LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành là kết quả của sự nỗ lực và cố gắng của bản thân
tác giả; sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của người hướng dẫn nghiên cứu khoa học;
của các cán bộ, Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội và các nhà khoa học khác;
sự tạo điều kiện học tập, nghiên cứu của ngành Kiểm sát nhân dân nói chung, của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ nói riêng. Tác giả chân thành cảm ơn những cơ
quan, tổ chức, cá nhân đã giúp đỡ tác giả hoàn thành Luận văn này. Tác giả tiếp tục
nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn nữa về đề tài.
Tác giả
Nguyễn Huy Khánh
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những cơ quan có thẩm quyền quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát
là cơ quan có vai trò rất quan trọng, đảm bảo việc khởi tố bị can được đúng người,
đúng tội và đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan
người vô tội. Viện kiểm sát không chỉ là cơ quan có quyền trực tiếp quyết định khởi
tố bị can mà còn có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc khởi tố bị can của cơ quan có
thẩm quyền khác. Vì vậy, vai trò của Viện kiểm sát có ảnh hưởng quyết định đến
hiệu quả của việc quyết định khởi tố bị can.
Qua thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự thời gian gần đây cho thấy, mặc
dù pháp luật tố tụng hình sự đã có những qui định khá đầy đủ về quyết định khởi tố bị
can, song trong quá trình thực hiện các qui định của luật vẫn còn một số bất cập, đặc
biệt là những quy định liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát trong việc áp dụng
những qui định này. Về nguyên tắc, mọi tội phạm và người thực hiện hành vi bị coi là
tội phạm đều phải bị xử lí về hình sự. Nhưng việc xử lí làm sao để đảm bảo đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh việc oan, sai là điều hết sức cần thiết. Hiến
pháp năm 1992 của chúng ta qui định về quyền cơ bản của công dân, Điều 4 Bộ luật
Tố tụng hình sự 2003 đã qui định về tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công
dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các
vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, Viện kiểm sát nói riêng vẫn
còn để xảy ra tình trạng oan, sai. Việc oan, sai này xảy ra ở những giai đoạn khác
những quy định của pháp luật tố tụng hình sự mà phải kết hợp với đánh giá thực tiễn
hoạt động khởi tố bị can của Viện kiểm sát trong những năm gần đây, nhất là từ khi
thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, từ đó tìm ra những tồn tại, nguyên nhân
và đề xuất các giải pháp khắc phục, góp phần nâng cao hơn nữa vai trò của Viện
kiểm sát đối với việc khởi tố bị can. Đây là lý do tác giả chọn “Vai trò của Viện
kiểm sát đối với việc khởi tố bị can” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3
Từ trước đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu thể hiện dưới dạng các
bài viết đăng trên các tạp chí về chức năng của Viện kiểm sát, về khởi tố bị can. Có
thể nêu ra một số bài viết như: Một số vấn đề lí luận, thực tiễn về khởi tố bị can (Tạp
chí toà án- Toà án nhân dân tối cao, số 7/2006, tr.22-24); Áp dụng các qui định của
Bộ luật Tố tụng hình sự về việc quyết định khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung
quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can (Tạp chí Kiểm sát- Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao, số 02/2007, tr.22-26, 46) của Tiến sĩ Trần Quang Tiệp; Từ thực tiễn
một năm thực hiện qui định tại Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về việc
phê chuẩn quyết định khởi tố bị can (Tạp chí Kiểm sát- Viện Kiểm sát nhân dân tối
cao, số 4/2006, tr. 44-47) của Hương Nhung; Một số vấn đề lí luận và thực tiễn của
việc khởi tố vụ án hình sự và việc kiểm sát việc khởi tố vụ án (Tạp chí Kiểm sát- Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao, số 02/2007, tr. 6-11) của Tiến sĩ Phạm Mạnh Hùng; Một
số vấn đề về khởi tố bị can và phê chuẩn quyết định khởi tố bị can (Tạp chí Kiểm sát-
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, số 02/2007, tr. 18-21) của Tiến sĩ Đỗ Văn Đương;
Cần sửa đổi, bổ sung một số qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố bị can,
thay đổi, bổ sung quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can (Tạp chí Kiểm sát-
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 23/2008, tr.13-17) của Nguyễn Tiến Sơn; Bàn về
thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc quyết định khởi tố bị can (Tạp chí kiểm sát-
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số Tân Xuân (02)/2009, tr. 35-38) của Nguyễn Ngọc
Khánh...
Ngoài ra, khởi tố bị can còn được thể hiện dưới hình thức là một số mục nhỏ
trong các công trình nghiên cứu như: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về khởi tố bị can: khái niệm, mục đích, ý
nghĩa của việc khởi tố bị can; Nghiên cứu những quy định của pháp luật tố tụng hình
sự hiện hành, thể hiện vai trò của Viện kiểm sát đối với việc khởi tố bị can.
- Đánh giá thực tiễn hoạt động kiểm sát việc khởi tố bị can trong 6 năm trở lại
đây (từ năm 2005 đến 2010), tìm ra những nguyên nhân hạn chế vai trò của Viện
kiểm sát đối với việc khởi tố bị can.
5
- Trên cơ sở những nguyên nhân đó, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần
hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, khắc phục những hạn chế
trong thực tiễn áp dụng, nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc khởi tố bị can nói
chung, vai trò của Viện kiểm sát đối với việc khởi tố bị can nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là một số vấn đề về lí luận, các qui định
của pháp luật và thực tiễn thực hiện các qui định của pháp luật về vai trò của Viện
kiểm sát đối với việc khởi tố bị can.
Do thời gian và khuôn khổ có hạn, Luận văn chỉ tập trung vào việc nghiên cứu
vấn đề:
- Vai trò của Viện kiểm sát đối với việc khởi tố bị can theo qui định của pháp
luật Tố tụng hình sự Việt Nam (theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và một số văn bản có liên quan).
- Những hạn chế trong việc thực hiện những qui định của pháp luật về vai trò
của Viện kiểm sát nói chung (gồm cả Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân
sự) đối với việc khởi tố bị can.
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời
sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: Thống kê, phân tích, so sánh, tổng
hợp, dựa trên các quy phạm pháp luật hiện hành, các tài liệu, sách báo liên quan, các
bài viết của các tác giả đã nghiên cứu trước đó, kết hợp với đánh giá thực tiễn áp
dụng để hoàn thành Luận văn này một cách có chất lượng.
kiểm sát đối với việc khởi tố bị can.
7
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
ĐỐI VỚI VIỆC KHỞI TỐ BỊ CAN
1.1. Đấu tranh, phòng, chống tội phạm và vai trò của Viện kiểm sát đối
với việc khởi tố bị can
1.1.1. Đấu tranh, phòng, chống tội phạm
Đấu tranh, phòng, chống tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan Nhà
nước, các tổ chức xã hội và của mọi công dân, áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện
pháp khác nhau nhằm thủ tiêu và loại bỏ những hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức
độ đáng kể bị coi là tội phạm, hướng tới thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện
phạm tội, cũng như những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành tội
phạm, hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm khỏi đời sống xã hội.
Để thực hiện nhiệm vụ duy trì và bảo vệ chế độ, trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích
hợp pháp của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, nhằm mục
đích chính là “vì dân”, tất cả vì cuộc sống bình yên của nhân dân, Nhà nước dùng
nhiều biện pháp vừa có tính thuyết phục, giáo dục, vừa có tính cưỡng chế, trong đó
có biện pháp mạnh mẽ và nghiêm khắc nhất, đó là biện pháp hình sự. Biện pháp hình
sự áp dụng với những vi phạm mang tính nguy hiểm cao đối với xã hội- tội phạm.
Đấu tranh, phòng, chống tội phạm là trách nhiệm và nghĩa vụ của nhiều chủ thể.
Theo qui định của pháp luật thì chủ thể phòng, chống tội phạm bao gồm tất cả các cơ
quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân. Điều 12 Hiến pháp 1992 đã qui định:
“Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng
ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật.”
Từ đó có thể thấy, đấu tranh, phòng, chống tội phạm có ý nghĩa sau:
- Thứ nhất, là hoạt động để thực hiện đúng và nghiêm chỉnh các Nghị quyết
của Đảng cũng như các văn bản của Nhà nước trên thực tế, góp phần bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, vì sự bình yên của xã hội.
9
hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình sự
qui định để loại trừ các vi phạm pháp luật của những cơ quan và cá nhân này. Viện
kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lí kịp thời, việc khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không
để lọt tội phạm và người phạm tội, làm oan người vô tội (Điều 23 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2003).
Ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình
sự của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Toà án (Điều 12
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2003). Qua các qui định của pháp luật cho thấy, Viện kiểm sát giữ vai trò chủ
đạo, quyết định trong các hoạt động tố tụng ở giai đoạn điều tra. Viện kiểm sát có
quyền nhưng đồng thời có trách nhiệm bằng các biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình
sự qui định nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy tố được kịp thời, nhanh chóng, hiệu
quả, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, bảo đảm
cho hoạt động điều tra được tiến hành đúng qui định của pháp luật. Trong quá trình
thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra, Viện
kiểm sát luôn giữ vai trò chủ động, tích cực trong việc phối hợp với Cơ quan điều tra.
Trong những năm gần đây, trước tình hình tội phạm ngày càng có chiều
hướng gia tăng, diễn biến và tính chất phức tạp, đòi hỏi công tác tư pháp phải có
những chuyển biến tích cực, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của cuộc đấu tranh, phòng,
chống tội phạm. Riêng với Viện kiểm sát, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị nêu rõ “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công
tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm
đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lí
Viện kiểm sát chính là cơ quan có vai trò chủ đạo và quyết định, chịu trách nhiệm về
toàn bộ quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm
sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra còn được thể hiện một cách cụ thể hơn
qua các qui định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện
trưởng và Kiểm sát viên với tư cách là những người tiến hành tố tụng. Với tư cách là
người đứng đầu, có chức danh pháp lí (Kiểm sát viên) và có chức vụ quản lí (Viện
trưởng), Viện trưởng (khi trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối
với các vụ án hình sự) có quyền và trách nhiệm khá lớn và quan trọng, quyết định
những vấn đề quan trọng nhất đối với việc giải quyết vụ án. Điều 36 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2003 qui định rõ những nhiệm vụ, quyền hạn đó là: Quyết định khởi tố
vụ án, quyết định không khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan
điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo
quy định của Bộ luật này; Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn
chặn; quyết định gia hạn điều tra, quyết định gia hạn tạm giam; yêu cầu Cơ quan điều
tra truy nã bị can; Quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định
của Cơ quan điều tra; Quyết định hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp
luật của Cơ quan điều tra; Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, quyết định
phục hồi điều tra, quyết định xử lý vật chứng.
Với tính chất là một trong những hoạt động tố tụng hình sự, khởi tố bị can
không chỉ đơn thuần là sự buộc tội có tính chất "sơ bộ" từ phía cơ quan có thẩm
quyền đối với một người khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi
phạm tội, mà còn là cơ sở pháp lí để mở rộng việc áp dụng các biện pháp điều tra đối
với người đó.
Như đã phân tích và khẳng định vai trò quan trọng của Viện kiểm sát trong
giai đoạn điều tra ở những nội dung trên, khởi tố bị can là một trong những hoạt động
tố tụng hình sự ở giai đoạn điều tra nên nó cũng là đối tượng chịu tác động của Viện
kiểm sát trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Cũng vì công tác
thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các
12
kiểm sát trong việc khởi tố bị can đó là hoạt động trực tiếp tiến hành một số hoạt
động điều tra như: hỏi cung bị can, lấy lời khai của người làm chứng… để làm căn cứ
phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định
khởi tố bị can. Khi đó, Viện kiểm sát trực tiếp tham gia với quyền năng độc lập được
Bộ luật Tố tụng hình sự qui định để củng cố căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị
can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can..
Trong khởi tố bị can, Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật khi Viện
kiểm sát thực hiện quyền nhằm phát hiện vi phạm pháp luật của Cơ quan điều tra và
một số cơ quan khác có quyền khởi tố bị can. Những quyền này đảm bảo cho Viện
kiểm sát nắm được vi phạm, xác định nguyên nhân và điều kiện dẫn đến vi phạm,
trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp để khắc phục vi phạm nhằm đảm bảo cho pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh. Các quyền yêu cầu, kiến nghị khắc phục, xử lí vi
phạm của các chủ thể đó cũng chính là nội dung thuộc về chức năng của Viện kiểm
sát trong việc khởi tố bị can. Qui định này nhằm đảm bảo cho việc khởi tố bị can nói
riêng, cho cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án nói chung.
Tuy nhiên, làm thế nào để chúng ta phân biệt được hai nội dung này trong
thực tiễn, lại chỉ trong một hoạt động tố tụng cụ thể là khởi tố bị can là một vấn đề.
Theo qui định của Hiến pháp 1992, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002,
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, ở giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có hai chức
năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong quá trình
điều tra. Thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng của ngành Kiểm sát cho thấy, trên
cơ sở các qui định của pháp luật, Viện kiểm sát các cấp luôn luôn quán triệt quan
điểm đấu tranh, phòng, chống tội phạm gắn liền với đấu tranh, phòng, chống vi phạm
pháp luật trong hoạt động tư pháp hình sự, nhằm bảo đảm những hành vi phạm tội đã
được phát hiện đều phải được điều tra và xử lí theo qui định của pháp luật, bảo đảm
cho cuộc đấu tranh, phòng, chống tội phạm của các cơ quan tư pháp tuân thủ đường
lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
14
Từ đó, có thể nói rằng, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong một hoạt động cụ thể (như khởi tố bị can) là hai chức năng độc lập
quan Nhà nước có thẩm quyền) chính thức công khai, tuyên bố về mặt pháp luật
trước toàn thể xã hội là họ đã hoặc bị nghi ngờ thực hiện hành vi phạm tội đó và Nhà
nước chính thức thực hiện các hoạt động để làm rõ người đó có phải là người thực
hiện tội phạm hay không, đồng thời truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó.
Vì vậy, khởi tố bị can cũng là khái niệm cần được làm rõ, bởi lẽ khái niệm bị
can đã có nội hàm của khái niệm đó là người bị khởi tố về hình sự. Vậy, khởi tố bị
can có phải là khởi tố người bị khởi tố về hình sự không?
Là một trong những biện pháp phát động quyền công tố, mở đầu cho các hoạt
động tố tụng khác để làm rõ tội phạm xảy ra, vạch trần người có lỗi khi thực hiện
hành vi phạm tội, khởi tố bị can, có ý kiến cho rằng, “là việc cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền chính thức tuyên bố về mặt pháp lí một người nào đó có dấu hiệu phạm
tội và đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự” [4, tr 62]. Ý kiến khác cũng cho rằng, là
việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tuyên bố về mặt pháp lí một người nào đó
phạm tội và bị truy cứu trách nhiệm hình sự. [5, tr47-48]
Các khái niệm trên đều cho rằng: khởi tố bị can là việc cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền thực hiện hành vi tố tụng là tuyên bố về mặt pháp lí một người nào đó có
dấu hiệu phạm tội hoặc phạm tội và phải chịu hậu quả đó là bị truy cứu trách nhiệm
hình sự. Tuy nhiên ở ý kiến thứ hai, tác giả đã đưa ra quan điểm đó là “tuyên bố về
mặt pháp lí một người nào đó đã phạm tội...”. Trong khi luật Tố tụng hình sự qui
định: “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực
pháp luật” (Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003). Cần phải hiểu rằng, bị can
mới chỉ là dạng nghi ngờ (hoặc là đã) thực hiện hành vi phạm tội nhưng mới chỉ là
bước đầu đưa họ vào diện cần phải điều tra để làm rõ. “Ai là người thực hiện hành vi
phạm tội” (là một trong những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự được
qui định tại Điều 63 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003)
Theo ý kiến của tác giả, khởi tố bị can là hành vi pháp lí của Cơ quan Điều
tra, Viện kiểm sát, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển
16
và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra xác định một người nào đó đã thực hiện hành vi
của quyết định khởi tố bị can tại khoản 2 Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
cũng giống như qui định tại khoản 2 Điều 103 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988.
1.2.2. Hình thức của việc khởi tố bị can
Về mặt hình thức của việc khởi tố bị can, cả hai Bộ luật Tố tụng hình sự năm
1988 và năm 2003 đều không có qui định thống nhất. Vấn đề này đã được giải quyết
một phần thông qua qui định tại Quyết định số 789/2007/QĐ-BCA ngày
12/7/007 của Bộ trưởng Bộ Công an về việc bổ sung, sửa đổi các biểu mẫu sử dụng
trong hoạt động tố tụng hình sự của lực lượng công an nhân dân ban hành kèm theo
Quyết định số 1351/2004/QĐ-BCA(C11) ngày 18/11/2004, biểu mẫu số 23- quyết
định khởi tố bị can. Tuy nhiên, quyết định trên cũng chỉ là văn bản có tính chất
hướng dẫn về nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ và Điều tra viên trong quá trình thi hành
nhiệm vụ, quyền hạn khi khởi tố bị can mà chưa qui định thống nhất kiểu và cỡ chữ
khi ban hành quyết định. Mặc dù vậy, với việc ban hành mẫu quyết định khởi tố bị
can cũng đã được in, sao và sử dụng thống nhất trong quá trình điều tra giải quyết vụ
án hình sự.
1.2.3. Nội dung việc khởi tố bị can
1.2.3.1. Thẩm quyền khởi tố bị can
Khoản 1 Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Khi có đủ
căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra
quyết định khởi tố bị can”.
Bên cạnh đó, Điều 112 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 qui định về nhiệm
vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra: “Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có những
nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ
quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can
theo quy định của Bộ luật này;…”
18
Như vậy, thẩm quyền khởi tố bị can về cơ bản, trước hết thuộc về Cơ quan
Điều tra, sau đó là Viện kiểm sát. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng
qui định, trong trường hợp này, quyết định khởi tố bị can phải được Viện kiểm sát
hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ
luật này... Quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ
quan điều tra; Quyết định hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật
của Cơ quan điều tra… (khoản 2 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003). Khi
được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có những
nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng, trong đó có quyền khởi tố bị can và phê
chuẩn hoặc huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can.
Bộ luật qui định về thẩm quyền khởi tố bị can thuộc về Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát và một số các chủ thể khác (Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực
lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) nhưng chưa qui định cụ thể
về người có thẩm quyền khởi tố bị can là ai?
Như vậy, có thể nhận thấy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 qui định ngoài
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra có quyền ra quyết định khởi tố bị can là đúng vì đây là
những cơ quan thực hiện chức năng buộc tội (công tố) đối với người phạm tội và việc
khởi tố bị can không chỉ phục vụ cho việc làm rõ hành vi phạm tội, mà còn có ý
nghĩa ngăn chặn tội phạm, không cho phép họ tiếp tục phạm tội mới gây nguy hại
cho xã hội. Đây chính là phản ứng của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi
phạm tội. Thế nhưng, khi giao cho các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra như: Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng
Cảnh sát biển thì có hàng loạt những vấn đề đặt ra liên quan đến quyết định này. Ví
dụ: sau khi ra quyết định khởi tố bị can, Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm,
Lực lượng Cảnh sát biển có áp dụng biện pháp ngăn chặn nào, nhất là có bắt người,
tạm giữ, tạm giam không (mặc dù trong Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự có cho
20
phép các cơ quan này áp dụng biện pháp ngăn chặn theo qui định của Bộ luật tố tụng
hình sự), thủ tục áp dụng như thế nào… Những vấn đề này chưa được qui định cụ thể
trong Bộ luật.
thiết… “Mặt khác, qui định như hiện hành của điều luật dường như chỉ mô tả về
người thực hành mà bỏ qua những người khác được coi là đồng phạm trong việc thực
hiện tội phạm như người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức” [26, tr.466].
Khác với khởi tố vụ án hình sự, chỉ cần có dấu hiệu của tội phạm là Cơ quan
có thẩm quyền ra quyết định khởi tố. Việc khởi tố bị can chỉ được tiến hành khi xác
định con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật Hình
sự qui định là tội phạm. Như vậy, việc khởi tố bị can đặt ra vấn đề trách nhiệm nặng
nề hơn so với việc khởi tố vụ án.
Về nguyên tắc, Cơ quan điều tra chỉ ra quyết định khởi tố bị can sau khi đã ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trường hợp phạm tội quả tang mà người phạm tội
có đầy đủ các điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự thì quyết định khởi tố bị can
ngay sau khi khởi tố vụ án (gần như là cùng thời điểm). Tuy nhiên, không phải trong
mọi trường hợp ngay từ đầu, Cơ quan điều tra đều phát hiện được tất cả các tình tiết
có liên quan đến hành vi phạm tội của bị can hoặc tất cả các tội phạm mà bị can đã
thực hiện. Chính vì vậy, trong quá trình điều tra vụ án hình sự nếu có căn cứ xác định
hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc bị can còn có
hành vi phạm tội khác thì Cơ quan điều tra có quyền hoặc theo yêu cầu của Viện
kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.
Như vậy, để khởi tố bị can cần có căn cứ nhưng như đã nêu ở trên, căn cứ đó
là không cụ thể. Khi nói “có đủ căn cứ” thì phải biết “đủ” đấy là mấy? Mặc dù vậy,
để xác định “đủ căn cứ” là rất khó, sẽ khó hơn nữa nếu liệt kê một dãy căn cứ trong
điều luật để khởi tố bị can. Trong trường hợp căn cứ khởi tố bị can được qui định
như trên thì tùy từng trường hợp, tùy vụ án hình sự cụ thể mà vấn đề “có đủ căn cứ”
được xác định khác nhau. Căn cứ đó mặc dù không có văn bản hay hướng dẫn cụ thể
nhưng khoa học luật tố tụng hình sự cũng như trong thực tế đó có thể là: “những tài
liệu, chứng cứ đủ để chứng minh một người đã thực hiện hành vi thỏa mãn những
22
dấu hiệu được qui định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 1999 và
không có các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi do người đó thực hiện”
[6, tr22].
loại trừ các trường hợp bỏ lọt tội phạm khi có căn cứ xác định còn có người khác
thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án nhưng Cơ quan điều tra không khởi tố hoặc
hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố. Khi đó, Viện kiểm sát
yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố hoặc ra quyết định thay đổi hoặc bổ
sung quyết định khởi tố bị can.
Về thủ tục thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can được hướng dẫn
khá chi tiết tại mục 11 của Thông tư Liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP
ngày 07/9/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về
quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát trong việc thực hiện một số
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Theo đó, trong quá trình điều tra vụ án
hình sự, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã
bị khởi tố hoặc bị can còn có hành vi phạm tội khác thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng
Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp có quyền ra
quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, nhưng Viện kiểm sát chỉ
thực hiện thẩm quyền này khi đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện.
Trường hợp thay đổi quyết định khởi tố bị can thì phải ra quyết định thay đổi
quyết định khởi tố vụ án hình sự. Ví dụ: thay đổi quyết định khởi tố bị can từ tội lạm
dụng tín nhiệm sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì phải thay đổi quyết định khởi
tố vụ án về tội lạm dụng tín nhiệm sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Cần lưu ý là không thay đổi quyết định khởi tố bị can trong trường hợp điều
tra xác định được hành vi của bị can phạm vào tội nặng hơn hoặc tội nhẹ hơn trong
cùng tội danh đã khởi tố đối với bị can.
Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố
bị can trong vụ án đã được khởi tố, nếu bị can còn có hành vi phạm tội khác mà hành
vi đó chưa được khởi tố vụ án thì phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trước khi
24
ra quyết định khởi tố bị can và xem xét nhập các vụ án để điều tra chung theo quy
định tại Điều 117 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nếu trong quá trình điều tra vụ án mà
xác định được bị can thực hiện hành vi phạm tội này là để thực hiện hành vi phạm tội
khác thì ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự và ra quyết định bổ