BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Tiểu luận
GV hướng dẫn : TS. Lại Tiến Dĩnh
HV thực hiện : Trần Văn Thanh
Lớp : Cao học Ngân hàng – Ngày 1
Khóa : K17
Xuất phát từ những lý do trên, bản thân đã chọn đề tài “Cho vay kích cầu đối với
các doanh nghiệp của các Ngân hàng thương mại Việt Nam thời gian qua” để làm nội
dung nghiên cứu cho tiểu luận cá nhân của mình.
Cấu trúc bài viết: ngoài phần mở đầu và phần kết luận bài viết gồm 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận: Phần này nêu và phân tích một số khái niệm cơ bản về hệ thống
Ngân hàng thương mại Việt Nam, tín dụng, quy trình tín dụng;
Phần 2: Thực trạng hoạt động cho vay kích cầu của các Ngân hàng thương mại đối với
doanh nghiệp năm 2008: Phần này tập trung đánh giá hoạt động tín dụng ngân hàng, những kết
quả đạt được và tồn tại, hạn chế, phân tích nguyên nhân trong quá trình cho vay kích cầu của
các Ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp trong năm 2008.
Phần 3: Những kiến nghị, giải pháp để nhằm nâng cao hiệu quả cho vay kích cầu: Phần
này đưa ra các kiến nghị, định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay kích cầu
trong năm 2009.
PHẦN I:
Cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của các NHTM giai đoạn hiện nay Trang 3
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm
Theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2004: “Tổ chức tín dụng là
doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp
luật để hoạt động ngân hàng”.
Luật này cũng định nghĩa:
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các
loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư,
ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.
Luật N gân hàng Nhà nước định nghĩa: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh
tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền
này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho
- Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng
dẫn của N gân hàng Nhà nước Việt Nam.
1.4. Mục đích vay vốn
Theo quy chế cho vay khách hàng cũng như trong phần trình bày về các điều kiện vay
vốn, các NHTM khi cho vay yêu cầu khách hàng phải có mục đích vay vốn hợp pháp và
cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận.
1.5. Hồ sơ vay vốn
Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho Tổ chức tín dụng một bộ hồ sơ vay vốn bao
gồm giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn. Thông
thường bộ hồ sơ vay vốn gồm:
- Giấy đề nghị vay vốn.
- Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, chằng hạn như giấy phép
thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt động.
- Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, hoặc dự án đầu tư.
- Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất.
- Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay.
- Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết.
Sau khi nhận hồ sơ vay, ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định và ra quyết định cho vay.
1.6. Thẩm định và quyết định cho vay
Để có căn cứ ra quy ết định cho vay hay không cho vay, các TCTD đều có xây dựng quy
trình xét duy ệt cho vay theo nguy ên tắc đảm bảo tính độc lập và phân định rõ ràng trách
nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay. Khi thẩm định,
TCTD sẽ xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu tư, phương án sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống và khả năng hoàn trả
nợ vay của khách hàng để quyết định cho vay. TCTD quy định cụ thể và niêm yết công
khai thời hạn tối đa phải thông báo quy ết định cho vay hoặc không cho vay đối với khách
hàng. Trường hợp quyết định không cho vay, TCTD phải thông báo cho khách hàng bằng
văn bản, trong đó nêu rõ căn cứ từ chối cho vay. Trường hợp quyết định cho vay, TCTD và
khách hàng sẽ ký kết hợp đồng tín dụng và thực hiện các khâu tiếp theo của quy trình tín
dụng.
đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám
đốc) sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.
1.9. Những trường hợp không cho vay
Ngoài những hạn chế và giới hạn tín dụng trên, ngân hàng còn không được cho vay trong
những trường hợp sau:
- Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng
giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng;
- Người thẩm định, xét duyệt cho vay;
- Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám
đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc).
Cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của các NHTM giai đoạn hiện nay Trang 6
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
1.10. Các phương thức cho vay
Phương thức cho vay là cách thức thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng của ngân
hàng.Hiện nay trong cho vay đối với doanh nghiệp, các NHTM có thể thỏa thuận với khách
hàng về sử dụng loại phương thức cho vay. Tùy theo đặc điểm chu chuyển vốn của khách
hàng, ngân hàng và khách hàng có thể thỏa thuận lựa chọn phương thức cho vay của mình
cho khách hàng tham khảo. Thực tiễn cho thấy, ngoài các phương thức cho vay phổ biến
như cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng và cho vay theo dự án đầu tư, còn có
nhiều phương thức cho vay khác dành cho những hoàn cảnh vay vốn khác nhau trong thực
hiện ở các ngân hàng khác nhau, như: Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay
thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp,
cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay ủy thác
Mọi việc bắt đầu vào cuối năm 2006 khi thị trường bất động sản Mỹ bắt đầu đóng băng và
sụt giảm giá trị rất lớn, dẫn đến cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở tại Mỹ, nợ xấu, nợ khó
đòi tăng nhanh và vỡ nợ. Đây được cho là nguy ên nhân chính dẫn đến khủng hoảng tài
chính tại Mỹ và lan rộng khắp nơi.
Điều lưu ý là cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại không đơn thuần chỉ là khủng
hoảng tín dụng nhà đất mà nguyên do sâu xa hơn được tích lũy thời gian dài: do bùng nổ tín
dụng, sự bùng nổ nợ tiêu dùng, nhận thức xu hướng phát triển tồn tại mãi, sự tôn sùng về
thị trường tự do không kiểm soát, sự sùng bái thị trường tài chính, kinh tế thị trường
Tác động của khủng hoảng tài chính M ỹ và thế giới đến nền kinh tế Việt Nam - PG S-
TS Trần Hoàng N gân - Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang ảnh hưởng đến tất cả các nền kinh tế thế
giới, được cho là nhen nhóm từ ngày 9/8/2007- khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) buộc
phải thi hành biện pháp khẩn cấp nhằm cứu các ngân hàng trước nguy cơ sụp đổ do gánh
nặng của các khoản cho vay thế chấp khó đòi. Khởi đầu từ Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính
đã lan nhanh sang châu Âu và các khu vực khác.
Người ta còn nhớ đúng 8h 25 phút sáng 9/8/2007, FED buộc phải bơm hàng chục tỷ
USD ra thị trường. Và 70 phút sau đó, chính xác là 9h 35 phút, họ lại phải bơm thêm tiền
vào hệ thống này. Ở bên kia bờ Đại Tây Dương, Ngân hàng Trung ương châu Âu cũng
hành động tương tự. Từ đó, chúng t a biết thêm một từ m ới thông dụng trong nền kinh tế:
"Cho vay thế chấp thứ cấp" - một phương thức cho vay tồi tệ ở M ỹ đã tạo nên những khoản
nợ rác, nợ độc hại, thậm chí là những khoản nợ "điên". Các nhà lãnh đạo N gân hàng Trung
ương đang tìm cách bác bỏ sự thật là những biện pháp cấp bách như những biện pháp thi
hành cách đây một năm, và vẫn phải liên tục áp dụng với mức độ ngày càng nhiều hơn kể
từ đó - chính là dấu hiệu cho thấy qui mô của tấn thảm kịch. Thời gian trôi qua chỉ càng
khẳng định thêm những mối lo ngại đó.
Những cơn chấn động trong năm qua đã làm hơn 100.000 nhân viên ngành tài chính
mất công ăn việc làm, để lại xác một vài ngân hàng được nhà nước ra tay cứu vớt. Cuộc
khủng hoảng đã khoét sâu vào uy tín của các Ngân hàng Trung ương, nhất là các thiết chế
Cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của các NHTM giai đoạn hiện nay Trang 8
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
- Xuất khẩu sẽ gặp khó khăn lớn và giảm cả số lượng và giá cả… do tổng cầu thế giới
giảm và cạnh tranh trên các thị trường sẽ khó khăn, giảm thu ngoại tệ cho quốc gia, giảm
sản xuất trong nước, giảm GDP, thất nghiệp tăng,…Tuy nhiên nếu có chính sách đúng thì
vẫn có điều kiện tăng xuất khẩu và nhảy vào thị trường mới, khi các doanh nghiệp các nước
đang gặp khó khăn và phá sản
- Du lịch quốc tế vào VN giảm, kéo t heo dịch vụ giảm giảm nguồn thu ngoại tệ cho cán
cân vãng lai
Cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của các NHTM giai đoạn hiện nay Trang 9
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
- Đầu tư nước ngoài FDI, FII, ODA giảm, giải ngân chậm…giảm nguồn thu ngoại tệ, thị
trường BĐS tiếp tục khó khăn, nợ quá hạn của NH sẽ tăng
- Kiều hối giảm mạnh, đặc biệt là kiều hối “đầu tư”.
- Ảnh hưởng nhất định đến cán cân thanh toán vãng lai, cán cân vốn, và cán cân tổng thể
- Lãi suất vay USD tăng, chi phí trả nợ nước ngoài tăng
- Hệ thống NHTM gặp khó khăn trong thanh toán quốc tế và chi phí chuyển tiền tăng do
phải tránh bão.
- Thị trường chứng khoán tiếp tục diễn biến phức tạp, do vốn nước ngoài rút.
- Vấn đề việc làm, an sinh xã hội là bài toán khó…
(Trần Hoàng Ngân, 2008)
2.2. Thực trạng về hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam đối với doanh nghiệp
năm 2008
2.2.1. Đánh giá chung về hoạt động ngân hàng trong năm 2008
Năm 2008, thị trường ngân hàng trong nước đã trải qua những biến động chưa từng có
về lãi suất, tỷ giá. Đ ây cũng là một năm đáng nhớ trong hoạt động của các ngân hàng, khi
phải trải qua những khó khăn không nhỏ.
a/ NHNN liên tục thay đổi các công cụ điều hành
Chính sách tiền tệ từ định hướng thắt chặt và linh hoạt nửa đầu năm 2008 chuyển dần
sang nới lỏng một cách thận trọng những t háng cuối năm. Đi cùng với quá trình này là t ần
suất điều chỉnh các công cụ điều hành chưa từng có của NHNN, tập trung ở các lãi suất chủ
chốt, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và biên độ tỷ giá.
trước tới nay. Cuộc chạy đua bùng phát trong tháng 5/08 và tạo những đỉnh điểm nóng sốt
trong tháng 6/08. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất ghi nhận kỷ lục “treo” tới
43%/năm; nhiều thành viên đồng loạt đẩy mức huy động trong dân cư lên tới trên
19%/năm, cá biệt có trường hợp áp tới 20%/năm.
Đó cũng là thời điểm mà hoạt động cho vay của nhiều NHTM cầm chừng, doanh
nghiệp vay vốn khó khăn cả về lãi suất cao lẫn khả năng tiếp cận vốn, tín dụng t iêu dùng
gần như bị cắt bỏ, tốc độ tăng trưởng tín dụng bước vào vùng thấp nhất trong năm (liên tục
tăng dưới 1% /tháng; cả năm ước chỉ tăng khoảng 21% thay vì mức dự kiến khống chế
30%).
Ngược lại, từ cuối tháng 7/08, cùng với cơ chế cho vay mới, sự hỗ trợ của NHNN với
nguồn vốn khả dụng của hệ thống tăng mạnh lên, lãi suất trên thị trường bắt đầu có đợt
thoái trào. Đặc biệt từ tháng 9 đến cuối năm 2008, gắn với những điều chỉnh các lãi suất
chủ chốt của NHNN, cả lãi suất huy động và cho vay dồn dập giảm; ít nhất có 8 đợt điều
chỉnh trên diện rộng. Từ đỉnh điểm trên 19%/năm, lãi suất huy động VND rút về quanh
mốc 8%/năm; lãi suất cho vay tối đa từ 21%/năm về còn 12,75%/năm.
d/ Nợ xấu ngân hàng có xu hướng gia tăng
Khó khăn của nền kinh tế, trong hoạt động của mỗi ngân hàng đang dần thể hiện ở xu
hướng gia tăng của nợ xấu. Nếu trong năm 2007, đa số thành viên khối quốc doanh chỉ trên
dưới 3%, khối cổ phần phổ biến dưới 2%, thì năm nay dự kiến sẽ có nhiều trường hợp có
nợ xấu trên 5%.
Cuối năm 2008, một số ngân hàng lớn đã chính thức công bố tỷ lệ nợ xấu thực tế hoặc
mục tiêu kiểm soát từ 5% đến hơn 6%. Tuy nhiên, nhiều thành viên chưa có động lực để
công bố và cập nhật số liệu liên quan. Dự kiến từ đầu năm 2009, bức tranh về nợ xấu của hệ
thống ngân hàng sẽ rõ ràng hơn.
Cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của các NHTM giai đoạn hiện nay Trang 11
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
Liên quan đến vấn đề nợ xấu, sự suy giảm mạnh của thị trường bất động sản và chứng
khoán là những lo ngại nổi bật trong năm 2008, ảnh hưởng đến chất lượng và quan hệ t ín
dụng của các ngân hàng thương mại. Riêng làn sóng giải chấp chứng khoán cầm cố cũng là
một điểm nổi bật trong năm khó khăn này. Hiện các NHTM vẫn phải đau đầu với bài toán
Thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với các khoản vay không trả nợ đúng hạn
của hộ nông dân bị thiệt hại do thiên tai, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá và đối với các khoản vay không trả nợ đúng hạn do tác động của cuộc
Cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của các NHTM giai đoạn hiện nay Trang 12
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
khủng hoảng tài chính thế giới làm cho sản xuất, kinh doanh gặp khó khăn, chậm tiêu thụ
và xuất khẩu sản phẩm; tiếp tục xem xét cho vay mới đối với các nhu cầu vốn vay có hiệu
quả và đảm bảo khả năng trả nợ; thực hiện việc nhận bảo lãnh, cho vay vốn đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa.
Miễn, giảm lãi vốn vay theo quy định tại quy chế cho vay của TCTD đối với khách
hàng. Điều chỉnh áp dụng lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng xuống theo mức lãi
suất cho vay hiện hành; không phạt do quá hạn trả nợ vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
gặp khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá do tác động của
khủng hoảng tài chính thế giới.
Đẩy mạnh việc mở rộng tín dụng đối với khu vực nông nghiệp và nông thôn; các
NHTM khác dành tỷ lệ vốn thích hợp để mở rộng tín dụng đối với khu vực nông nghiệp,
nông thôn. Xây dựng phương án huy động vốn để đảm bảo có thêm vốn cho vay hộ nghèo,
học sinh, sinh viên và các đối tượng chính sách khác.
Nguồn: Vneconomy
Theo Tổng cục T hống kê, mặc dù tốc độ tăng GDP năm 2008 chỉ là 6,23%, thấp hơn
2,25% so với năm 2007 và thấp hơn 0,77% so với kế hoạch điều chỉnh nhưng trong bối
cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, tốc độ tăng như vậy cũng là một thành tựu lớn, tạo
điều kiện thuận lợi để giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.
2.2.2. Những kết quả chủ yếu đạt được
a/ Điều hành chính sách tiền tệ có hiệu quả
- Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, chính sách tiền tệ thông qua điều hành lãi suất tiền
gửi và lãi suất dự trữ bắt buộc kịp thời, đúng quy luật của kinh t ế thị trường đã giúp ngân
hàng vượt qua được thời kỳ sóng gió. Đến bây giờ cơ bản các ngân hàng hoạt động ổn định,
lãi suất huy động và lãi suất cho vay của hệ thống NHTM cổ phần đã dần trở lại gần như
cuối năm 2007. Nền t ài chính quốc gia đứng vững, bảo đảm cho sự ổn định về kinh tế,
trong quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội và Hồ Chí
Minh.
c/ Một số chỉ tiêu tiền tệ, tín dụng đạt được năm 2008
- Tổng phương tiện thanh toán ước tăng 16-17% và dư nợ tín dụng ước tăng 21-22%
so với cuối năm 2007. Tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 5,4% và tỷ giá giao dịch của
các ngân hàng thương mại tăng 8-9% so với cuối năm 2007.
- Lãi suất cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng giảm nhanh trong những tháng cuối
năm từ mức 23-24%/năm xuống dưới 12,75%/năm, trong đó mức lãi suất cho vay thấp nhất
là 8,5%/năm.
- Vốn tín dụng đầu tư vào khu vực dân doanh tăng 35-37%, khu vực doanh nghiệp
nhà nư ớc tăng 12-14%, lĩnh vực xuất khẩu tăng 35-37%, khu vực sản xuất tăng 34-36%,
khu vực nông nghiệp và nông thôn tăng 30%; cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách
khác tăng 40-42%.
- Tổng dư nợ tín dụng ước đạt 490 ngàn tỉ đồng, tăng 20,6% so cùng kỳ (năm 2007
tăng 76,9%). Trong đó, dư nợ của khối ngân hàng cổ phần chiếm 47,1% tổng dư nợ và tăng
11,8% so cùng kỳ. Dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ đạt 142 ngàn tỉ đồng, chiếm 29% tổng dư
nợ, tăng 24,5% so cùng kỳ. Dư nợ tín dụng bằng VND tăng 19,2% so cùng kỳ.
- Dư nợ cho vay bằng ngoại tệ tăng nhanh và cao hơn tiền đồng chủ yếu do nhu cầu
vay vốn ngoại tệ gắn liền nhu cầu nhập khẩu hàng hóa. Trong năm, lãi suất cho vay ngoại tệ
luôn thấp hơn tiền đồng. So cùng kỳ, dư nợ tín dụng trung dài hạn chiếm 41% tổng dư nợ,
tăng 20%; dư nợ tín dụng ngắn hạn tăng 21%.
Cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của các NHTM giai đoạn hiện nay Trang 14
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
Kết quả hoạt động ngân hàng năm 2008 đã góp phần quan trọng trong việc kiềm chế
thành công lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, duy trì tăng trưởng hợp
lý và ngăn ngừa tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với kinh tế
Việt Nam nói chung và hoạt động tiền tệ, ngân hàng nói riêng. Ghi nhận đóng góp của
ngành Ngân hàng, vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã tặng Bằng khen cho 10 tập thể trong
Ngành, trong đó có Hiệp hội ngân hàng và sáu NHTM.
d/ Thực hiện kích cầu nền kinh tế
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
đoán, dự báo mang tính chiến lược để thực thi những quyết định đúng, giảm thiểu những
ảnh hưởng không t ốt đến nền kinh tế.
Trong điều hành chính sách tiền tệ, một số biện pháp thắt chặt không áp dụng, hoặc có
liều lượng hơn đối với ngân hàng hoạt động ở vùng nông thôn cũng không ngoài mục đích
tăng cường vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho sản xuất nông nghiệp và kinh tế hộ nông
dân. Tuy nhiên một số biện pháp khác thì lại đang thắt chặt lại tín dụng cho nông nghiệp -
nông thôn đi ngược lại xu hướng các nước trong khu vực và chưa phù hợp với định hướng
nói trên của NHNN cũng như của Thủ tướng Chính phủ.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại; kết quả kiềm chế lạm phát và ổn định
kinh tế vì mô chưa vững chắc; một số vấn đề xã hội bức xúc như: thiếu đói, dịch bệnh, vệ
sinh an toàn thực phẩm, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường chậm được khắc phục.
b/ Vốn nhiều, giải ngân thấp
Nguồn vốn khả dụng của các NHTM thời điểm trước khi các quyết định mới đây của
NHNN ban hành vẫn được khẳng định đang tiếp tục dư cung. Chỉ tính đến cuối tháng
10.2008, vốn khả dụng của hệ thống các NHTM thừa khoảng 90.000 tỷ đồng. Song cho đến
hết tháng 9/08, dự nợ tín dụng tiêu dùng toàn hệ thống chỉ đạt khoảng 79.700 tỷ đồng và
chiếm khoảng 6,54% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế. Dư nợ cho vay tiêu dùng trên
đầu người tại Việt Nam hiện chỉ đạt khoảng 921.000 đồng/người.
Dù Ngân hàng dư thừa vốn khả dụng và ngay cả khi chính sách cho vay tiêu dùng
mềm dẻo hơn, việc khách hàng có nhu cầu tiếp cận được nguồn vốn vẫn không phải dễ.
Chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro với phần nhiều các hợp đồng cho vay dựa trên quan hệ t ín
chấp và đặc biệt khi các ngân hàng t hiếu một hệ thống thông tin khách hàng, quan hệ t ín
dụng hoàn thiện vẫn là những nguyên nhân khiến các NHTM dè dặt khi cho vay tiêu dùng.
c/ Quan hệ tín dụng với doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế
Trên thực tế, quan hệ tín dụng ngân hàng với các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều
hạn chế. Một điều tra gần đây của Tổng cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, cho thấy, chỉ có trên 32% số doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tiếp cận được với
nguồn vốn ngân hàng (chủ yếu là NHTM), trong khi có hơn 35% số doanh nghiệp khó tiếp
cận và trên 32% số doanh nghiệp không có khả năng tiếp cận vốn ngân hàng. Tỷ lệ hồ sơ
phải là dự án.
Tuy nhiên, một điều Chính phủ cũng nên xem xét vì kích thích trong bối cảnh lạm
phát cơ bản vẫn còn cao khiến cho hiệu quả của gói kích cầu ở Việt Nam có thể khác với
các nước và rủi ro cao.
2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
- Nguyên nhân chính yếu nhất đó là hệ quả của cuộc khủng hoảng toàn cầu. Việt Nam
cũng đang gặp khủng hoảng kép. Chồng lên khủng hoảng riêng của chúng ta là tác động
ghê gớm của khủng hoảng tài chính bùng phát vào giữa tháng 9-2008 ở M ỹ, lan rất nhanh
và biến thành khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Khủng hoảng toàn cầu làm cho giá của nhiều
mặt hàng giảm đáng kể (do cầu giảm trên toàn thế giới): giá dầu từ 147 đô la Mỹ/thùng
xuống dưới 40 đô la M ỹ/thùng, giá sắt thép, phân bón, vật liệu xây dựng, lương thực, vận
tải cũng giảm mạnh. Cũng nhờ sự giảm giá đó mà lạm phát ở nước ta đã dịu bớt (chứ
không hoàn toàn do thành tích của các giải pháp đầu năm 2008).
- Khả năng dự đoán, dự báo tình hình kinh tế thị trường của Việt Nam còn kém, thiếu
tính khoa học, năng lực điều hành còn hạn chế nên các chính sách tiền tệ luôn bị động, chạy
theo những biến động của thị trường, dùng những liều thuốc quá mạnh dẫn đến việc thắt
Cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của các NHTM giai đoạn hiện nay Trang 17
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
quá chặt và mở quá nhanh, các công cụ điều tiết luôn thay đổi, lãi suất luôn biến động, làm
cho nền kinh tế thật sự nóng.
- Nhìn ra thế giới, các nền kinh tế hiện đang đang tung ra những gói kích cầu để cứu
nền kinh tế, ta cũng làm, nhưng khi thực hiện thì lại loay hoay tìm nguồn, tìm giải pháp nên
mất tính cấp thời. Điều này cho thấy năng lực điều hành nền kinh tế của ta còn hạn chế,
chưa theo kịp tốc độ phát triển của nền kinh tế thế giới.
THỐNG NHTM VIỆT NAM TRONG NĂM 2009
1. Đào tạo năng lực đội ngũ phân tích, dự báo thị trường
Cần có kế hoạch dài hơi cho việc đào tạo đội ngũ các nhà làm công tác phân tích, dự
báo thị trường mang tính chuyên nghiệp, hiện đại để thực hiện các cuộc khảo sát, phân
tích, dự báo nhằm đưa ra những con số có tính thời sự, khoa học giúp các nhà lãnh đạo ra
quyết định.
Bên cạnh đó, các chính sách nên tham khảo ý kiến các chuyên gia đầu ngành trong
lĩnh vực tài chính - ngân hàng để có những quyết sách phù hợp với thị trường, với nền kinh
tế trong từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn. Chính phủ cũng nên tham khảo ý kiến các
chuyên gia, hiệp hội doanh nghiệp, tạo cơ hội tiếp cận nguồn vốn, tiếp cận chính sách của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân.
2. Xây dựng một thể chế chính sách tiền tệ thích hợp
Nhiệm vụ đầu tiên ngân hàng cần làm là tham mưu một thể chế chính sách tiền tệ
thích hợp hiệu quả đáp ứng nhu cầu ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế, kích
cầu đầu tư tiêu dùng. Khi có chính sách, có định hướng rõ ràng ngành ngân hàng cần huy
động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống bao gồm NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, ngân
hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
3. Tiếp tục thực hiện điều hành lãi suất, tỷ giá linh hoạt
Tiếp tục thực hiện chính sách điều hành lãi suất, tỷ giá cho linh hoạt phù hợp vừa đảm
bảo mục tiêu kích cầu tiêu dùng vừa đảm bảo an toàn hệ thống, duy trì được vốn cho nền
kinh tế. Thời gian tới, để hỗ trợ vốn kịp thời cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, Chính phủ
sẽ đưa ra gói giải pháp kích cầu bằng cách hỗ trợ khoảng 4% lãi suất với tổng trị giá 17.000
tỷ đồng.
Để cứu được các doanh nghiệp, ngành ngân hàng nên có chính sách giảm lãi cho
doanh nghiệp. Điều này tuy làm ngân hàng giảm lãi song sẽ cứu được doanh nghiệp và đảm
bảo được chính sự "khỏe mạnh" về năng lực tài chính của ngân hàng. Tiêu chí chung của
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh phải có lợi nhuận nhưng truyền thống của người Việt
Nam chỉ ra rằng cả ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế cần phải có sự đùm bọc, chung
sức, hỗ trợ, chia sẻ để cùng vượt qua khó khăn.
điểm trú đông", thì hiệu quả không cao.
Người dân đã đợi khá lâu quyết định cuối cùng về gói kích cầu. Nếu để doanh nghiệp
sắp phá sản mới cứu sẽ rất khó. Giải pháp không đặc biệt cũng không thể đáp ứng. Phải
nhanh chóng dọn đường các thủ tục thì việc giải ngân gói kích cầu mới nhanh được. Bên
cạnh đó, thị trường chứng khoán cũng không thể để đóng băng mãi được, doanh nghiệp
không thể huy động vốn thì ý nghĩa sự ra đời thị trường là không có. Nên tính toán mở
thêm nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư chiến lược cần được mua giá ưu đãi hơn. Chúng ta
cần biện pháp quyết liệt, tốc độ phải nhanh, không thể như mọi khi được nữa.
Chính phủ nên đi vay thêm để kích cầu. 1 tỷ USD để kích cầu là quá ít. N ếu là 6 tỷ
USD cũng không nhiều so với yêu cầu hiện nay. Doanh nghiệp hiện có hàng không bán
được, nhà đầu tư có tiền không biết đầu tư vào đâu nên biện pháp quan trọng nhất là Nhà
nước phải đầu tư vào nơi vừa hút được vốn dư thừa, vừa dùng được hàng tồn đọng, tạo ra
việc làm. Điểm trọng yếu ấy, có thể là trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, may mặc, dày da, cơ
Cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của các NHTM giai đoạn hiện nay Trang 20
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
sở hạ tầng, đường, điện, y tế Thị trường bất động sản liên quan đến khoảng 60% thế chấp
ngân hàng, quan hệ trực tiếp với 50 ngành kinh tế cũng không thể để nó đóng băng được.
Đó là nơi cần tập trung, không nên bù lãi cho tất cả các nơi.
* Chỉ kích cầu thôi chưa đủ:
- Chống suy thoái khó hơn chống lạm phát nhiều. Việt Nam đang có nguy cơ vừa đình
trệ vừa lạm phát. Trong biện pháp chống lạm phát những tháng đầu năm đã chất chứa khả
năng gây đình đốn. Giờ đã đình đốn thật. Nay chống suy thoái thì trong các giải pháp tung
tiền ra có yếu tố gây lạm phát. Do đó, ngoài việc đem tiền ra kích cầu, Chính phủ cần tính
giảm thêm dự trữ bắt buộc. Tỷ giá là vấn đề không nên tránh né nữa. Với lạm phát, VND đã
giảm giá khoảng 20% trong khi chúng ta mới cho nới biên độ khoảng 3%, theo tôi nên điều
chỉnh mạnh hơn, 5% chẳng hạn.
- Kích cầu phải đi đôi với cải cách hành chính, thủ tục đầu tư thì mới hiệu quả.
- Mục tiêu cần phải đạt được không phải chỉ là kích cầu, mà còn phải song song tiến
hành cải cách như: công khai minh bạch thông tin đầu tư, cải cách hành chính, mở rộng
không gian hoạt động cho doanh nghiệp tư nhân hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh,
bắt đầu sa thải công nhân Do vậy, Chính phủ cần có ngay những giải pháp cấp bách để
kích thích hoạt động sản xuất, kinh doanh. Về gói kích cầu, trong bối cảnh doanh nghiệp
làm ăn sa sút, lương thưởng sẽ giảm, biện pháp tốt nhất là tặng trực tiếp tiền cho người lao
động (như Thái Lan và Trung Quốc đang làm).
Cách làm là căn cứ vào danh sách đăng ký lao động tại các địa phương, Nhà nước rót
tiền xuống các quỹ bảo hiểm xã hội, doanh nghiệp sẽ đến nhận tiền về phát cho người lao
động. Ít hay nhiều tùy vào ngân sách, nhưng mức hỗ trợ, có thể, là không nên phân biệt vị
trí công tác. Có tiền, dù nhiều hay ít, người lao động cũng sẽ rất phấn khởi dùng để mua
sắm cho gia đình vào dịp tết sắp đến và điều này sẽ kích thích ngược lại hoạt động sản xuất
kinh doanh. Người lao động lâu nay đóng góp rất lớn cho sự tăng trưởng của đất nước thì
nay họ gặp khó khăn, Nhà nước nên có trách nhiệm với họ.
Về địa bàn, cần tập trung vào hai đầu tàu kinh tế là Đông Nam Bộ và Đông Bắc Bộ.
Hai khu vực kinh tế trọng điểm này có sức lan tỏa rất lớn đến các vùng miền khác trong cả
nước.
Về phương pháp hỗ trợ, có thể bằng nhiều cách, ngoài miễn giảm thuế, còn có tín
dụng, trợ giúp lãi suất…
Đối với những doanh nghiệp khó khăn về vốn, Thủ tướng hãy giao cho chủ tịch
UBND tỉnh, thành phố được quyền quy ết định gia hạn thuế cho họ, nhưng không quá 12
tháng. Biện pháp này giống như cho nợ ngân sách có điều kiện và doanh nghiệp sẽ cam kết
trả nghiêm túc. Bên cạnh đó, thiết nghĩ nên hạ tiếp lãi suất cơ bản xuống, khoảng 3% là
được. Để bù cho chỗ thiếu hụt do giảm lãi suất của các NHTM , NHNN sẽ trả một khoản
tiền cho các khoản dự trữ bắt buộc giống như trả lãi suất.
Tuy nhiên, doanh nghiệp không nên thụ động trông chờ vào gói kích cầu của Chính
phủ. Để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2009, các cấp, các ngành sớm
chủ động thực hiện đồng bộ và có hiệu quả 5 nhóm giải pháp trọng tâm của Chính phủ
nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội. Bên cạnh
đó, chương trình cải cách hành chính cần tiếp tục đẩy m ạnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh. Để đẩy mạnh phát trển
quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của các NHTM giai đoạn hiện nay Trang 22
Cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của các NHTM giai đoạn hiện nay Trang 23
GVHD: Lại Tiến Dĩnh HVTH: Trần Văn Thanh
KẾT LUẬN
Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tín dụng ở Mỹ và toàn cầu, nền kinh
tế Việt Nam phải thực hiện hàng loạt chính sách vĩ mô nhằm kiềm hạn lạm phát. Tuy nhiên,
vấn đề nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt hiện nay là tình hình suy giảm nền kinh tế.
Để nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, vấn đề kích cầu đầu tư và tiêu dùng được xem
là nhóm giải pháp thu hút sự chú ý của toàn xã hội, đặc biệt là của giới doanh nghiệp. Sẽ
kích cầu như thế nào để tạo ra tăng trưởng trong khi chúng ta phải đối mặt với rất nhiều
nguy cơ từ chính sự kích cầu đó nếu không có những phương án phòng xa. Việc thực hiện
gói kích cầu có hiệu quả sẽ mang lại cho nền kinh tế động lực mới để thăng hoa và phát
triển.
Trong khuôn khổ hạn hẹp của đề tài em đã trình bày một số lý luận cơ bản về tín
dụng, thực trạng hoạt động tín dụng, hoạt động cho vay kích cầu và một số mặt tích cực và
hạn chế trong việc triển khai gói kích cầu, trong việc thực hiện cho vay kích cầu của
NHTM Việt Nam đối với các doanh nghiệp, từ đó phân tích nguyên nhân để đưa ra một số
đề xuất về giải pháp nhằm khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả triển khai gói kích cầu
trong thời gian tới (2009).
Tuy nhiên do thời gian quá ngắn, khả năng bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi
những thiếu sót, rất mong nhận được sự hướng dẫn, nhắc nhỡ và đóng góp của các bạn học
viên và Tiến sỹ Lại Tiến Dĩnh để đề tài được hoàn chỉnh hơn.
- Tạp chí thị trường t ài chính tiền tệ.
- Kết quả hoạt động ngân hàng năm 2008, định hướng nhiệm vụ năm 2009 của ngân hàng
nhà nước Việt Nam
- www.sbv.gov.vn
- www.vneconomy.vn
- www.tapchicongsan.org.vn
- www.thanhnien.com.vn
- www.tuoitre.com.vn
- www.chinhphu.vn