BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Tiểu luận
Cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của
các NHTM ở Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn: TS. Lại Tiến Dĩnh
Học viên thực hiện:
Lớp: Cao Học – Ngân Hàng – Ngày 1
Khóa: 17
hàng.
1.3. ĐIỀU KIỆN VAY.
Mặc dù khi vay khách hàng phải tuân thủ hai nguyên tắc vay vốn trên, nhưng
không phải khách hàng nào cũng tuân thủ đúng các nguyên tắc này. Do đó, để
giúp đảm bảo được nguyên tắc vay vốn, ngân hàng chỉ xem xét cho vay khi khách
hàng thõa một số điều kiện vay nhất định. Theo qui chế cho vay khách hàng do
Ngân hàng Nhà nước ban hành, các điều kiện vay vốn khách hàng cần có bao
gồm:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm
dân sự theo qui định của pháp luật;
- Có mục đích vay vốn hợp pháp;
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết;
- Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả;
- Thực hiện các qui định về đảm bảo tiền vay theo qui định của Chính phủ và
hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tuy nhiên, tùy theo tình hình cụ thể của từng NHTM thì điều kiện vay vốn sẽ
được đặt riêng cho phù hợp.
1.4. MỤC ĐÍCH VAY VỐN
Doanh nghiệp muốn nhận được vốn từ ngân hàng phải có mục đích vay vốn hợp
pháp và cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thõa thuận. Sử dụng vốn vay
vào mục đích gì? Thế nào là có mục đích vay vốn hợp pháp? Là sử dụng vốn vào
những lĩnh vực mà pháp luật không cấm như:
- Bổ sung vốn lưu động thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung
ứng dịch vụ;
- Tài trợ vốn để sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu;
- Thanh toán tiền hàng trong nước theo hợp đồng mua bán;
- Thanh toán tiền nhập khẩu mua nguyên vật liệu, hàng hóa;
- Thực hiện các phương án mở rộng sàn xuất, cải tiến kỹ thuật, hiện đại hóa
sản xuất;
- Thực hiện dự án di dời nhà máy vào khu công nghiệp, khu chế xuất, dự án
dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình
thức bảo đảm, giá trị tài sản đảm bảo, phương thức trả nợ và những cam kết khác
được các bên thỏa thuận. Ngoài ra, hợp đồng tín dụng cũng cần nêu rõ quyền và
nghĩa vụ của 2 bên: khách hàng và ngân hàng.
Khách hàng, có quyền
- Từ chối các yêu cầu của tổ chức tín dụng không đúng với các thỏa thuận
trong hợp đồng tín dụng
- Kiếu nại, khởi kiện việc vi phạm hợp đồng tín dụng theo qui định của pháp
luật
Nghĩa vụ:
- Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay
vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài liệu đã
cung cấp
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã thỏa
thuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết khác.
- Trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng,
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thỏa
thuận về việc trả nợ vay và thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm nợ vay đã cam
kết trong hợp đồng tín dụng.
Về phía mình, ngân hàng có quyền:
- Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi, khả
năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi quyết định cho
vay.
- Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vay
vốn, hoặc phương án vay vốn không có hiệu quả, không phù hợp với qui
định của pháp luật hoặc ngân hàng không đủ nguồn vốn để cho vay
- Kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách
hàng
- Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung
vay được thực hiện theo qui định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngoài ra còn một sô hạn chế như ngân hàng không được cho vay không có đảm
bảo, cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối vớ các đối
tượng sau:
- Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán tại tổ chúc tín
dụng cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín
dụng cho vay; Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng cho vay;
- Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng;
- Doanh nghiệp có một trong những dối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 77
của Luật các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh
nghiệp đó.
1.9. NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÔNG CHO VAY
- Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó
Tổng giám đốc (Phó giám đốc) của tổ chức tín dụng;
- Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định,
quyết định cho vay;
- Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thàn viên hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng
giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Giám đốc)
1.10. CÁC PHƯƠNG THỨC CHO VAY
- Cho vay từng lần
- Cho vay theo hạn mức tín dụng
- Cho vay theo dự án đầu tư
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
- Cho vay hợp vốn
- Cho vay trả góp
- Cho vay theo hạn mức thấu chi
- Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm
- Cho vay ủy thác
1.11. CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
khoản cho vay).
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng và tiến độ thực hiện phương án sản xuất kinh doanh
của khách hàng (có phát sinh nhu cầu vốn thực tế) ngân hàng phát triển tiền vay.
Đối với khách hàng vay luân chuyển trong phạm vi hạn mức tín dụng đã xác định,
từng lần vay vốn khách hàng đi vay phải gửi đến cho ngân hàng các chứng từ hàng
hóa, các giấy tờ thanh toán hay hợp đồng kinh tế và trên cơ sở đó ngân hàng cho
vay đáp ứng các nhu cầu vay vốn của khách hàng trong khả năng nguồn vốn cho
phép.
Ngân hàng cho vay có thể phát tiền cho khách vay theo các cách:
- Tiền vay được chuyển trả trực tiếp cho đơn vị cung cấp vật tư, hàng hóa hoặc
dịch vụ cho khách hàng.
- Trường hợp khách hàng vay đã dùng nguồn vốn khác để trả cho người cung cấp
hoặc nếu người cung cấp không có tài khoản tai ngân hàng thì chuyển vào tài
khoản tiền gửi của khách hàng.
- Phát bằng ngân phiếu hoặc tiền mặt cho khách hàng.
@ Thu nợ và lãi
Thu nợ:
Việc thu nợ được tiến hành theo kỳ hạn nợ đã ghi trong hợp đồng tín dụng. Khách
hàng có thể trả nợ trước hạn và phải chủ động trả nợ ngân hàng khi đến hạn.
Khách hàng không trả được nợ đến hạn, ngân hàng có thể xử lý theo bốn trường
hợp sau:
Một là, do nguyên nhân khách quan, khách hàng có văn bản giải trình xin gia hạn,
ngân hàng có thể xét cho gia hạn. Theo quy định quy chế cho vay hiện hành thời
hạn được gia hạn tối đa bằng một chu kỳ sản xuất kinh doanh của đối tượng cần
gia hạn nợ. Riêng đối với trường hợp khó khăn do Nhà nước thay đổi chủ trương
chính sách hoặc nguyên nhân bất khả kháng thì thời hạn tối đa không quá 12
tháng.
Hai là, do nguyên nhân chủ quan, ngân hàng sẽ chuyển sang nợ quá hạn và phạt
theo mức lãi suất nợ quá hạn. Theo quy định hiện hành, lãi suất nợ quá hạn bằng
150% lãi suất trần cùng loại cho vay.
Tiền vay sẽ được ghi vào bên Nợ tài khoản cho vay để :
+ Thanh toán trực tiếp cho người thụ hưởng (nhà cung cấp)
+ Chuyển vào tài khoản tiền gửi của bên vay
+ Giải ngân bằng tiền mặt để bên vay thanh toán tiền mua vật tư, nguyên
liệu cho người thụ hưởng không có tài khoản tại ngân hàng
Việc giải ngân được thực hiện theo tiến độ sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và được thực hiện trong nhiều đợt trong một thời gian nhất định, không kể
nợ vay của đợt trước được hoàn trả hay chưa miễm là số dư trên tài khoản cho vay
không được vượt quá hạn mức tín dụng đã qui định
@ Thu nợ và thu lãi
+ Thu nợ:
Cho vay luân chuyển là loại cho vay mà vốn tín dụng tham gia vào toàn bộ
chu kỳ luân chuyển vốn, do đó trong hợp đồng tín dụng sẽ có điều khoản qui định
tất cả tiền thu bán hàng và những khoản thu khác phát sinh trong quá trình hoạt
động của doanh nghiệp đều được dùng để trả nợ vay luân chuyển, có thể áp dụng
theo một trong hai cách:
– Thu theo định kỳ
– Thu theo doanh thu thực tế, mỗi lần doanh nghiệp có thu tiền bán hàng thì
dùng tiền đó để trả nợ cho ngân hàng, đối với các khoản thu bằng chuyển khoản
ngân hàng sẽ ghi Có vào tài khoản cho vay để thu nợ, trương hợp doanh thu phát
sinh lớn vượt quá số dư thực tế của tài khoản cho vay thì ngân hàng chỉ được thu
hết nợ gốc, khoản tiền còn lại ngân hàng ghi Có vào tài khoản tiền gửi của doanh
nghiệp vay vốn.
- Các khoản thu bằng tiền mặt: Bên vay phải nộp tiền mặt vào ngân hàng để
trả nợ.
+ Thu lãi
Tiền lãi cho vay luân chuyển được tính và thu mỗi tháng một lần vào ngày cuối
tháng
Ngân hàng sẽ trích tiền gửi của doanh nghiệp để thu nợ đồng thời gởi giấy báo Nợ
cho doanh nghiệp.Nếu tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp không có số dư thì
Vòng quay vốn
lưu động
=
Doanh thu thuần
TS ngắn hạn bình quân trong kỳ
Vòng quay toàn
bộ vốn
=
Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quân trong kỳ
Vòng quay hàng
tồn kho
=
Giá vốn hàng bán
Tài sản dự trữ bình quân trong kỳ
Kỳ thu tiền bình
quân
=
dư các khoản phải thu bình quân trong kỳ
Doanh thu bình quân 1 ngày trong kỳ
+ Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu và tình hình tài chính:
Hệ số tự tài
trợ
=
Nguồn vốn chủ sở hữu
Nợ ngắn hạn
Nợ ngắn hạn gồm: vay ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn trả, các khoản phải trả
cho người bán, người nhận thầu, thuế và các khoản phải nộp cho ngân sách, lương
và các khoản phải trả phải nộp khác
Khả năng
thanh toán
trước mắt
=
Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Khả năng
thanh toán
nhanh
=
Tiền + các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
+ Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của đơn vị:
P: Thu nhập ròng
Tốc độ tăng thu
nhập
=
P năm nay
P năm trước
Tỷ suất lợi
nhuận/doanh thu
gởi đến lãnh đạo ngân hàng xét duyệt cho vay.
Hạn mức
tín dụng
=
Nhu cầu vốn lưu
động kỳ kế
hoạch
-
Nguồn vốn kinh
doanh ngắn
hạn
-
Nguồn vốn
LÐ coi như
tự có
-
Nguồn
vốn
ngắn
hạn
khác
Nhu cầu vốn
lưu động kỳ
kế hoạch
=
Tổng chi phí sản xuất kinh doanh kỳ kế hoạch
(Giá vốn kỳ kế hoạch)
Vòng quay vốn lưu động kỳ kế hoạch
Ðầu tư tín dụng qua ngân hàng có ý nghĩa to lớn:
– Trước hết là loại đầu tư có hoàn trả trực tiếp, do vậy nó thúc đẩy việc sử
dụng vốn đầu tư tiết kiệm và có hiệu quả.
– Ðầu tư tín dụng qua ngân hàng là hình thức đầu tư linh hoạt, có thể xâm
nhập vào nhiều ngành nghề với những qui mô lớn, vừa, nhỏ do vậy nó cho phép
thoả mãn nhiều nhu cầu đầu tư xây dựng cơ bản, đổi mới trang thiết bị thay đổi
dây chuyền công nghệ.
– Ðàu tư qua tín dụng là đầu tư bằng nguồn vốn tiết kiệm và tích luỹ trong
xã hội, vì vậy nó cho phép khai thác và sử dụng triệt để các nguồn vốn trong xã
hội để tận dụng và khai thác các tiềm năng về đất đai, lao động, tài nguyên thiên
nhiên để phát triển và mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh
1.12.2. Thủ tục vay vốn trung và dài hạn
Tín dụng đầu tư thực hiện đối với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế (bên vay)
với các điều kiện sau:
- Có năng lực pháp luật dân sự , năng lực hành vi dân sự và chịu trách
nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật
- Có khả năng tài chính, đảm bảo trả nợ đầy đủ, đúng hạn
- Mục đích sử dụng vốn phù hợp với mục tiêu đầu tư và hợp pháp
- Dự án đầu tư là dự án có tính khả thi, tính toán được hiệu quả trực tiếp
- Thực hiện đúng các qui định về bảo đảm tiền vay như thế chấp, cầm cố,
bảo lãnh của bên thứ ba, hoặc được tín chấp
- Có trụ sở làm việc cùng địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc TW nơi ngân
hàng cho vay đóng trụ sở.
1.12.3. Thẩm định dự án đầu tư
@– Bước 1:
Khi có nhu cầu xin vay, khách hàng sẽ nộp vào ngân hàng đơn xin vay trình
bày rõ lý do xin vay và các hồ sơ, tài liệu để thuyết minh cho việc vay vốn. Cán bộ
tín dụng sẽ tiếp nhận hồ sơ từ khách hàng và hẹn ngày với khách hàng để trả lời về
việc xin vay của khách hàng, các tài liệu bao gồm:
2 3
4 5
1
của doanh nghiệp để xem xét tình hình cụ thể và tìm kiếm thêm những thông tin
phục vụ cho công tác thẩm định. Việc khảo sát cơ sở của doanh nghiệp đòi hỏi cán
bộ tín dụng phải có kinh nghiệm, hiểi biết sâu rộng về qui trình công nghệ, cách
thức tổ chức, trình độ quản lý của doanh ngiệp để từ đó có được nhữngđánh giá
chính xác.
@– Bước 3:
Khi nhận tờ trình thẩm định từ cán bộ tín dụng. Trưởng phòng tín dụng tiến
hành xét duyệt, thẩm tra những nội dung được đề cập trong tờ trình thẩm định, kết
hợp cùng cán bộ tín dụng tiến hành khảo sát sơ sở kinh doanh của người xin vay,
nếu đồng ý với đề nghị của cán bộ tín dụng thì trưởng phòng tín dụng sẽ cho biết ý
kiến của mình và trong vòng 5 ngày làm việc phải trình lên Giám đốc chi nhánh
xét duyệt
@– Bước 4:
Giám đốc chi nhánh chỉ xét duyệt cho vay nếu có đủ chữ ký của cán bộ tín
dụng và trưởng phòng tín dụng. Trong trường hợp số tiền cho vay vượt quá mức
phán quyết, giám đốc chi nhánh ngân hàng gởi hồ sơ và tờ trình lên Tổng giám
đốc để xin ý kiến
@– Bước 5:
Tổng giám đốc sau khi nhận hồ sơ và tờ trình của Giám đốc chi nhánh tiến
hành xem xét và quyết định trong thời gian hợp lý, khi đồng ý cho vay thì tổng
giám đốc chỉ dạo việc cấp phát tiền vay, kiểm tra sử dụng vốn vay và đôn đốc thu
hồi nợ
1.12.4. Phương thức cho vay trung và dài hạn.
Ðối tượng cho vay trung hạn, dài hạn là các công trình, hạng mục công trình hay
dự án đầu tư có thể tính toán được hiệu quả kinh tế trực tiếp, nhanh chóng phát
huy tác dụng đảm bảo thu hồi vốn nhanh, cụ thể:
cho vay trên địa bàn. Trong khi đó, vốn huy động được cùng kỳ là 425.317 tỷ
đồng. Nếu tính theo đơn vị thì số DN được vay chiếm tỷ lệ 9,93% (4.658/46.900
DN), tỷ lệ này đối với hộ kinh doanh lại càng thấp hơn (510/115.000 hộ), bằng
0,14%.
Tại TP. HCM, trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, tình hình có vẻ khả dĩ hơn.
Tổng số vốn huy động được qua các tổ chức tín dụng là 588.000 tỷ đồng thì có
446.800 tỷ đồng được giải ngân, trong đó 14.040 DN dân doanh được vay số tiền
207.500 tỷ đồng, chiếm 42% tổng dư nợ cùng kỳ, tính theo DN thì tỷ lệ này là
17,44% (14.040/805.000 DN).
Theo Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 30/10, tổng dư nợ cho vay DNNVV là
263.000 tỷ đồng, trừ số tiền mà DN tại Hà Nội và TP. HCM được vay (233.158 tỷ
đồng) thì các DN tại 61 tỉnh, thành còn lại được vay thật khiêm tốn. Nếu tính bình
quân, mỗi DN tại 61 tỉnh, thành được vay vỏn vẹn vài trăm triệu đồng.
Qua những con số trên có thể thấy, số DN được vay vốn từ ngân hàng là
không nhiều và cơ hội tiếp cận nguồn vốn là rất khác nhau. Trong khi DNNVV
đóng góp đến 18.000 tỷ đồng tiền thuế (chủ yếu là thuế doanh thu, chưa kể thuế
xuất nhập khẩu, thuế trước bạ, phí, lệ phí…) thì việc được tiếp cận nguồn vốn tín
dụng như trên quả là thiếu công bằng. Ở một góc độ nào đó, chính sách mới dừng
lại ở việc khuyến khích DNNVV ra đời, mà chưa có nhiều biện pháp hỗ trợ khối
DN này có cơ hội phát triển, nhất là cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng.
Vì sao?
“Giữa ngân hàng và DN hiện nay như có sự thách đố lẫn nhau”, ông Vũ
Duy Thái, Chủ tịch Hiệp hội Công thương Hà Nội nhận xét. Về phía DN, hầu như
DN có quan hệ từ trước với ngân hàng mới có cơ hội vay vốn. Trên thực tế, DN
muốn vay vốn, nhưng phương án kinh doanh không rõ ràng khiến ngân hàng phải
mất công thẩm định, vốn tự có thường thấp hơn so với quy định (30%), phương án
trả nợ thiếu rõ ràng, minh bạch…; tài sản thế chấp thường có giá trị thấp, tính
năm tháng qua Ngân hàng Nhà nước đã liên tục điều chỉnh lãi xuất nhưng doanh
nghiệp vẫn chưa có ý định vay vì các doanh nghiệp chưa dự đoán được tình hình
kinh tế trong năm tới do sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua.
Về phía ngân hàng, khi lãi xuất giảm cũng đồng nghĩa với việc các ngân
hàng thương mại sẽ giảm được chi phí đầu vào từ việc huy động vốn. Tuy nhiên,
hiện nay Nhà nước lại đang áp dụng mức lãi xuất cho vay trần. Không được vượt
tối đa 150% lãi xuất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước. Điều này cũng gây khó
khăn cho ngân hàng. Mặc dù hạ lãi xuất cơ bản, ngân hàng thương mại được hạ lãi
xuất nhưng để cạnh tranh các ngân hàng thương mại cũng không thể quá giảm lãi
xuất đầu vào. Do đó, mặc dù có dư nguồn để cho vay nhưng các ngân hàng thương
mại cũng khó có thể cho vay. Cộng thêm sự e ngại mở rộng sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp đã làm cho hai đối tượng khó có thể gặp nhau được.
Điều này được nhiều nhà phê bình ví như một người đang thừa mứa thức ăn và
một người đang đói meo vẫn không thể giúp đỡ lẫn nhau. "Cả ông bội thực và ông
ốm đói đều có nguy cơ giống nhau là có thể đi đến chỗ chết. Nhưng họ không thể
đến với nhau. Rào cản từ khủng hoảng thế giới khiến ngân hàng và doanh nghiệp
không tin tưởng nhau"
Trong giai đoạn đóng băng tín dụng, tâm lý sợ hãi khiến ngân hàng, tiếng là
rất muốn cho vay nhưng cũng không dám làm liều. Niềm tin trong kinh doanh có
vấn đề, từ đó ảnh hưởng tới nghiệp vụ của các ngân hàng. Họ thiếu tự tin khi
quyết định hợp tác với doanh nghiệp. Nay, ngân hàng dồi dào vốn nhưng không
thể cho vay bởi các kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp đã "an bài".
Khối các ngân hàng cổ phần càng khó khăn nhiều hơn trong bối cảnh có sự
chênh lệch lớn về lãi suất cho vay với ngân hàng quốc doanh. "Khách hàng đến
đều nói rằng ngân hàng quốc doanh cho vay 11-12%, sao các anh cao thế”
Trong lịch sử ngành ngân hàng thế giới, hậu khủng hoảng sẽ là cuộc "binh
biến phát triển". Nếu chỉ mải lo thoát khỏi khó khăn hiện nay, không chuẩn bị sẵn
kế hoạch cho giai đoạn phục hồi, các ngân hàng sẽ chới với khi kinh tế vào guồng
tăng tốc. Kịch bản tồi tệ nhất sẽ lộ diện vào năm sau. Vòng xoáy khó khăn sẽ đẩy
các ngân hàng từ chỗ thừa vốn không thể cho vay hiện nay sang giai đoạn nợ xấu
sẽ tìm thấy được điểm chung. Điều này giúp các doanh nghiệp muốn nhận được
nguồn tài trợ từ ngân hàng phải lên kế hoạch kinh doanh cụ thể, rõ ràng. Có
phương án kinh doanh và thị trường đầu ra. Còn ngân hàng, sau khi thẩm định dự
án thấy dự án khả thi có doanh thu trong tương lai sẽ mạnh dạn hơn trong việc tài
trợ. Có thể trong gian đoạn đầu ngân hàng sẽ cho ưu đãi mức lãi xuất thấp. Trong
giai đoạn sau dự án đi vào ổn định sẽ tăng lãi xuất lên.
3.3. Xây dựng thời gian vay và lãi xuất cho vay hợp lý
Như đã trình bày trong giải pháp 2, Ngân hàng Nhà nước không nên khống
chế lãi xuất ở mức trần. Chính điều này sẽ làm cho các ngân hàng thương mại sẽ
tự xây dựng cho mình biểu lãi xuất và thời hạn cho vay hợp lý hơn đối với từng
loại món vay.
- Đối với các món vay có thời gian ngắn (dưới 12 tháng): nên áp dụng mức lãi
xuất cho vay cố định và theo mức tùy thuộc vào dự án và món tiền nhận nợ sẽ
được hưởng lãi xuất ưu đãi đôi chút.
- Đối với các món vay trung và dài hạn (từ 3 năm trở lên): nên áp dụng mức lãi
suất và thời hạn cho vay như sau:
+ Trong giai đoạn đầu của dự án nên áp dụng mức lãi suất ưu đãi cho dự án
+ Trong giai đoạn sau sẽ áp dụng mức lãi suất thỏa thuận giữa doanh
nghiệp và ngân hàng
+ Trong hợp đồng cũng qui định việc thỏa thuận biên độ dao động của lãi
suất nếu ngân hàng có điều chỉnh mức lãi suất huy động có kỳ hạn 12 tháng lãnh
lãi cuối kỳ.