 BLTTHS hay không? Nếu hành vi
đƣợc phát hiện thuộc một trong các trƣờng hợp khởi tố theo yêu cầu của ngƣời
bị hại hoặc ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại là ngƣời chƣa thành niên,
ngƣời có nhƣợc điểm về thể chất hoặc tâm thần thì phải có yêu cầu khởi tố của
ngƣời bị hại bằng đơn hoặc có biên bản đƣợc thiết lập trong trƣờng hợp ngƣời bị
hại không thể viết đơn vì các lý do khác nhau.
Dấu hiệu tội phạm đƣợc xác định dựa trên kết quả, xác minh thông tin về
tội phạm. Những hành vi có dấu hiệu tội phạm nhƣng tính chất nguy hiểm cho
xã hội không đáng kể theo khoản 4 Điều 8 BLHS thì không phải là tội phạm nên
không khởi tố vụ án hình sự mà có thể áp dụng các biện pháp khác.
Cơ sở để xác định căn cứ khởi tố vụ án là những nguồn tin và những sự
việc đƣợc phát hiện mà dựa vào đó cơ quan có thẩm quyền khởi tố xác định dấu


15

đại chúng nhƣ các sự việc đƣợc phản ánh qua báo, tạp chí, phát thanh, truyền
hình là một trong những cơ sở khởi tố vụ án hình sự đƣợc pháp luật quy định
giúp cho các cơ quan có thẩm quyền xác định đƣợc dấu hiệu của tội phạm. Vì
vậy, khi có tin báo về tội phạm trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, các cơ
quan có thẩm quyền trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tiến hành xem
xét, xác minh tin báo đó, nếu thấy có dấu hiệu tội phạm phải ra quyết định khởi
tố vụ án hình sự để điều tra, xử lý tội phạm.
- Cơ quan có thẩm quyền khởi tố trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội
phạm. Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án là những cơ quan có chức năng chính
trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy, trong phạm vi quyền hạn,
trách nhiệm của mình, các cơ quan này có nhiều điều kiện để có thể trực tiếp
phát hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Các cơ quan khác nhƣ Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực
lƣợng Cảnh sát biển và các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân mặc dù chức năng chính là quản lý nhà nƣớc trong những lĩnh vực
nhất định nhƣng do đặc thù công tác nên đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra, vì bằng các hoạt động theo chức năng của mình các cơ quan
này cũng có điều kiện phát hiện sự việc phạm tội. Chính vì vậy, các cơ quan này
khi thực hiện nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu phạm tội thì
việc phát hiện đó đƣợc coi là cơ sở khởi tố vụ án hình sự.
- Ngƣời phạm tội tự thú. Tự thú là việc ngƣời đã thực hiện hành vi phạm
tội tự nguyện trình diện và khai nhận đầy đủ về hành vi phạm tội của mình, mặc
dù tội phạm này chƣa bị phát hiện. Theo quy định tại Điều 102 BLTTHS 2003
thì: “Khi ngƣời phạm tội đến tự thú, cơ quan tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản
ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và những lời khai của ngƣời tự thú. Cơ
quan, tổ chức tiếp nhận ngƣời phạm tội tự thú có trách nhiệm báo ngay cho
CQĐT, VKS”. Các cơ quan này phải kiểm tra, xác minh nhân thân của ngƣời tự



vậy trình tự thủ tục tiến hành các hoạt động trong giai đoạn khởi tố vụ án hình
sự phải đƣợc tiến hành một cách thống nhất và tuân thủ theo đúng những quy
định của pháp luật tố tụng hình sự. Trình tự thủ tục khởi tố vụ án hình sự đƣợc
tiến hành nhƣ sau:
- Tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.Một trong
những nguồn thông tin về tội phạm đó là tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị
khởi tố của các tổ chức xã hội, cơ quan nhà nƣớc và của mọi công dân. Thông
tin về tội phạm là yếu tố không thể thiếu cho việc phát hiện, xử lý tội phạm, vì
vậy nguồn thông tin về tội phạm đóng góp một phần rất quan trọng trong công
tác đấu tranh chống tội phạm. Đấu tranh chống tội phạm là cuộc đấu tranh mang
tính chất xã hội, đòi hỏi sự tham gia tích cực của toàn xã hội, công tác này đạt
đƣợc kết quả cao hay không phụ thuộc vào ý thức, trách nhiệm tham gia cung
cấp các thông tin về tội phạm cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Pháp luật tố
tụng hình sự nƣớc ta quy định trách nhiệm phát hiện và tố giác tội phạm là của
mọi cơ quan nhà nƣớc, mọi tổ chức và công dân (Điều 25 BLTTHS 2003).
Nhiệm vụ giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố đƣợc
quy định cụ thể tại Điều 103 BLTTHS 2003: “CQĐT, VKS có trách nhiệm tiếp
nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và
kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nƣớc chuyển đến. VKS có trách nhiệm chuyển
ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu
liên quan đã tiếp nhận cho CQĐT có thẩm quyền.” CQĐT và VKS là những cơ
quan chính có nhiệm vụ tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm và
kiến nghị khởi tố do cá nhân, cơ quan, tổ chức chuyển đến.
Viện kiểm sát khi tiếp nhận các tin báo, tố giác và kiến nghị khởi tố phải
chuyển ngay hồ sơ kèm theo các tài liệu liên quan đến CQĐT có thẩm quyền để
tiến hành xác minh. CQĐT là đầu mối quản lý toàn bộ các tố giác, tin báo về tội
phạm (nguồn để khởi tố).Sau khi tiếp nhận tin báo, tố giác và kiến nghị khởi tố,
CQĐT tiến hành kiểm tra, xác minh.


19

hành vi nguy hiểm cho xã hội chƣa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Ngƣời mà
hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực
pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã đƣợc đại
xá; Ngƣời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trƣờng hợp cần
tái thẩm đối với ngƣời khác.
Nhƣ vậy, để tránh bỏ lọt tội phạm, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
quy định rất cụ thể những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự. Các cơ quan có
thẩm quyền chỉ đƣợc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự khi có một trong
các căn cứ luật định.
1.1.4. Ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự
Khởi tố vụ án hình sự đảm bảo cho việc phát hiện nhanh chóng mọi hành
vi phạm tội. Nếu các hoạt động tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án không
đƣợc tiến hành một cách nhanh chóng, kịp thời đúng quy định của pháp luật sẽ
không phát hiện đƣợc đầy đủ dấu vết của tội phạm dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội
phạm hoặc oan sai, hơn nữa việc thu thập thông tin ban đầu trong giai đoạn khởi
tố không đầy đủ sẽ gây ra khó khăn cho các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu, là một giai đoạn tố tụng độc
lập, chƣa khởi tố vụ án thì chƣa đƣợc tiến hành các hoạt động điều tra. Giai đoạn
khởi tố nếu xác định không đúng tội danh, hành vi phạm tội, điều khoản BLHS
quy định sẽ ảnh hƣởng rất nhiều đến quá trình tố tụng tiếp theo cũng nhƣ việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo.
Khởi tố vụ án hình sự góp phần đảm bảo quyền tự do dân chủ của công
dân đƣợc pháp luật bảo hộ. Nếu không thực hiện đầy đủ các hoạt động tiếp
nhận, kiểm tra xác minh các nguồn thông tin về tội phạm một cách đầy đủ đúng
quy định của pháp luật mà tiến hành ngay các hoạt động điều tra, áp dụng các
biện pháp cƣỡng chế tố tụng sẽ dẫn đến tình trạng quyền tự do dân chủ của công
dân bị xâm phạm.



yên và hạnh phúc, vì vậy, mỗi ngƣời dân phải có ý thực tự bảo vệ mình thông
qua các hoạt động phòng ngừa tội phạm.
Nhƣ vậy, phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và
công dân, thực hiện tổng thể các biện pháp tác động trực tiếp vào các nhóm
nguyên nhân của tội phạm để kiểm soát, hạn chế tác dụng và loại trừ dần những
nhóm nguyên nhân này nhằm không cho tội phạm xảy ra hoặc xảy ra ít đi.Phòng
ngừa tội phạm là hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động kiểm
soát xã hội của Nhà nƣớc. Đó là phƣơng tiện để Nhà nƣớc kiểm soát tội phạm,
ngăn chặn tội phạm góp phần giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Đấu tranh chống tội phạm là hoạt động trấn áp tội phạm cụ thể đã xảy ra
nhƣng có tác động nhất định đến nguyên nhân của tội phạm
7
, vì vậy, hoạt động
đấu tranh chống tội phạm cũng có giá trị phòng ngừa tội phạm.Chủ thể của hoạt
động đấu tranh chống tội phạm là các cơ quan tƣ pháp hình sự. Thông qua các
hoạt động điều tra, truy tố và xét xử đối với tội phạm đã xảy ra trong thực tế truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội, suy cho cùng là việc áp dụng
chế tài hình sự, áp dụng biện pháp cƣỡng chế nhà nƣớc có tính nghiêm khắc
nhất đối với ngƣời phạm tội đó là hình phạt.
Mục đích cuối cùng và cao nhất của cả hai hoạt động này là nhằm ngăn
ngừa không cho tội phạm xảy ra. Để đạt đƣợc mục đích này, trong hoạt động
phòng ngừa tội phạm cần phải có những định hƣớng cụ thể nhƣ: Giáo dục con
ngƣời và xây dựng một xã hội có tính giáo dục; Phát triển kinh tế xã hội và việc
hạn chế, khắc phục mặt trái của quá trình phát triển đó; Chống tội phạm, xử lý vi
phạm, tăng cƣờng quản lý để ngăn hành vi phạm tội không xảy ra; Phòng ngừa
tội phạm từ phía nạn nhân và công dân nói chung.
Trong hoạt động đấu tranh chống tội phạm để đạt đƣợc mục đích trừng
trị ngƣời phạm tội, qua đó giáo dục họ và răn đe những ngƣời khác trong xã hội


Hoạt động phòng ngừa tội phạm củaVKS đƣợc thể hiện thông qua các
hoạt động kiểm sát cụ thể nhƣ: Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quảnlý giáo

23

dục ngƣời chấp hành án phạt tù. VKS ngoài việc kiểm sát việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn đối với ngƣời phạm tội đảm bảo chính xác, đúng quy định của
pháp luật còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các nhà tạm giữ, trại tạm
giam, trại giam, các cán bộ công chức trong các cơ quan này.
Hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm không chỉ đƣợc thể
hiện thông qua việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của ngành kiểm sát mà
còn đƣợc thông qua các hoạt động khác nhƣ: VKS thực hiên các chƣơng trình
quốc gia về phòng, chống tội phạm, tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật,
nghiên cứu khoa học, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, tổ chức các hội nghị
chuyên đề về phòng, chống các tội phạm cụ thể, nâng cao hiệu quả hoạt động
nghiệp vụ, thống kê dự báo tình hình tội phạm, xây dựng, hoàn thiện pháp luật.
Nhƣ vậy, VKS là cơ quan có vị trí rất quan trọng trong công tác phòng,
chống tội phạm. Không chỉ đóng vai trò là cơ quan trực tiếp tham gia đấu tranh
chống tội phạm, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tƣ
pháp và những ngƣời tham gia tố tụng là đảm bảo để hoạt động phòng ngừa tội
phạm và đấu tranh chống tội phạm đạt hiệu quả cao, đúng pháp luật.
1.2.2. Trách nhiệm của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự
Viện kiểm sát tham gia vào tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự. Trong
giai đoạn khởi tố, VKS thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp
luật, bảo đảm mọi tội phạm đƣợc phát hiện phải đƣợc khởi tố, việc khởi tố vụ án
có căn cứ và hợp pháp.Để làm rõ nội dung vấn đề thực hành quyền công tố trong
khởi tố vụ án hình sự, trƣớc hết chúng ta cần làm rõ vấn đề: Quyền công tố và
thực hành quyền công tố.
“Công tố” theo từ điển Tiếng Việt có nghĩa là “Điều tra, truy tố và buộc
tội kẻ phạm tội trƣớc Tòa án”

Khái niệm trên đã thể hiện đƣợc đầy đủ nội dụng của quyền công tố, quyền này
thuộc về Nhà nƣớc, đƣợc Nhà nƣớc giao cho VKS thực hiện để phát hiện tội
phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội, điều này đƣợc thể
hiện rõ tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 và Điều 23 BLTTHS năm 2003. Để
thực hiện tốt nhiệm vụ này, VKS phát có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy
đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và ngƣời phạm tội. Trên cơ sở đó
quyết định truy tố bị can ra trƣớc Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trƣớc phiên
tòa.

9
Lê Cảm (2001), “Những vấn đề lý luận về quyền công tố”, Tạp chí Khoa học pháp luật (4).

10
Lê Hữu Thể (Chủ biên), Đỗ Văn Đƣơng, Nông Xuân Trƣờng (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội. tr 40

Trích đoạn THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONGKHỞI TỐ VỤ ÁN Những bất cập trong các quy định của pháp luật về vai trò của Viện kiểm sát trong Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status