Tiểu luận: Cho vay kích cầu đối với các Doanh nghiệp của các NHTM ở Việt Nam hiện nay - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA NGÂN HÀNG
  

MÔN HỌC: NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Tiểu luận: CHO VAY KÍCH CẦU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
CỦA CÁC NHTM VN HIỆN NAY GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh

HVTH:
Lớp: Ngân hàng 4 ngày 1 – K17

dụng.
III. ĐIỀU KIỆN VAY:
Mặc dù khi cho vay, ngân hàng yêu cầu khách hàng vay vốn phải bảo đảm các nguyên
tắc như vừa nêu trên nhưng thực tế không phải khách hàng nào cũng có thể tuân thủ đúng
các nguyên tắc này. Do vậy, để giúp cho việc đảm bảo các nguyên tắc vay vốn, ngân hàng
chỉ xem xét cho vay khi khách hàng thỏa mãn một số điều kiện vay nhất định.Theo quy
chế cho vay khách hàng do Ngân hàng Nhà nước ban hành, các điều kiện vay vốn khách
hàng cầ có bao gồm:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự
theo qui định của pháp luật.
- Có mục đích vay vốn hợp pháp.
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. - Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả;
- Thực hiện các qui định về bảo đảm tiền vay theo qui định của Chính phủ và hướng
dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tuy nhiên, các điểu kiện vay vốn trên đây chỉ là hướng dẫn chung cần thiết cho các
NHTM. Khi cụ thể hóa các điều kiện cho vay này, các NHTM có thể cụ thể hóa và đặt ra
các điểu kiện riêng của mình.
IV.MỤC ĐÍCH VAY VỐN:
Khách hàng doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng phải có mục đích vay vốn hợp pháp,
sử dụng vốn vay vào những múc đích gì?
V. HỒ SƠ VAY VỐN:
Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho tổ chức tín dụng một bộ hồ sơ vay vốn
bao gồm giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn.
Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các
tài liệu gửi cho tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng hướng dẫn các loại tài liệu khách hàng
cần gửi cho tổ chức tín dụng phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng loại khách hàng, loại
cho vay và khoản vay. Thông thường bộ hồ sơ vay vốn gồm có:

trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận.
Ngoài ra, hợp đồng tín dụng cũng cần nêu rõ quyền và nghĩa vụ của hai bên: khách hàng
và ngân hàng.
VIII. GIỚI HẠN VÀ HẠN CHẾ CHO VAY:
Trong hoạt động tí dụng, NHTM bị giới hạn cho vay theo qui định của Luật các Tổ
chức tín dụng nhằm đảm bảo an toàn. Các giới hạn tín dụng khi cho vay ngắn hạn bao
gồm:
- Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có
của ngân hàng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn vốn ủy
thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân. Trường hợp nhu cầu vốn của một
khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng hoặc khách hàng có nhu cầu
huy động vốn từ nhiều nguồn thì các ngân hàng có thể cho vay hợp vốn theo qui
định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Trong trường hợp đặc biệt, ngân hàng chỉ được cho vay vượt quá mức giới hạn cho
vay được thực hiện theo qui định vừa nêu khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép
với từng trường hợp cụ thể.
Ngoài ra, còn có một số hạn chế như ngân hàng không được cho vay không có bảo
đảm, cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với những đối
tượng sau đây:
- Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán tại tổ chức tín dụng
cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng cho vay;
Kế toán trường của tổ chức tín dụng cho vay;
- Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng.
- Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 77 của
Luật các Tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.
IX.NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÔNG CHO VAY:
Ngân hàng không được cho vay trong những trường hợp sau đây: - Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó

và Mỹ).
Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp (VCCI), với mặt bằng lãi suất cao
21% vào đầu năm 2008, tới 73% các DN được điều tra cho biết, đang rất khó khăn trong
việc tiếp cận vốn vay cho những hoạt động kinh doanh sản xuất. Khó khăn càng gay gắt
hơn đối với những DN quy mô nhỏ vì đây là khu vực DN dễ bị tổn thương do hạn chế về
quy mô, nguồn lực, thiếu tài sản thế chấp, không chịu nổi lãi suất cao.
Về phía mình, các ngân hàng vẫn đánh giá cao ưu điểm loại hình DN nhỏ và vừa
(DNN&V) này cần ít vốn, chi phí quản lý, đào tạo không lớn. Đặc biệt, DN quy mô nhỏ
rất nhạy cảm với những biến động của thị trường, chuyển đổi mặt hàng nhanh, phù hợp
với thị hiếu người tiêu dùng, tận dụng được nguyên vật liệu, nhân lực tại chỗ; dễ dàng
cạnh tranh, len lỏi, xâm nhập vào các thị trường. Đặc biệt khách hàng là các công ty cổ
phần hoặc DN sau chuyển đổi rất linh hoạt và nhạy bén trong kinh doanh, quan hệ tín
dụng khá sòng phẳng…
Tuy nhiên, những năm trước đây trong bối cảnh kinh tế tương đối ổn định, nhìn chung các
DN kinh doanh hiệu quả trả nợ gốc, lãi NH đúng hạn. Bên cạnh đó, các NH tăng trưởng
tín dụng mạnh nên cũng dễ dàng cho vay.
Bước sang năm 2008, kinh tế khó khăn, NH hạn chế cho vay để thực hiện mục tiêu kiềm
chế lạm phát) khiến các DNN&V khó khăn trong tiếp cận vốn. Nhiều DN không chống
đỡ được tác động từ sự bất ổn của nền kinh tế nên buộc phải thu hẹp sản xuất và giảm dần
dư nợ. Do doanh thu giảm trong khi chi phí sản xuất và lãi suất vay vốn tăng cao, một số
DN đã không trả được nợ đúng hạn dẫn đến phát sinh nợ quá hạn.

Dư nợ cho vay 163.673 DN nhỏ và vừa trên cả nước đến cuối tháng 7.2008 của các ngân
hàng thương mại đạt gần 300 nghìn tỉ đồng, chiếm 27,3% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế
và tăng 16,65% so với cuối năm 2007. Ngân hàng Nhà nước ngày 30.9 dẫn báo cáo của 6
ngân hàng thương mại nhà nước (bao gồm cả Vietcombank) và 31 ngân hàng thương
mại cổ phần cho hay thông tin trên.
Đáng lưu ý, tỉ lệ nợ xấu cho vay DN nhỏ và vừa của toàn hệ thống theo số liệu mới nhất
chiếm 3,64% (10.886 tỉ đồng) và tăng khoảng 1% so với năm 2007. Trong đó tỉ lệ nợ xấu


đang có 50% trong tổng số DNNVV có quan hệ tín dụng với ngân hàng và tỷ trọng vốn
vay ngân hàng của các doanh nghiệp này chiếm 45,31% trong tổng nguồn vốn hoạt động
của họ.
Đến 29/09/2008, Dư nợ tín dụng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm
27,3% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế
Từ ngày 1-10-2008, LS huy động VND của khối ngân hàng thương mại nhà nước phổ
biến ở mức 16,98-17,14%/năm, của khối ngân hàng thương mại cổ phần phổ biến ở mức
17,38-17,9%/năm. Nhóm các ngân hàng thương mại nhà nước và Ngân hàng thương mại
cổ phần Ngoại Thương (Vietcombank) cũng bắt đầu áp dụng LS cho vay mới, giảm từ
0,5-1,8%/năm so với trước. Một số Ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng đang xem xét giảm LS cho vay phù hợp với chỉ
đạo của Thủ tướng Chính phủ, cung-cầu vốn và mặt bằng LS thị trường; trong đó chú
trọng giảm LS đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, thu mua lương thực, DNVVN và các
dự án đầu tư có hiệu quả.
Đáng chú ý nhất trong tuần qua là hàng loạt các ngân hàng công bố giảm mạnh LS cho
vay doanh nghiệp, triển khai các chương trình cho vay doanh nghiệp với LS ưu đãi và
dành hàng ngàn tỉ đồng giải ngân cho DNVVN trong thời gian từ 1-10-2008 đến cuối
năm. Cụ thể, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển công bố giảm LS cho vay còn ở mức từ
17,5-18,2%/năm, trong đó, LS cho vay đối với DNVVN giảm còn 17,8%/năm.
Vietcombank cũng công bố giảm LS cho vay còn 19,5%/năm và dành 3.000 tỉ đồng cho
vay phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh của các DNVVN làm ăn có hiệu quả. Eximbank
cũng điều chỉnh giảm LS cho vay đối với DNVVN còn 17,5% và công bố dành 3.000 tỉ
đồng giải ngân cho đối tượng khách hàng này.
Theo thống kê của Hiệp hội Công thương Hà Nội, đến thời điểm tháng 10/2008, trên địa
bàn Hà Nội mới có 4.658 DN dân doanh và 510 hộ cá thể được vay số tiền 25.658 tỷ đồng
(chiếm 10,41%) trong tổng số 246.322 tỷ đồng dư nợ cho vay trên địa bàn. Trong khi đó,
vốn huy động được cùng kỳ là 425.317 tỷ đồng. Nếu tính theo đơn vị thì số DN được vay
chiếm tỷ lệ 9,93% (4.658/46.900 DN), tỷ lệ này đối với hộ kinh doanh lại càng thấp hơn

DNNVV, VietinBank đã dành 10 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ cho vay khi DNNVV hội tụ đủ
các điều kiện.
Tính đến 31/10/2008, dư nợ cho vay đối với DNNVV của Agribank cũng đạt 84.210 tỷ
đồng, chiếm 32% tổng dư nợ. Những tháng đầu năm 2008, mặc dù các NHTM phải thực
thi chính sách thắt chặt tiền tệ để giảm lạm phát, nhưng Agribank vẫn dành hàng chục
nghìn tỷ đồng để đáp ứng nhu cầu vốn cho DNNVV, nhất là các DN hoạt động trong lĩnh
vực nông nghiệp, nông thôn với mức lãi suất ưu đãi. Ngoài cho vay, Agribank còn thực
hiện hoạt động cho thuê tài chính đối với DNNVV với số dư trên 5 nghìn tỷ đồng. Đến
nay, có gần 30.000 DNNVV đang có quan hệ tín dụng với Agribank, tăng 26 nghìn so với
năm 2001.
Ngày 19/11/2008 , Lãi suất cho vay bình quân trên thị trường đã giảm về bằng mức lãi
suất cho vay năm 2007, hiện đang từ 10% đến 14%/năm. Nhưng nguồn vốn bơm ra thị
trường vẫn chưa được như kỳ vọng, mặc dù các ngân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp
tiếp thị.
Lãi suất cho vay đã giảm đến mức được cho là hấp dẫn, nhưng trong tình hình này nhiều
khách hàng vẫn "ngó lơ" ngân hàng. Gói kích cầu của NHTMCP An Bình (ABBank)
"Cho vay được vàng" đến nay dư nợ đạt được khoảng 100 tỷ đồng trên mục tiêu tối thiểu
là 500 tỷ đồng. Lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh của ABBank đã giảm xuống còn
14%/năm, cho vay sản xuất kinh doanh trả góp (YouShop) là 14,5%/năm. Ông Đàm Thế
Thái - Giám đốc khối Khách hàng cá nhân ABBank cho biết, so với cuối năm 2007 thì
mức giải ngân đã giảm 4-5 lần. Mặc dù, lãi suất cuối năm 2008 đang thấp hơn cuối năm
2007 (năm 2007 là 14,4%/năm), nhưng giải ngân của ngân hàng vẫn không như kỳ vọng.
Hiện tại, nhiều ngân hàng luôn khẳng định vẫn tiếp tục bơm vốn ra thị trường. Nhưng
trong tình hình hiện nay thì khách hàng tốt vẫn còn xem xét đợi đến khi lãi suất giảm
thêm. Do vậy, nhiều ngân hàng đã phải dùng "vốn mồi" để kích thích DN vay vốn. Chẳng
hạn, NHTMCP Quốc tế (VIB Bank) chi nhánh TP. Hồ Chí Minh cũng vừa có cuộc gặp gỡ
các DN dệt may là thành viên của Hội dệt may thêu đan TP. Hồ Chí Minh, trong đó VIB
Bank đã tiếp thị vốn đến khối DN này sản phẩm "Vay vốn VND tài trợ cho sản xuất hàng
xuất khẩu với lãi suất siêu ưu đãi chỉ từ 8% - 10%/năm". Ông Ngô Xuân Dũng - Giám
đốc điều hành VIB Bank chi nhánh TP. Hồ Chí Minh cho biết, ngân hàng xét cấp vốn dựa

Lãi suất cho vay ngắn hạn đồng loạt áp mức 9%/năm cho khách hàng là doanh nghiệp nhỏ
và vừa, doanh nghiệp sử dụng trên 1.000 lao động, sản xuất hàng tiêu dùng thay thế hàng
nhập khẩu.
Các khoản vay còn lại chia làm hai kỳ hạn: 9,5% - 10%/năm đối với thời hạn cho vay đến
6 tháng; 10% - 10,5%/năm đối với thời hạn cho vay trên 6 tháng.
Đối với các đối tượng, mặt hàng, sản phẩm được cấp bù lãi suất của Chính phủ, cho vay
kích cầu, thu mua lúa tồn trong dân, nông sản tồn kho, gạo, cà phê, cao su, cho vay các
đối tượng thuộc trong 5 gói giải pháp của Chính phủ được hỗ trợ cấp bù lãi suất qua Ngân
hàng Phát triển Việt nam, BIDV sẽ thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ.
Về cho vay trung và dài hạn, BIDV áp dụng lãi suất cho vay trung dài hạn bằng lãi suất
tiết kiệm 12 tháng trả sau cộng với phí tối thiểu là 3%/năm nhưng không vượt quá 150%
lãi suất cơ bản.
Đối với cho vay bằng USD, BIDV áp dụng mức lãi suất cho vay ngắn hạn chung cho tất
cả các khách hàng, thời hạn cho vay đến 3 tháng thấp nhất là 4,8%/năm; thời hạn cho vay
từ trên 3 tháng đến 6 tháng thấp nhất là 5,3%/năm; thời hạn cho vay trên 6 tháng thấp nhất
5,7%/năm.
Theo Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư Võ Hồng Phúc, nguồn tiền 1 tỷ USD kích cầu sẽ
dùng để hỗ trợ lãi suất cho ngân hàng, để ngân hàng ưu tiên giúp đỡ DN. Đối tượng
được hỗ trợ phần lớn sẽ là DN vừa và nhỏ, mức bù lãi suất có thể là 4%. Bên cạnh đó,
một phần có thể dành xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho sinh viên, giải quyết việc làm,
phát triển nông nghiệp và nông thôn.“Như vậy khoản tiền này không cho không, mà chỉ
hỗ trợ lãi suất. Và sẽ sử dụng công khai, minh bạch”, Bộ trưởng Phúc khẳng định. Thông
tin được đưa ra trong buổi họp báo cuối năm, sau phiên họp của Chính phủ tại TP.HCM
chiều 24/12.

Mục tiêu năm 2009 được Chính phủ xác định là thúc đẩy sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu.
Để thực hiện mục tiêu này, trọng tâm sẽ là tháo gỡ khó khăn để DN sản xuất và tiêu thụ

đồng hỗ trợ vốn cho DNVVN, theo tôi chỉ là dấu hiệu cho thấy thị trường vốn đã được
nới lỏng vì thực tế các chương trình này của ngân hàng chưa được triển khai rộng rãi.
Mức LS cho vay hiện cũng còn quá cao, nhiều rủi ro trong tình hình kinh doanh khó khăn
như hiện nay. Vì vậy, chúng tôi đã tạm gác lại dự án đầu tư với kinh phí khoảng 100 tỉ
đồng. Thay vì vay vốn ngân hàng, chúng tôi đang tính đến phương án gọi vốn cổ phần”.
Bà Nguyễn Mỹ Thuận, Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp TP Cần Thơ, nói: “Những
giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ đã bắt đầu phát huy hiệu quả. Nhưng dù tình
hình thị trường tài chính tiền tệ đã khả quan hơn nhưng vẫn chưa được cải thiện hoàn
toàn, nên DNVVN vẫn còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay. Ngoài việc cắt
giảm chi phí, thu hẹp quy mô hoạt động, các DNVVN ở TP Cần Thơ chủ yếu vẫn tự xoay
xở vốn bằng cách huy động vốn qua các mối quan hệ xã hội, đàm phán với khách hàng rút
ngắn thời gian thanh toán tiền hàng Tuy nhiên, phần lớn DNVVN đều gặp khó khăn.
Chỉ những doanh nghiệp có uy tín, dự báo tốt về tình hình thị trường và điều chỉnh kế
hoạch kinh doanh kịp thời mới có thể đảm bảo hoạt động không lỗ và có hiệu quả”.
Trong khi nhiều ngân hàng TMCP định vị đối tượng khách hàng mục tiêu của mình
là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thì hiện tại, số DN được vay vốn lại quá
khiêm tốn. Vì sao có nghịch lý này trong bối cảnh lãi suất cho vay đang giảm mạnh,
ngân hàng “thừa tiền” và nhu cầu của DN là khá lớn?
Qua những con số trên có thể thấy, số DN được vay vốn từ ngân hàng là không nhiều và
cơ hội tiếp cận nguồn vốn là rất khác nhau. Trong khi DNNVV đóng góp đến 18.000 tỷ
đồng tiền thuế (chủ yếu là thuế doanh thu, chưa kể thuế xuất nhập khẩu, thuế trước bạ,
phí, lệ phí…) thì việc được tiếp cận nguồn vốn tín dụng như trên quả là thiếu công bằng.
Ở một góc độ nào đó, chính sách mới dừng lại ở việc khuyến khích DNNVV ra đời, mà
chưa có nhiều biện pháp hỗ trợ khối DN này có cơ hội phát triển, nhất là cơ hội tiếp cận
vốn ngân hàng.
Vì sao?
“Giữa ngân hàng và DN hiện nay như có sự thách đố lẫn nhau”, ông Vũ Duy Thái, Chủ
tịch Hiệp hội Công thương Hà Nội nhận xét. Về phía DN, hầu như DN có quan hệ từ
trước với ngân hàng mới có cơ hội vay vốn. Trên thực tế, DN muốn vay vốn, nhưng
phương án kinh doanh không rõ ràng khiến ngân hàng phải mất công thẩm định, vốn tự có

nhỏ và vừa vẫn đang chờ đợi lãi suất thấp hơn (ở mức 8%-10%/năm) mới mạnh dạn vay.
Có ý kiến cho rằng bản chất của lãi suất là giá cả đồng vốn. Nếu doanh nghiệp thấy lãi
suất cao thì sẽ hạn chế vay mượn, người gửi tiền thấy lãi suất cao sẽ gửi tiền nhiều hơn,
như vậy cung lớn hơn cầu và lãi suất sẽ phải giảm để cân đối lại cung cầu.
Nếu xem DN lớn là “chiến binh” xông ra tiền tuyến thì DNNVV chính là hậu phương
vững chắc, vì thế không nên tạo ra sự bất bình đẳng trong thời điểm cần sự đồng thuận để
vượt qua khó khăn như lúc này.
Trong cuộc điều tra mới đây về tình hình quan hệ tín dụng đối với DNN&V gần đây của
Ngân hàng Nhà nước, các NHTM đã nêu nhiều ý kiến về những tồn tại, hạn chế trong
quan hệ tín dụng với DNN&V hiện nay:
Chưa đủ uy tín kinh doanh Hạn chế về nhân lực và quản lý, chưa minh bạch tài chính, vốn tự có thấp, khả năng tiếp
cận thông tin và thị trường hạn chế là những nguyên nhân chính khiến NH e ngại khi
cho vay DNN&V.
Theo các NH, đội ngũ quản lý, nhân viên của DNN&V có ít kinh nghiệm, hoạt động
thường chưa ổn định, chưa chuyên nghiệp. Xuất phát điểm của các DN nhỏ thường là từ
kinh nghiệm kinh doanh thực tế của chủ DN, các yếu tố về quản lý và thực thi pháp luật
còn có phần hạn chế nên dẫn đến một số tình trạng không định lượng được rủi ro của hoạt
động kinh doanh.
NHTMCP Nam Á - chi nhánh Hà Nội nhận xét: "DN rất thiếu cán bộ kỹ thuật, thợ lành
nghề chuyên môn cao, các nhà quản lý chuyên nghiệp làm hạn chế việc tiếp cận và áp
dụng tiến bộ KH-KT tiên tiến vào SX cũng như hoạch định chiến lược phát triển, mở rộng
thị trường. Nguyên ngân được xác định là chất lượng các cơ sở đào tạo còn thấp, trang
thiết bị thiếu. Nhiều DN coi đào tạo là chi phí rất ít DN có kế hoạch phát triển nguồn nhân
lực một cách chính thức, đặc biệt nâng cao năng lực chuyên môn cho những cán bộ chủ
chốt có ảnh hưởng đến năng lực quản lý - điều hành và khả năng cạnh tranh của DN".
Do thiếu cán bộ chuyên môn và tài chính hạn chế nên các DN nhỏ thường không thể thu
thập được đầy đủ thông tin thị trường cần thiết (về giá cả, đối tác, bạn hàng nước ngoài )

cho vay. Trong khi nguồn vốn huy động với mức LS rất cao nhưng LS cho vay bị giới
hạn trần 21%/năm làm cho khe hở LS giữa huy động và cho vay rất hẹp, NH hầu như
không có lãi.
Cho vay DNN&V chi phí cao, lợi nhuận thấp, các món vay bị chia nhỏ gây khó khăn
trong việc thu hồi vốn. Nếu xảy ra rủi ro phải xử lý tài sản đảm bảo cũng rất tốn kém và
mất nhiều thời gian”.
NHTMCP Đông Nam Á - chi nhánh Hai Bà Trưng phản ánh: “Các NH thiếu các nguồn
thông tin đáng tin cậy để đánh giá DN. Trung tâm Thông tin tín dụng của NHNN Việt
Nam hầu như chưa có thông tin về DNN&V. Hiện nay việc đăng ký thành lập pháp nhân
khá đơn giản nhưng không biết DN ra đời có thực sự hoạt động hay không. Hiện chưa tổ
chức nào ở Việt Nam xây dựng hệ thống phân loại và xếp hạng DNN&V để cung cấp
thông tin cho các đơn vị cung ứng vốn”. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ TIẾP CẬN VỐN CHO DOANH NGHIỆP
I. GIẢI PHÁP T
Ừ PHÍA CHÍNH PHỦ, CÁC NHTM:
1.
Kích cầu - cần giải pháp đồng bộ:
Theo GS. Trần Hoàng Ngân - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí
Minh, hiện nay lãi suất cho vay đã giảm nhiều so với những tháng đầu năm 2008, và
nhiều người cho đây là nguồn vốn rẻ. Nhưng vốn như thế nào được coi là rẻ? Tuy nhiên,
nếu nói là vốn giá rẻ thì phải so sánh với hiệu quả kinh doanh của DN. Trong điều kiện
nền kinh tế khó khăn và suy giảm như hiện nay thì tỷ suất lợi nhuận của nhiều DN cũng
khó đảm bảo đạt được 15%. Để giải quyết bài toán này thì cần khuyến khích tăng trưởng
kinh tế và xuất khẩu trong đó có sự trợ giúp của Chính phủ, bên cạnh việc ngân hàng ưu
tiên lãi suất "mềm" cùng với việc đảm bảo nguồn vốn cho vay ra. Xuất khẩu hiện nay gần
như đang bị tắc ở một số "phân đoạn". Để giải quyết bài toán xuất khẩu thì phải có sự
điều tiết của chính sách vĩ mô, có thể là Nhà nước hỗ trợ cho những DN đi tìm thị trường
xuất khẩu mới cho hàng hoá Việt Nam, như hỗ trợ rủi ro hoặc bảo hiểm cho những DN

cho DN có thể phát triển sản xuất kinh doanh. Đây là một mức lãi suất để kìm chế đầu tư
và tiêu dùng.
Trên thế giới chưa từng có một nền kinh tế nào phát triển ổn định bền vững với lãi suất ở
mức ấy. Hiện nay trên thế giới lãi suất chiết khấu và lãi suất cấp vốn từ ngân hàng trung
ương cho ngân hàng thuơng mại là 0,10% bên Nhật, bên Mỹ chỉ còn 0,0% đến 0,25%, và
từ 1 đến 3% bên châu Âu. Hiện nay Fed đang xem xét rút lãi suất chiết khấu xuống còn
0,50%.
Với các mức lãi suất chiết khấu và cung cấp vốn ở mức này các ngân hàng thương mại có
thể cho DN vay với lãi suất từ 1-2% (Nhật) đến 6-7% (Mỹ và châu Âu). Trong tình hình
kinh tế hội nhập, DN Việt Nam sẽ khó có thể cạnh tranh được với lãi suất khoảng 15%
thời gian qua
Vấn đề là trong những tháng vừa qua các ngân hàng thương mại Việt Nam đã huy động
vốn với lãi suất từ 17 đến 19%, nay đang ôm một số vốn huy động với lãi suất cao mà
không tìm được người để cho vay với lãi suất đã giảm mạnh. Do đó các ngân hàng sẽ gặp
khó khăn, bị lỗ nặng, ảnh hưởng đến sự tồn vong của nhiều ngân hàng. Lãi suất sẽ còn
giảm xuống nữa và xí nghiệp không vội vàng gì để đi vay với lãi suất cao.
Trong năm 2009 lãi suất sẽ còn tiếp tục giảm, các xí nghiệp sẽ tìm vay với lãi suất thấp để
trả nợ sớm và huỷ những hợp đồng vay với lãi suất cao. Hệ thống ngân hàng sẽ phải đối
mặt với rất nhiều khó khăn, khó tránh khỏi thua lỗ.
- Ngân hàng làm gì để tránh phá sản?
Một mặt DN cần vay vốn với lãi suất ở mức cạnh tranh với quốc tế, khoảng từ 5 đến 7%,
mặt khác ngân hàng đã lỡ huy động vốn với lãi suất 17-19%, vậy thì có giải pháp nào để
cung ứng đầy đủ tín dụng cho DN phát triển, đồng thời không đẩy ngân hàng đến phá
sản?
Một phương án khả thi là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cung cấp vốn cho ngân hàng
thương mại (NHTM) với lãi suất 1-2% để NHTM cho DN vay với lãi suất 5-7%, và đem
hợp đồng vay chiết khấu lại cho NHNN. Như vậy NHTM không phải huy động vốn trong
nhân dân, mà chỉ thực hiện chức năng giám định các dự án khả thi, lựa chọn các DN có
sản phẩm tốt, có thị trường ổn định và phát triển, có ban quản lý tốt, có khả năng hoạt
động kinh doanh có lãi, bảo đảm được việc hoàn trả vốn và trả lãi cho ngân hàng.

BIDV không ngừng chia sẻ khó khăn đối với DN như giảm lãi suất cho vay (LSCV); thực
hiện cơ chế linh hoạt về tài sản bảo đảm… Từ tháng 9/2008 đến nay, BIDV đã 9 lần giảm
lãi suất cho vay. Hiện BIDV áp dụng LSCV đối với DNNVV là 11,4%/năm - thấp hơn
mức LSCV ngắn hạn thông thường 1,6%/năm (áp dụng từ 1/12/2008). Dự kiến trong
tháng 12/2008, mức tăng trưởng tín dụng của BIDV sẽ tăng từ 3 - 3,5% so với tháng
11/2008, tương đương khoảng 4.500- 5.000 tỷ đồng được các DN hấp thụ.
Trong gói giải pháp dành cho DNNVV lần này, BIDV đưa ra những hỗ trợ cả trong ngắn
hạn và dài hạn cho DN. Để tạo mọi điều kiện cho DN tiếp cận được nguồn vốn ngân
hàng, BIDV áp dụng linh hoạt các hình thức bảo đảm tiền vay như cho vay trên cơ sở tài
sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh của bên thứ 3, tài sản hình thành từ vốn vay, nguyên vật
liệu tồn kho, quản chấp lô hàng, quyền đòi nợ… Trong một số trường hợp, dựa trên cơ sở hiệu quả của dự án đầu tư (hoặc phương án kinh doanh) và kết quả xếp hạng DN, BIDV
có thể cho vay không có tài sản bảo đảm. Ngoài các hình thức cho vay thông thường, các
DN xuất khẩu còn có thể tham gia chương trình hoán đổi tiền tệ chéo VND-USD; chiết
khấu bộ chứng từ hàng xuất. Không những thế, BIDV còn hỗ trợ, tư vấn cho DNNVV
trong việc lập dự án, hồ sơ vay vốn; Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực về lĩnh vực tài chính
ngân hàng Quan trọng hơn, BIDV sẽ xem xét góp vốn đầu tư, liên doanh, liên kết đối
với các DNNVV phù hợp với định hướng phát triển của BIDV.
Trước mắt, BIDV sẽ tiếp tục tài trợ vốn để hỗ trợ DNNVV duy trì và phát triển hoạt động
sản xuất kinh doanh. BIDV dành sự hỗ trợ đặc biệt cho những DN hoạt động trong lĩnh
vực sản xuất hàng xuất khẩu, sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu; DN khai thác chế biến
tài nguyên khoáng sản, đầu tư thuỷ điện vừa và nhỏ. Trong điều kiện kinh doanh khó
khăn hiện nay, nhiều DN phải thay đổi kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình. Để tăng
cường sức "đề kháng" cho DN, ngân hàng sẽ tư vấn cho DN tái cấu trúc tài chính, cơ cấu
nợ, tăng năng lực tài chính cho DN… nhằm duy trì hoạt động cho DN và tạo nền tảng
phát triển sau khi các DN vượt qua khó khăn.
Dự kiến đến năm 2010, BIDV sẽ đạt tổng dư nợ cho vay và bảo lãnh đối với khối
DNNVV khoảng 100.000 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khoảng 35% trên tổng dư nợ cho vay và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status