Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Tiểu luận
Cho vay kích cầu đối với các Doanh nghiệp của
các NHTM ở Việt Nam hiện nay P
Giảng viên hướng dẫn: TS. Lại Tiến Dĩnh
Học viên thực hiện:
Lớp: Cao Học – Ngân Hàng – Ngày 1
Khóa: 17
ngày càng trở thành Ngân hàng của toàn dân
Nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Ngân hàng Việt Nam nói riêng đã trải qua
hơn 10 năm kinh nghiệm chuyển đổi sang cơ chế thị trường, đã thu được những thành tựu ban
đầu rất khả quan, đồng thời cũn g đã và đang tiếp tục phải đối mặt với những thách thức suốt
tiến trình đổi mới, nhất là trong bối cảnh tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế đang vận
động mạnh mẽ theo xu hướng toàn cầu hoá mà Việt Nam không nằm ngoài tiến trình khách
quan này Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
Phần I
LÝ THUYẾT C HUNG VỀ C HO VAY ĐỐI VỚ I DOANH NGHIỆP
1. C ác vấn đề chung về cho vay doanh nghiệp:
1.1 Khái niệm:
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng
một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận v ới nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc v à lãi.
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn
vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng.
Dựa vào thời hạn, có thể chia cho vay doanh nghiệp thành:
+ Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn vay đến 12 tháng
+ Cho vay trung hạn là các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60
tháng.
+ Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên.
1.2.Nguyên tắc vay vốn:
- Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết.
1.5.Thẩm định và quyết định cho vay
Thẩm định và quyết định cho vay là khâu rất quan trọng trong toàn bộ qui trình tín
dụng. Để có căn cứ quyết định cho vay hay không cho vay, các tổ chức tín dụng sẽ:
Tổ chức tín dụng xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc bảo đảm
tính độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm
định và quyết định cho vay.
Tổ chức tín dụng xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu tư, phương
án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục v ụ đời sống và
khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng để quyết định cho vay.
Tổ chức tín dụng quy định cụ thể và niêm yết công khai thời hạn tối đa phải thông
báo quy ết định cho vay hoặc khôn g cho vay đối với khách hàng, kể từ khi nhận được
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
đầy đủ hồ sơ vay vốn và thông tin cần thiết của khách hàn g. Trường h ợp quyết định
không cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản, trong
đó nêu rõ căn cứ từ chối cho vay.
1.6.Hợp đồng tín dụng
Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng
tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đich sử dụng vốn vay,
phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản
bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận.
1.7.Giới hạn cho vay
Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của
tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn vốn uỷ thác của
Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân. Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng vượt
quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều
nguồn thì các tổ chức tín dụng cho vay hợp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
Trong trường hợp đặc biệt, tổ chức tín dụng chỉ được cho vay vượt quá mức giới hạn
lưu động. Do vậy, để đầu tư vào tài sản lưu động. doanh nghiệp thường phải sử dụng nguồn
vốn ngắn hạn.
2.1.1.Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên
Xuất phát từ sự chênh lệch hoặc không ăn khớp nhau v ề thời gian và quy mô giữa tiền
vào và tiền ra của doanh nghiệp. Nếu dòng tiền chi ra lớn hơn dòng tiền thu vào, doanh
nghiệp cần bổ sung thiếu hụt. Khoản thiếu hụt này trước hết bổ sung từ vốn chủ sở hữu và các
khoản nợ phải trả khác mà doanh nghiệp có thể huy động được. Phần còn lại doanh nghiệp sử
dụng tài trợ ngắn hạn của ngân hàng. Đây là nguyên tắc mà cán bộ tín dụng n gân hàng cần
nắm vững để xác định hạn mức tín dụng sau này.
2.1.2.Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ
Nhu cầu vốn thời vụ xuất phát từ đặc điểm thời vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh
khiến cho nhu cầu vốn ngắn hạn tăng đột biến.
Ví dụ: Nhu cầu vốn ngắn hạn của công ty sản xuất chế biến xuất khẩu tôm có thể có nhu
cầu vốn ngắn hạn tăn g đột biến vào mùa thu ho ạch tôm.
2.2.Phương thức cho vay
Hai phương thức cho vay ngắn hạn áp dụng phổ biến hiện nay là:
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
- Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân h àng thương mại thực hiện
thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: ngân hàng thương mại và khách hàng xác định và
thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
2.2.1.Cho vay từng lần theo món
Khách hàng xin vay món nào thì phải làm hồ sơ xin vay món đó. Nếu trong một quý
khách hàng có bao nhiêu món vay thì khách hàng phải làm bấy nhiêu hồ sơ xin vay. Bộ phận
tín dụng tiến hành phân tích hồ sơ x in vay và xem xét cho vay đối với từng hồ sơ cụ thể.
2.2.2.Cho vay theo hạn mức tín dụng
Đặc điểm cơ bản của loại cho vay này là một hồ sơ xin vay dùng để x in vay cho nhiều
món vay. Khách hàn g nộp hồ sơ vay vốn một lần vào đầu quý.Ngân hàng tiến hành phân tích
hàng như sau:
Số tiền chuyển
cho người xin
chiết khấu
= Mệnh giá TP - Lãi suất chiết khấu - Hoa hồng phí
Trong đó:
Hoa hồng phí = Mệnh giá TP x Tỷ lệ hoa hồng (%)
Lãi chiết khấu =
Mệnh giá TP x Lãi suất chiết khấu (%/năm) x Số ngày nhận chiết khấu
360
Số ngày nhận chiết khấu tính từ ngày xin chiết khấu đến ngày đáo hạn (khôn g tính
ngày xin chiết khấu và ngày đáo hạn).
Cách thức thu lãi được thực hiện ngay khi chiết khấu bằng cách khấu trừ vào mệnh
giá. Đến ngày thanh toán ghi trên thương phiếu, ngân hàng thực hiện thu nợ ở người trả tiền
bằng cách thông báo cho người trả tiền hoặc gửi thương phiếu đến ngân hàng ủy nhiệm nhờ
thu hộ.
3.3.Chiết khấu chứng từ có giá khác
Ngoài thương phiếu, các chứng từ có giá trị khác nh ư trái phiếu, tín phiếu Kho bạc
Nhà nước, kỳ phiếu, sổ tiền gửi tiết kiệm cũng được ngân hàng thực hiện chiết khấu.
Khi ch iết khấu, cần phân biệt 2 loại:
+ Trái phiếu chiết khấu: phương pháp tính chiết khấu của trái phiếu chiết khấu giống
như tính chiết khấu thương phiếu.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
+ Trái phiếu được hưởng lãi định kỳ: ph ương pháp tính như sau:
Số tiền chuyển
cho người xin
chiết khấu
= Trị giá chiết khấu - Lãi chiết khấu - Hoa hồng phí
PHẦN II
THỰC TRẠNG CHO VAY ĐỐ I VỚI DO ANH NGHIỆP 2008
2. Thực trạng về cho vay và tình hình kinh tế của các doanh nghiệp năm 2008:
2.1 Những m ặt đạt được:
Trong quá trình đổi mới, hệ thống ngân hàng có tầm quan trọng đặc biệt, là kênh cơ
bản cung ứng vốn cho nền kinh tế để thực hiện các chỉ tiêu vĩ mô của nền kinh tế. Ngoài cho
vay thương mại đối với các tổ chức và cá nhân, hệ thống ngân hàng còn là nguồn tài chính
quan trọng để thực hiện các chủ trương, chính sách của Đản g và Chính phủ như cho vay đối
với hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa, góp phần hạn chế đáng kể sự chênh lệch phát triển giữa các
nhóm thu nhập và giữa các vùng trong nước, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong điều kiện thị trường tài chính còn sơ khai, tín
dụng ngân hàng là kênh chủ yếu cung ứng vốn cho chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế
trong suốt 20 năm qua. Dư nợ tín dụng ngân hàn g tăng trung bình khoảng 25%/năm và hiện
chiếm khoảng 50% GDP.
Năm 2008 đang dần khép lại với biết bao sự kiện, diễn biến phức tạp và khó lường
của nền kinh tế thế giới, cũng là năm hệ thống Ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với những
khó khăn, thách thức chưa từng có trong hơn h ai mươi năm đổi mới.
Ngay từ đầu năm, căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội và của Chính phủ về mục tiêu,
nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội n ăm 2008, Ngân h àng Nhà nước đã xác định 11 nhóm
nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành Ngân hàng năm 2008 với nội dung ch ủ yếu là:
+ Hoàn thiện hệ thống thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; tiếp tục đổi mới và
nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường phù hợp với mục
tiêu kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; đáp ứng có hiệu quả các nhu cầu vốn
cho phát triển kinh tế, đồng thời kiểm soát chặt chẽ qui mô và chất lượng tín dụng.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
+ Ccơ cấu lại tổ chức, bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát
ngân hàng; đẩy nhanh chươn g trình tái cơ cấu, nâng cao năng lực hoạt động và khả năn g cạnh
tranh của các tổ chức tín dụng trong nước.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
tháng cuối năm, diễn biến kinh tế và lạm phát của Việt Nam cũng nằm trong xu hướng chung
của kinh tế thế giới, nên các giải pháp vĩ mô cũng có sự thay đổi cho phù hợp. Tháng 11/2008,
Chính phủ đã đưa ra 5 nhóm giải ph áp nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định vĩ mô, trong
đó đặc biệt quan tâm đến nhóm giải pháp về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ theo
hướng chặt chẽ, linh hoạt, hiệu quả để vừa duy trì tốc độ tăng trưởng, vừa ổn định kinh tế vĩ
mô. Biểu:Lãi suất cơ bản các thời điểm năm 2008
Thời điểm áp Lãi suất
01-2008
8,25%
01-2-2008
8,75%
03-2008
8,75%
04-2008
8,75%
19
-
10%
22/12/2008
8,5%
Với mức lãi suất trong tháng 11/2008 cho dù đã giảm so với mức 21%/năm tháng
09/2008 nhưng vẫn rất cao và hiếm có doanh n ghiệp sản x uất kinh do anh nào dám vay vì khó
có thể đạt được lợi nhuận tới 18-20%/năm để đủ trả lãi ngân hàng. Cá biệt Ngân hàng Đầu tư
& Phát triển Việt Nam đưa mức lãi suất thấp nhất là 15%/năm; Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam thấp nhất cũng là 15,2%/năm; Ngân hàn g Công thương Việt Nam và Ngân hàng Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam có mức lãi suất thấp nhất là 15,5%/năm.
Tuy nhiên, khôn g phải là doanh nghiệp nào cũng vay được lãi suất đó. Thậm chí
không loại trừ mức lãi suất cho vay 15%-15,5%/năm được thông báo chỉ có tính chất “tượng
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
trưng”, hay tuyên truyền về mặt tâm lý trong bối cảnh kinh tế chung hiện nay. Những doanh
nghiệp vay được thường thuộc diện có kim ngạch xuất khẩu khá, thị trường ổn định và sử
dụng trọn gói dịch vụ của NHTM đó như cam kết chiết khấu bộ chứng từ, mua bán n goại tệ,
thanh toán quốc tế qua ngân hàng, … Tức là NHTM chấp nhận lỗ khi cho vay lãi suất 15%-
15,5%/năm nhưng bù lại họ thu lãi ở các dịch vụ khác có liên quan. Hoặc là các doanh nghiệp
sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu, hàng hoá thuộc danh mục ưu tiên của Chính ph ủ.
Lãi suất cho vay phổ biến vẫn là 18%/năm. Mức lãi suất đó quả thực vẫn rất cao nếu
đặt trong bối cảnh sức mua giảm hiện nay. Nhiều mặt hàng vật liệu xây dựng mặc dù giảm giá
nhưng vẫn ứ đọng và rất khó tiêu thụ. Giá các mặt hàng nông sản, thực phẩm cũng giảm
mạnh, người sản xuất kinh doanh có nguy cơ thua lỗ Kim ngạch xuất khẩu tháng 10/2008
giảm hơn 3% so với tháng 9/2008.
Trước bối cảnh phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước, trong 6 tháng đầu năm,
NHNN đã có những phản ứng chính sách kịp thời, sử dụng đồng bộ v à quyết liệt về điều hành
chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát có hiệu quả và ổn định kinh tế vĩ mô. Các
công cụ chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt để h út tiền từ lưu thông nhưng vẫn đảm
2007
2008
GDP
(t
ỷ
đ
ồng
)
839.200
974.200
1.144.000
D
ư
n
ợ
cho vay (t
ỷ
đô
ng)
thống ngân hàng đề tăng và đến cuối năm 2008 đã đạt tốc độ tăng trưởng 53,7%, cao hơn mức
bình quân chung của các nước có thu nhập thấp.
Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các NHTM điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, cơ cấu
tín dụng phù hợp với chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, của
ngành đi đôi với kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng; ưu tiên vốn cho các lĩnh v ực sản
xuất, xuất khẩu, nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, nông n ghiệp nông thôn, doanh n ghiệp vừa
và nhỏ, các dự án đầu tư có hiệu quả….Đảm bảo đáp ứng có hiệu quả các nhu cầu vốn phục
vụ mục tiêu tăng trưởng hợp lý, n găn chặn suy giảm kinh tế. So với cuối năm 2007, vốn tín
dụng đầu tư cho khu vực dân doanh tăng 37%, khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12%,
lĩnh vực xuất khẩu tăng 37%, khu vực sản x uất tăng 34%, khu vực nôn g nghiệp, nông thôn
tăng 30%, cho vay hộ nghèo đối tượng chính sách khác tăng 40%. Dư nợ xấu toàn hệ thống
chỉ chiếm 3,5% tổng dư nợ tín dụng.
Đến cuối năm 2008, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ngân hàng tăng 30% so với
cuối năm 2007, tỷ lệ an toàn vốn tăng từ 8,9% lên 9,7%. Các tổ chức tín dụng tiếp tục chú
trọng phát triển nhiều công nghệ, dịch vụ, tiện ích n gân hàng hiện đại; mạng lưới hoạt động
tiếp tục được củng cố và mở rộng hiệu quả, tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho doanh
nghiệp và người dân tiếp cận với dịch vụ ngân hàng; đặc biệt, trong năm 2008, đã có một
ngân hàng thương mại cổ phần mở chi nhánh hoạt độn g tại nước ngoài.
Tốc độ huy động vốn trong năm 2008 tăng 15,3%, đạt 561.500 tỷ đồn g (năm 2007 tốc
độ huy động vốn tăng 70,6%). Trong đó tiền gửi thanh toán của tổ chức kinh tế, cá nhân
không tăng v à liên tục giảm qua các tháng do các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa
và nhỏ cơ cấu lại sản xuất, khai thác tối đa vốn tự có để sản xuất kinh doanh. Còn tiền gửi tiết
kiệm của dân cư tăng cao 33,4% do lãi suất hấp dẫn. Tốc độ h uy động ngoại tệ cao hơn so với
tiền đồng.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
Trong khi đó, các tổ chức tín dụng cho vay tăng 20,6% so với năm 2007, đạt 490.000
tỷ đồn g. Các tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp v ừa và nhỏ v ay 205.000 tỷ đồn g, chiếm 42%
tổng dư nợ tín dụng. 85,23% hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ được giải quyết, số
hồ sơ còn lại không được giải quyết do khách hàng không đủ điều kiện cho vay, vi phạm
2007 sự tăng doanh thu kể trên là do thừa hưởng từ đà tăng trưởng của năm trước đó. Đây là
một trong những nguyên nhân vì sao các Ngân hàng thương mại phản ánh là rất khó tăng dư
nợ. Tuy nhiên, gặp nhiều khó khăn về vốn và chi phí đầu vào tăng cao nhưng phần lớn doanh
nghiệp, đặc biệt là nhóm có vốn đầu tư nước ngoài vẫn rất lạc quan về sự ổn định, tăng trưởng
của nền kinh tế các tháng cuối năm 2008.
2.3 Những mặt hạn chế:
- Bên cạnh những kết quả đạt được, trong bối cảnh tình hình kinh tế vĩ mô, tài chính
thế giới và trong nước liên t ục có nhữn g biến độn g phức tạp, khả năng phân tích, dự báo còn
hạn chế, nên quá trình thực thi các giải pháp điều hành tiền tệ của Ngân hàng Nhà n ước có
thời điểm còn thiếu nhịp nhàng, đồn g bộ.
- Thị trường tiền tệ, ngoại hối trong những tháng đầu năm còn có những biến động
gây khó khăn nhất định cho hoạt động của các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp.
+ Lãi suất tăng làm tăng chi phí vốn vay của doanh nghiệp và người kinh doanh, từ đó
làm tăng giá thành sản phẩm và dịch vụ, tác động tăng giá trên thị trường xã hội, đi ngược lại
mục tiêu kiềm chế lạm phát của việc NHNN thực h iện chính sách tiền tệ thắt chặt.
+ Lãi suất đầu vào của NHTM, tức lãi suất huy động vốn tăng cao, cộn g với chi phí
cao do tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng mạnh, chi phí bù lỗ cho việc mua tín phiếu NHNN, nhưng lãi
suất cho vay tăng chậm, khoảng cách chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất đầu vào thu
hẹp. Bên cạnh đó tốc độ tăng trưởng dư nợ chậm hơn tốc độ tăng huy động vốn. Cả hai nh ân
tố đó làm cho lợi nhuận của NHTM ngày càng thấp, làm ảnh hưởng đến năng lực tài chính và
khả năng cạnh tranh, uy tín của NHTM.
+ Việc vay vốn của doanh nghiệp, của khách hàng khó khăn h ơn. Một mặt tạo điều
kiện cho tiêu cực nảy sinh trong quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng, tức là
NHTM buộc phải lựa chọn dự án, lựa chọn khách hàng, việc cho vay vốn khắt khe hơn. Mặt
khác nhiều dự án bị từ chối vay vốn, hoặc doanh nghiệp không dám vay, khôn g dám triển khai
dự án, từ đó ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế mà Chính phủ đặt ra mục tiêu 9% trong
năm 2008, cao hơn mức 8,44% của năm 2007. Bởi vì hiện nay vốn đầu tư của nền kinh tế,
vốn hoạt động kinh doanh của doanh n ghiệp và hộ gia đình chủ yếu là vốn vay ngân hàng. Mà
hiệu quả của vốn đầu tư có độ trễ, ít nhất là 6 tháng. Tức là việc hạn chế đầu tư vốn tín dụng
dụng.
- Sử dụng đồng bộ các công cụ ch ính sách tiền tệ nhằm phát huy hiệu lực, hiệu quả
các công cụ tron g điều hành chính sách tiền tệ. Kết hợp chặt chẽ giữa điều hành chính sách
tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm nâng cao hiệu quả của
chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát và ngăn chặn suy giảm kinh tế.
- Phát triển vững chắc và nâng cao h iệu quả hoạt động của hệ thống các tổ chức tín
dụng, nhằm huy độn g tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và phân bổ có hiệu quả các
nguồn vốn đó cho đầu tư phát triển sản suất. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện chuyển
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho sản xuất, xuất khẩu, phát triển nông
nghiệp, nông thôn, mở rộng cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ; nâng cao năng lực hoạt
động và khả năng cạnh tranh của các tổ chức tín dụng trong nước.
- Tiếp tục đổi mới, nân g cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát ngân
hàng. Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về thanh tra, giám sát ngân hàng và các quy định về
đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng, đi đôi với việc củng cố bộ máy tổ chức, tăng cường
đào tạo đội ngũ cán bộ thanh tra ngân hàng.
- Phát triển mạnh công n ghệ ngân hàng và hoạt động thanh toán không dùn g tiền m ặt,
đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội về các hoạt động dịch v ụ n gân hàng.
- Tăng cường hợp tác quốc tế, nâng vai trò, vị thế của Việt Nam trong cộng đồng tài
chính, tiền tệ quốc tế.
- Đẩy mạnh công tác thông tin, t uyên truyền về hoạt động ngân hàng, nhằm tạo sự
đồng thuận của xã hội đối với hoạt động tiền tệ, ngân hàng, đồng thời, tạo thêm kênh giám sát
của xã hội đối với hoạt động của hệ thống n gân hàng
3.2 Biện pháp thúc đẩy cho vay kích cầu
- Điều chỉnh tỷ giá một cách hợp lý theo tín hiệu của thị trường, không tạo ra những
biến động về đồng tiền, tạo điều kiện cho DN ổn định sản xuất kinh doanh.
- Điều chỉnh hạ lãi suất để giảm chi phí, sẽ tạo điều kiện để giữ ổn định các ngân
hàng.
- Có chính sách hỗ trợ lãi vay cho các doanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư cơ sở
Thực hiện lãi suất thực dương. Xây dựng biểu lãi suất hợp lý: thời hạn vay càng dài
thì lãi suất càng cao, đồng thời cơ cấu lại biểu lãi suất chỉ còn giữ lại các kỳ hạn: không kỳ
hạn, 1, 3, 6, 9, 12 và trên 12 tháng, phân bổ mức lãi hợp lý để tạo nên “ đường cong lãi suất”.
Tình hình hiện nay, các ngân hàng nên chú trọng cho vay đối với các kho ản vay có
thời hạn ngắn hơn. Điều này sẽ được thay đổi khi tình hình kinh tế có những chuyển biến tích
cực hơn.
Trong thời gian tới, có thể hạ lãi suất cơ bản xuống tron g khoảng 8-8,5% /năm. Với
mức lãi suất này thì vừa với sức chịu đựng của các doanh nghiệp đồng thời thu hút được
nguồn vốn trong nhân dân, đảm bảo tính thanh khoản cho ngân hàng.