Tiểu luận CHO VAY KÍCH CẦU ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CỦA
NHTM HIỆN NAY XÉT TRONG HOÀN CẢNH KINH TẾ XÃ
HỘI TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2008 CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
1. Các khái niệm cơ bản
1.1 Cho vay (còn gọi là tín dụng) là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài
chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho
bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất
1.2 Lãi suất là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một
khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền
không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn
chi tiêu.
John Maynard Keynes lập luận rằng lãi suất là một hiện tượng tiền tệ phản ánh
mối quan hệ giữa cung và cầu về tiền. Cung tiền được xác định một cách ngoại sinh,
cầu tiền phản ánh các nhu cầu đầu cơ, phòng ngừa và giao dịch về tiền.
Trái với Keynes, các nhà kinh tế học cổ điển trước đó đã coi lãi suất là một hiện
Cho vay bổ sung vốn lưu động trong nước
Cho vay đầu tư tài sản cố định
Cho vay dự án đầu tư
Cho vay đồng tài trợ
Bảo lãnh dự thầu
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Bảo lãnh hàng thanh toán
Bảo lãnh hàng bảo hành
Bảo lãnh vay vốn
Bảo lãnh nộp thuế nhập khẩu
Bảo lãnh nước ngoài
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay
4.1 Lãi suất:
lãi suất món vay có vay trò quyết định đến quan hệ cung cầu vốn vay trên thị
trường, nó có tính chất như chi phí của việc sử dụng khoản tín dụng đó, hay nói cách
khác nó là cái giá mà người vay phải trả để được quyền sử dụng món vay đó. Lãi suất
trên thị trường tín dụng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, tuy nhiên, xét theo cơ chế lãi
suất thỏa thuận thì các ngân hàng có khuynh hướng cho vay theo lãi suất càng cao đến
mức có thể của các doanh nghiệp, và hạn chế với các khoản vay có lãi suất thấp.
4.2 Tình hình thanh khoản của ngân hàng
Thông thường, những ngân hàng có thanh khoản tốt, nguồn vốn dồi dào thì các
quyết định cho vay sẽ thoáng hơn. Ngược lại, các ngân hàng nào thiếu hụt nguồn vốn
khả dụng thì buột các ngân hàng thận trọng hơn trong các quyết định tài trợ của mình
Tính pháp lý và Tình hình tài chính của doanh nghiệp: đây là tiêu chí quan trọng,
là cơ sở xem xét trong các quyết định cho vay. Thông thường, ngân hàng chỉ cho vay
đối với các doanh nghiệp được thành lập hợp pháp, cơ cấu tổ chức và nhân sự rõ ràng.
Về tình hình tài chính, các doanh nghiệp phải có các bảo cáo tài chính minh bạch, rõ
ràng và kết quả kinh doanh khả quan, có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả bảo
đảm có khả năng thanh toán nợ vay và lãi vay khi đến hạn.
4.3 Mức độ rủi ro của ngành nghề mà doanh nghiệp đó hoạt động
là các dự án mới, do đó, để tránh trường hợp doanh nghiệp sử dụng vốn tài
trợ cho các mục đích khác, ngân hàng thường yêu cầu chủ doanh nghiệp
chứng minh phần vốn tự có của mình tham gia vào dự án trước khi ngân
hàng giải ngân phần vốn tài trợ của mình bên cạnh việc thường xuyên kiểm
tra tiến độ thực hiện dự án của doanh nghiệp.
Tính khả thi của dự án: việc một dự án được quyết định tài trợ còn gặp phải
một rủi ro nữa là tính khả thi của dự án khi đưa vào hoạt động. các rủi ro
mà ngân hàng gặp phải trong trường hợp này là các khả năng xảy ra việc
ngân hàng tài trợ một dự án xấu hoặc ngược lại là từ chối một dự án tốt.
5.2 Nhóm các rủi ro thị trường ( bên ngoài doanh nghiệp)
Đó là các rủi ro xuất phát từ thị trường, từ những biến động về giá sản phẩm, nhu
cầu sản phẩm hay sự biến động của các yếu tố đầu vào cũng ảnh hưởng rất lớn đến tình
hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. từ đó ảnh hưởng đến khả năng thanh
toán các khoản nợ Ngân hàng đến hạn của doanh nghiệp. các rủi ro này có thể là:
Biến động giá nguyên vật liệu đầu vào
Sự suy giảm khả năng trả nợ của các đối tác quan trọng.
Sự sụt giảm giá bán sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường
Thị hiếu của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệp.
6. Tầm quan trọng của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp
Với vay trò là trung gian tài chính của nền kinh tế, các ngân hàng thương mại có
vai trò quan trọng đối với hoạt động của các doanh nghiệp. xét về khía cạnh tài trợ
vốn, hoạt động cho vay của ngân hàng có các vai trò tích cực sau:
Giúp doanh nghiệp giảm bớt áp lực trong việc tìm kiếm nguồn tài trợ. Với sự phát
triển của dịch vụ ngân hàng, việc tìm kiếm nguồn tài trợ từ phía ngân hàng thương mại
ngày càng thuận tiện và nhanh chóng.
Góp phần sàn lọc, loại bỏ các dự án xấu: với trình độ quản lý và công tác thẩm
định xác minh hồ sơ vay của các ngân hàng thương mại đã góp phần giúp nền kinh tế
sàn lọc và loại bỏ các dự án xấu, không khả thi, tiết tiệm công sức và tiền của của nền
kinh tế tránh gây ra lãng phí cho nền kinh tế.
Hỗ trợ doanh nghiệp trong việc hoàn thiện cơ cấu tài chính và lành mạnh các báo
Tốc độ tăng trưởng của một số ngành sản xuất
Hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
2. Những tồn tại trong công tác cho vay doanh nghiệp hiện nay
2.1 Trong năm 2008, các ngân hàng tập trung vào sự an toàn của hệ thống mà
quay lưng với các khó khăn của các doanh nghiệp
Trong năm 2008, các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh lâm vào tình trạng
thiếu hụt thanh khoản trầm trọng, dẫn đến việc các ngân hàng thương mại ngừng cho
vay mới, hủy các cam kết tài trợ đã ký với doanh nghiệp, đẩy các doanh nghiệp lâm
vào tình trạng khó khăn về vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình (
nhập nguyên vật liệu, trả lương công nhân,…), các dự án đầu tư bị ngưng trệ, Bên
cạnh đó, các ngân hàng đẩy nhanh tiến độ điều chỉnh lãi suất vay, đẩy áp lực tài chính
của mình cho các doanh nghiệp gánh chịu trong chính các ngân hàng phải chịu gánh
nặng ấy do công tác quản lý thanh khoản yếu kém của mình.
2.2 Công tác thẩm định đề xuất cho vay còn quá phụ thuộc vào tài sản bảo
đảm, chủ yếu là bất động sản
Những khó khăn thanh khoản tạm thời tại một số TCTD trong những tháng đầu
năm 2008 khẳng định một lần nữa là trong điều kiện nền kinh tế đi xuống, việc TCTD
nắm giữ nhiều tài sản đảm bảo từ khách hàng vay không làm cho TCTD an toàn hơn.
Tình hình kinh tế khó khăn làm cho tính thanh khoản của các tài sản đảm bảo giảm
theo và TCTD sẽ khó tìm kiếm được các nhà đầu tư để mua lại các tài sản đảm bảo thu
hồi từ người vay, kể cả khi TCTD sẵn sàng chấp nhận giảm giá tài sản đảm bảo. Vì
thế, việc các TCTD, nhất là TCTD có quy mô nhỏ, cho khách hàng vay mà chỉ tập
trung vào đánh giá tài sản đảm bảo sẽ chứa đựng những yếu tố rủi ro rất lớn. Tài sản
đảm bảo nên được coi là phương tiện cuối cùng và mang tính ràng buộc để người vay
gia tăng trách nhiệm trả nợ của mình đối với TCTD, còn bản thân TCTD vẫn cần phải
thực hiện các quy trình đánh giá phương án kinh doanh, đánh giá nguồn trả nợ từ
phương án kinh doanh một cách chặt chẽ trước khi quyết định cho vay.
Quản lý luồng tiền có khả năng thu hồi từ khoản cho vay trong hoạt động tín
hơn 100%; khả năng sinh lời tiếp tục được cải thiện do tốc độ tăng tổng tài sản có và
vốn chủ sở hữu thấp hơn tốc độ tăng chênh lệch thu – chi.
Trong năm 2009, yêu cầu mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra là tiếp tục kiểm soát
chặt chẽ chất lượng tín dụng, thực hiện tăng trưởng tín dụng phù hợp với mức độ kiểm
soát lạm phát.
Các ngân hàng thương mại sẽ thực hiện chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng
tập trung nguồn vốn cho các dự án có hiệu quả thuộc lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, phát
triển nông nghiệp, nông thôn, mở rộng cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong năm 2008, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư vào
khu vực dân doanh tăng khoảng 35% 37%, lĩnh vực xuất khẩu có mức tăng tương
ứng, khu vực sản xuất tăng 34% 36%, khu vực nông nghiệp và nông thôn tăng 30%,
cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách khác tăng 40% 42%; riêng khu vực doanh
nghiệp nhà nước có mức tăng thấp nhất, chỉ tăng 12% 14%
CHƯƠNG 3
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KÍCH
CẦU THÔNG QUA CÔNG TÁC TÍN DỤNG
1. Chủ trương của chính phủ
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hành lan pháp lý để đẩy nhanh tiến độ đầu tư
của các dự án lớn có vốn đầu tư của Chính Phủ.
Thứ hai, hỗ trợ vốn cho các dự án đầu tư của nhà nước nhằm nhanh chống hoàn
thành tiến độ thực hiện. đồng thời yêu cầu các bộ ngành liên quan hỗ trợ chủ đầu tư
giải quyết các khó khăn để nhanh chóng hoàn thành các dự án đang thực hiện.
Thứ ba, tạm hoãn thu hồi các khoản vốn ngân sách nhà nước đã ứng trước kế
hoạch năm 2009, trừ các khoản đã tạm ứng năm 2009 để hoàn thành trong năm 2008.
Thứ tư, đối với các dự án, công trình sử dụng nguồn trái phiếu Chính phủ, cho
phép điều chỉnh tổng mức đầu tư đối với các dự án đã có trong danh mục được Ủy ban
Thường vụ Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ giao; trên cơ sở đó thực hiện việc điều
hòa vốn giữa các dự án, công trình và được thanh toán theo đúng tiến độ. Đồng thời,
cho phép tiếp tục giải ngân nguồn vốn trái phiếu Chính phủ còn lại của năm 2008
11.00015.000 lao động; trong đó 80% là lao động phổ thông, 20% lao động còn lại có
trình độ trung cấp, đại học.
Trong năm 2009, các chuyên gia dự đoán sẽ có nhiều khó khăn cho ngành sản
xuất và chế biến gỗ xuất khẩu, cụ thể: kim ngạch xuất khẩu gỗ có thể giảm do thị
trường chủ yếu là các nước Mỹ, EU, nhật bản,…là những nước chịu ảnh hưởng nặng
nề của cuộc khủng hoảng tài chính người dân bắt đầu có xu hướng chuyển sang các
sản phẩm phổ thông hơn thay vì sử dụng các mặt hàng cao cấp. Bên cạnh đó, theo
thống kê của một số chuyên gia, đến thời điểm hiện nay, số lượng đơn đặt hàng cho
các doanh nghiệp sản xuất chế biến gỗ là rất ít so với các năm trước.
Trước những khó khăn đó, các doanh nghiệp sản xuất chế biến gỗ đang từng bước
phát triển thị trường nội địa bên cạnh việc cố gắng duy trì kim ngạch xuất khẩu như đã
đạt được trong các năm trước. Là ngành nghề sử dụng nhiều lao động, phù hợp với
chiến lược hỗ trợ phát triển của tình nên trong năm 2009 ngành sản xuất chế biến gỗ
của tỉnh sẽ đạt được nhiều thuận lợi nhất định từ những gói giải pháp hỗ trợ của chính
phủ.
2.1.2 Ngành gốm sứ xuất khẩu
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 9/2008, kim ngạch xuất
khẩu các mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ và gia dụng của Việt Nam đạt 11 triệu USD, giảm
9,8% so với tháng trước và là tháng giảm thứ 2 liên tiếp. Tính chung 9 tháng năm
2008, tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ và gia dụng của Việt
Nam đạt 140,5 triệu USD, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2007.
Trong bối cảnh hiện nay, khi mà tình hình kinh tế của nhiều quốc gia lâm vào tình
trạng khó khăn, lạm phát tăng cao nên người tiêu dùng đang thắt chặt chi tiêu. Trong
khi các mặt hàng gốm sứ xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu là cá mặt hàng
gốm sứ mỹ nghệ và đồ trang trí, đây không phải là những mặt hàng thiết yếu, sức mua
đã giảm mạnh. Dự báo trong những tháng tới, do ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế
giới tiếp tục gặp khó khăn nên xuất khẩu các mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ và gia dụng
của Việt Nam sẽ khó có thể tăng cao, mặc dù theo chu kỳ chung hàng năm, thì xuất
khẩu các mặt hàng này thường tăng mạnh vào các tháng cuối năm.
2.1.3 Ngành gốm sứ xuất khẩu Bình Dương
có khả năng phát triển trong thời gian tới. 2.2 Tập trung cho vay phát triển thương mại, bán lẻ hàng tiêu dùng
Mục đích nếu giải pháp cho vay đối với các ngành sử dụng nhiều lao động giải
quyết phần gốc của các giải pháp kích cầu thì việc cho vay đối với các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực thương mại bán lẻ hàng tiêu dùng sẽ giải quyết phần ngọn
của vấn đề. Việc tài trợ vốn kinh doanh đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực này giúp các doanh nghiệp đủ vốn đầu tư vào các chủng loại hàng hóa, bình ổn giá
cả, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tiêu dùng của đông đảo dân cư và người dân
lao động.
3. Các chính sách hỗ trợ từ phía ngân hàng đối với hoạt động cho vay kích cầu
3.1 Nguồn vốn sử dụng
Các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bình Dương cần tập trung các nguồn vốn có lãi
suất thấp để hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc phát triển sản xuất kinh doanh trong
hoàn cảnh nền kinh tế gặp khó khăn như hiện nay. Việc sử dụng các nguồn vốn lãi suất
thấp sẽ giảm bớt áp lực tài chính của các ngân hàng thương mại khi thực hiện các giải
pháp hỗ trợ của mình.
3.2 Lãi suất
Do thực hiện các giải pháp kích cầu trong điều kiện doanh nghiệp gặp rất nhiều
khó khăn, tuy nhiên việc áp dụng lãi suất thấp cho các nguồn tài trợ sẽ giảm bớt áp lực
về tài chính cho các doanh nghiệp , từ đó giúp các doanh nghiệp tập trung phát triển
sản xuất kinh doanh góp phần giải quyết việc làm cho lực lượng lao động trên địa bàn
tỉnh. Việc áp dụng lãi suất thấp sẽ ảnh hưởng đến vấn đề lợi nhuận của ngân hàng. Tuy
nhiên, ngân hàng có thể thỏa thuân với doanh nghiệp một số điều kiện ràng buộc khi
thực hiện các giải pháp hỗ trợ của mình như: buộc các doanh nghiệp phải sử dụng các
sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mình, do đó có thể gia tăng thu nhập dịch vụ cho
ngân hàng, bù đắp lại phần lãi suất thấp đã tài trợ.
3.3 Thời gian cho vay
Áp dụng ngân hàng nên cung cấp cho các doanh nghiệp các nguồn vốn hỗ trợ có