Tiểu luận
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LỜI MỞ ĐẦU
Mỗi khi xã hội phát triển, đến một trình độ nhất định , tự trong bản
thân nó cho ra đời những sản phẩm - những công cụ để phục vụ chính cho
sự phát triển đó. Từ khi có s ự phân công lao động xã hội, và sự xuất hiện
sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã tạo ra rất nhiều sản phẩm, mà một
trong những sản phẩm của nó chính là quan hệ tín dụng. Đến lượt nó, khi
ra đời sẽ thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển lên trình độ cao hơn. Do đó,
sự tồn tại của nó như một tất yếu khách quan.
Ngày nay, chúng ta biết rằng, khi kinh tế thị trường là sự phát triển của
nền kinh tế ở một trình độ cao. Trong đó, các chủ thể độc lập với nhau về tính
chất sản xuất kinh doanh, về quyền sở hữu, về sự tuần hoàn và luân chuyển
vốn. Như vậy trong nền kinh tế có những doanh nghiệp “thừa” vốn. Ví dụ như
các doanh nghiệp có tiền bán hàng nhưng không phải trả lương, thuế và các
khoản chi khác do đó tạm thời thừa tương đối. Trong khi đó có những doanh
nghiệp thiếu vốn những người thừa vốn sử dụng vốn này để thu lợi nhuận còn
doanh nghiệp thiếu vốn muốn sử dụng phải đi vay để duy trì hoặc tiến hành
sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận. Như vậy hai nhu cầu này đều giống nhau ở
chỗ để thu lợi nhuận và mang tính chất tạm thời. Nhưng chúng khác nhau về
chiều vận động và quyền sở hữu. Do đó trong nền kinh tế tất yếu tồn tại quan
hệ tiêu dùng và tín dụng. Vì vậy việc nâng cao chất lượng tín dụng có ý nghĩa
to lớn đến sự thành công của các ngân hàng thương mại trong chiến lược huy
hạn và khối lượng vốn mà mình mong muốn nếu không thông qua tín dụng
ngân hàng. Chỉ có ngân hàng là người đáp ứng đầy đủ, đồng thời ngân hàng
có thể tư vấn, có thể xem xét dự án đầu tư tránh g ây thiệt hại cho nền kinh tế.
Như vậy lợi nhuận mà ngân hàng thu được dựa trên sự đáp ứng đầy đủ hai
mặt đối với người đi vay và người cho vay. Hiện nay nghiệp vụ ngân hàng có
nhiều sự pha trộn giữa nghiệp vụ truyền thống và các công ty tài chính.
Nhưng tín dụng ngân hàng vẫn là hình thức tín dụng không thể thiếu trong
nền kinh tế.
Trong lịch sử phát triển của kinh tế hàng hoá, tín dụng ngân hàng đa trải
qua một quá trình phát triển từ đơn giản đến phức tạp về kĩ thuật và nghiệp
vụ, từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng lớn về không gian phù hợp với quá trình
phát triển của nền sản xuất hàng hoá ngày càng hoàn thiện.
Trong thời kì đầu của lịch sử sản xuất và lưu thông hàng hoá, có một số
người không trực tiếp sản xuất và lưu thông hàng hoá, mà đứng ra làm trung
gian nối liền giữa sản xuất và lưu thông hàng hoá qua đồng tiền. Chức năng
ban đầu của họ là “ nhận giữ hộ tiền của một số thương nhân, đồng thời tiến
hành thanh toán các khoản tiền trong giao dịch mua bán hàng hoá”. Đương
nhiên để làm việc đó họ phải thu về một lượng chi phí ( lợi tức ) nhất định từ
những đố i tác mà họ làm dịch vụ.
Nhờ hoạt động trung gian này tạo điều kiện cho sản xuất và lưu thông
hàng hoá phát triển thuận lơị. Đến lượt nó, sản xuất và lưu thông càng phát
triển thuận lợi, lại càng làm cho những người hoạt động trung gian cũng tích
luỹ ngày một nhiều tiền. Như vậy, những người này đã trở thành những người
“ buôn tiền ”. Càng về sau để có thể có lợi nhiều hơn, họ cùng tập hợp nhau
lại để có nhiều vốn thực hiện các hoạt đông trung gian nói trên. toàn bộ hoạt
động của nó mặc dù còn rất sơ khai về kĩ thuật nhưng dẫu sao đó cũng là
mầm mống cuả tín dụng ngân hàng sau này.
Trong lịch sử phát triển tín dụng, tín dụng thương mại xuất hiện sớm hơn
tín dụng ngân hàng nhưng lại tồn tại và phát triển song song với nhau. điều
cần nhấn mạnh ở đây là cả cả hai loại hình tín dụng này chỉ có thể phát triển
thương phiếu, sau khi đã khấu trừ khoản lãi phải thu, tức là khoản tiền chiết
khấu.
Sự phát triển các hình thức tín dụng, nhất là tín dung ngân hàng nhiều thập
kỉ qua cho đến nay trên thế giới đã có nhiều thay đổi và phát triển cả về chiều
rộng và chiều sâu. Dưới tác động như vu bão của cuộc cách mạng khoa học-
công nghệ; của sự toàn cầu hoá và khu vực hoá thông qua các tổ chức tiền tệ
quốc tế và khu vực đã được tín dụng ngân hàng phát triển ở trình độ cao, đặc
biệt là việc áp dụng đ iện toán sự phát triển chiến lược sản phẩm đa dạng (séc
du lịch, cartecredet, leasing, các loại tín phiếu, trái phiếu…) và các mặt hoạt
động marketing ngân hàng.
1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng
1.2.1. The o thời hạn tín dụng
Thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng
như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian tín dụng được phân
thành :
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và được
sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanh nghiệp
và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân. Với loại tín dụng này, ít có
rủi ro cho ngân hàng vì t rong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có
xảy ra th ì ngân hàng có thể dự tính được.
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ một năm đến năm
năm và chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới
kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu
hồi vốn nhanh. Loại tín dụng này có mức độ rủi ro không cao vì ngân hàng có
khả năng dự đoán được những biến động có thể xảy ra.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, được sử
dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới,
các công trình thuộc cơ sở hạ tầng( đường xá, bến cảng, sân bay ), cải tiến
và mở rộng sản xuất với quy mô lớn. Loại tín dụng này có mức độ rủi ro rất
lớn vì trong thời gian dài thì có những biến động xảy ra không lường trước
Hiện nay có nhiều hình thức cho vay khác nhau : thấu chi, vay trực tiếp
nhiều lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp, cho
vay gián tiếp
● Thấu chi
Là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người chi vượt trên số
dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng
thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Thấu chi dựa
trên cơ sở thu và chi cả khách hàng không phù hợp về thời gian và quy mô.
Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán ngân quỹ song không chính xác.
Do vậy, hình thức cho vay thấu chi này tạo điều kiện thuận lợi cho khách
hàng trong quá trình thanh toán.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần
lớn không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp và cá nhân. Hình thức
này thường chỉ sử dụng với các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều,
kỳ thu nhập ngắn
● Cho vay trực tiếp nhiều lần
Là hình thức cho của ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay
thường xuyên, không có điều kiện để cấp hạn mức thấu chi. Vốn của ngân
hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh
doanh.
Cho vay theo hạn mức
Ngân hàng thỏa thuận với khách hàng cấp cho khách hàng hạn mức tín
dụng. Hạn mức này là số dư tối đa tại thời điểm tính, được cấp trên cơ sở kế
hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn
thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh
doanh
Cho vay luân chuyển
Cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa. Doanh nghiệp khi mua hàng có
thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đố i với thị trường có nhiều món
vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Trong trường h ợp như vậy
thì cho vay qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay ( phân tích, giám
sát, thu nợ )
Cho vay qua trung gian nhằm giảm bớt chi phí cho ngân hàng nhưng
không ít trường hợp trung g ian đã lợi dụng vị thế của mình và nếu ngân hàng
không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của
các thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán
hàng kém chất lượng hoặc với giá đắt cho người vay vốn.
- Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ
khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra song ngân hàng đã cho
khách hàng sử dụng uy tín của mình
- Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo
lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng
khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết.
Bảo lãnh thường có 3 bên : Bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh, và
bên bảo lãnh. Bảo lãnh ngân hàng có nghĩa ngân hàng là bên bảo lãnh, khách
hàng của ngân hàng là người được bảo lãnh, còn người được bảo lãnh là bên
thứ 3
* Phân chia bảo lãnh theo mục tiêu làm 5 loại
● Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu
Là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư ( hay chủ thầu ) về việc trả tiền
phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy định trong hợp
đồng dự thầu
● Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thất hộ khách hàng nếu khách
hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết, gây tổn thất cho bên thứ
ba.
● Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước
Là cam kết của ngân hàng về việc sẽ hoàn trả tiền ứng trước cho bên mua
toán,…
- Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng
thuê theo thỏa thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả
cho ngân hàng cả gốc và lãi
Cho thuê của ngân hàng thường là hình thức tín dụng trung và dài hạn.
Ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng
thu gần đủ ( hoặc thu đủ ) giá trị của tài sản cho thuê cộng lãi ( thời hạn
khoảng 80% - 90% đời sống kinh tế của tài sản ). Hết hạn thuê, khách hàng có
thể mua lại tài sản đó
Cho thuê giống như một khoản cho vay thông thường chỗ ngân hàng phải
xuất tiền với kỳ vọng thu về cả gốc lẫn lãi sau một thời gian nhất định, khách
hàng phải trả gốc và lãi dưới hình thức tiền thuê hàng kì. Ngân hàng cũng
phải đối đầu với rủi ro khi khách hàng kinh doanh không có hiệu quả không
trả được tiền thuê đầy đủ và đúng hạn. Tuy nhiên, cho thuê có nhiều điểm
khác biệt so với cho vay như tài sản cho thuê vẫn thuộc quyền sở hữu của
ngân hàng ( vì vậy không ghi vào bảng cân đối của người cho vay, không làm
tăng cơ cấu nợ của người vay ), ngân hàng có quyền thu hồi nếu thấy người
thuê không thực hiện đúng hợp đồng, đồng thời ngân hàng cũng phải có trách
nhiệm cung cấp đúng loại tài sản cần cho khách hàng và phải đảm bảo về chất
lượng. Cho thuê không có tài sản đảm bảo, nhiều tài sản thuê mang tính đặc
chủng, khó bán, khi thu hồi chi phí tháo dỡ cao,…nên cho thuê rủi ro rất cao
đối với ngân hàng.
Ngân hàng có thể lập phòng cho thuê hoặc công ty cho thuê thực hiện và
quản lý hoạt động cho thuê.
1.2.3. The o đối tượng đầu tư
Căn cứ vào tiêu thức này, ng ười ta chia tín dụng ra làm hai loại:
- Cho vay để đáp ứng yêu cầu về tài sản lưu động: Là loại tín dụng được
sử dụng được sử dụng để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. Đây là loại
tín dụng được sử dụng để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. Đây là loại
tín dụng có mức độ rủi ro thấp vì vốn lưu động của doanh nghiệp là vốn luân
như : chứng khoán, thương phiếu, giấy chứng nhận nợ.
1.3. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
1.3.1. Chủ thể tham gia:
Một bên là ngân hàng, một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế như
các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, …
1.3.2. Đối tượng :
Chủ yếu là tiền tệ, có khi là tài sản.
1.3.3. Thời hạn :
Rất linh hoạt bao gồm ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
a. Công cụ :
Cũng rất linh hoạt, có thể là kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, các hợp đồng
tín dụng…
b Tính chất :
Là hình thức tín dụng mang tính chất gián tiếp, t rong đó ngân hàng là
trung gian tín dụng giữa những người tiết kiệm và những người cần vốn để
sản xuất kinh danh hoặc tiêu dùng.
c. Mục đích :
Nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng qua đó thu được lợi
nhuận.
1.4. Nguyên tắc tín dụng
Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại dựa trên một số nguyên
tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc
này được cụ thể hóa trong các quy định của ngân hàng nhà nước và các ngân
hàng thương mại
1.4.1. Nguyên tắc: Hoàn trả vốn và lãi đúng hạn
Khách hàng phải cam kết hoàn trẩ vốn (gốc) và lãi với thời gian xác định.
Các khoản tín dụng ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc tứ các khoản tiền gửi
của khách h àng và các khoản ngân hàng vay mượn. Ngân hàng phải có trách
nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi như đã cam kết. Do vậy, ngân hàng luôn yêu cầu
người nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết này. Đây là điều kiện để
- Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế, góp phần
phát triển kinh tế
Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở
hữu và vốn vay. Một trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn
tài trợ hiệu quả bởi vì nó thoả mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn. Hơn
nữa, để có thể vay vốn được từ ngân hàng thì các doanh nghiệp cần phải nâng
cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo được các nguyên tắc tín
dụng. Muốn vậy, trong các dự án kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải
chọ dự án có mức sinh lãi cao nhất. Để các dự án khả thi, doanh ngh iệp phải
tìm hiểu thị trường khai thác thông tin để định lượng hoạt động kinh doanh
của mình sao cho có hiệu quả. Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của dự án,
phương án.
Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâu
giám sát sử dụng vốn vay. Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc
doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những
thay đổi của thị trường, t ừ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Bên cạnh
đó, vai trò tư vấn của cán bộ tín dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước
được những khó khăn, vượt qua khó khăn để đứng vững, điều này cũng góp
phần nâng cao hiệu quả kinh tế.
Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình v ận động liên tục của nguồn
vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chế phân phối
vốn một cách có hiệu quả. Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian
và khối lượng giữa lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hoá cho quá
trình sản xuất kinh doanh trước đó. Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của doanh
nghiệp có lúc thừa, có lúc thiếu vốn. Nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời nhàn
rỗi cùng với các nguồn t iết kiệm từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách được
ngân hàng thương mại huy động và sử dụng để đầu tư cho các doanh nghiệp
đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập
của dân chúng, cũng như cho nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi chưa có
cầu sản xuất kinh doanh, phục vụ cho đời sống của khách hàng với lãi suất
hợp lý, hồ sơ thủ tục đơn giản theo đúng quy định của pháp luật. M ặt khác,
khách hàng sử dụng vốn vay có trách nhiệm thanh toán đẩy đủ vốn gốc và lãi
cho Ngân hàng đúng kỳ hạn theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Việc sử
dụng vố đó không những có hiệu quả, mang lai lợi nhuận cao cho khách hàng
mà còn mang lại lợi ích về kinh tế cho đất nước góp phần làm tăng tổng
doanh thu.
1.5.3. Đối với ngân hàng:
Phạm vi mức độ giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của
bản thân ngân hàng, vừa đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với
nguyên tắc hoàn trả đúng hạn thu được tiền vay, vừa đảm bảo an toàn trong
hoạt động của Ngân hàng nhằm thực hiện các mục tiêu về kinh tế xã hội góp
phần hỗ trợ thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển dựa trên nguyên tắc sử dụng
vốn.
1.6. Chức năng tín dụng ngân hàng
1.6.1. Tập trung và phân phối lại tài nguyên vốn theo nguyên tắc có hoàn trả
Các ngân hang thương mại thực hiện huy động vốn và cho vay trên
nguyên tắc có hoàn trả. Đối với tín dụng ngân hang, chức năng này bao gồm
hai loại nghiệp vụ được tách rời ra : Huy động vốn tạm thời nhàn rỗi và cho
vay đối với những nhu cầu đang thiếu vốn tạm thời. Đó là đặc điểm mà nhiều
loại tín dụng khác không có
1.6.2. Chức năng phản ánh và kiểm soát hoạt động kinh tế
Khả năng kiểm soát các hoạt động kinh tế của tín dụng ngân hang là rộng
lớn hơn so với các hình thức tín dụng khác. Bởi vì, bên cạnh quan hệ tín dụng
với các doanh nghiệp và cá nhân, ngân hang còn có quan hệ với tiền tệ, thanh
toán với khách hang. Các mỗi quan hệ này bổ sung cho nhau tạo điều kiện
cho ngân hang kiểm soát các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong quan hệ tín
dụng so với các doanh nghiệp khác. Tín dụng ngân hang cũng để nhà nước
kiểm soát các hoạt động kinh tế xã hội.
1.7 Rủi ro tín dụng
Lãi treo
phát sinh
Nợ quá hạn
phát sinh
1. Lãi treo
đóng băng
2. Miễn
giảm lãi
1. Nợ không
có khả năng
thu hồi
2. Xóa nợ
Không thu
đợc lãi
đúng hạn
Không thu
đợc vốn
đúng hạn
Không thu
đủ lãi
Không thu
đủ vốn
(Mất vốn)
Rủi ro tín dng
vậy, khi rủi ro ở mức nhỏ, ngân hàng có thể bù đắp bằng lợi nhuận kinh
doanh hoặc bị lỗ, nhưng rủi ro ở mức độ nghiêm trọng, nguồn vốn tự có của
ngân hàng không đủ để bù đắp thiệt hại, tất yếu sẽ dẫn ngân hàng đến bờ vục
của sự phá sản . Như vậy rủi ro có thể làm đảo lộn thành quả hoạt động nhiều
năm, thậm chí trở thành vấn đề sống còn của ngân hàng.
* i vi n n kinh t :
Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng với tư
cách là trung gian của đời sống kinh tế , nó có quan hệ trực tiếp và thường
xuyên với các tổ chức kinh tế , vì vậy kinh doanh ngân hàng gặp phải rủi ro
tất yếu sẽ gây ra những ảnh hưởng đối với nền kinh tế và đời sống kinh tế xã
hội .Rủi ro làm cho lợi nhuận ngân hàng giảm, từ đó ngân hàng không có khả
năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho khách hàng và chi trả chậm đối với người
cho vay. Vì vậy, xét trong nền kinh tế, rủi ro làm cho sản xuất bị đình trệ, các
doanh nghiệp phải đóng cửa, hàng hoá không đủ đáp ứng nhu cầu của thị
trường, tới một chừng mực nào đó làm giá cả hàng háo tăng vọt, đó chính là
một trong những nguyên nhân của lạm phát. Mặt khác, các ngân hàng thường
lập một hệ thống chặt chẽ có mối liên hệ với nhau, khi một ngân hàng gặp
phải rủi ro có nguy cơ dẫn đến phá sản dễ dàng kéo theo tình trạng khủng
hoảng của cả hệ thống ngân hàng, gây mất ổn định trên thị trường tiền tệ. Đặc
biệt trong điều kiện nền kinh tế phát triển, mọi hoạt động thanh toán giao dịch
của khách hàng đều được thực hiện qua ngân hàng, các doanh nghiệp sông
chủ yếu nhờ vốn ngân hàng, nên khi ngân hàng gặp rủi ro lớn có thể gây chậm
trễ trong công tác thanh toán của khách hàng, làm cản trở trực tiếp quá trình
chu chuỷen vốn , tất yếu làm giảm lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp .
* Đối với khách hàng :
Nếu rủi ro xảy ra từ phía ngân hàng, khách hàng có thể mất vốn dẫn đến
khó khăn trong sản xuất kinh doanh .
Mặt khác nếu rủi ro xảy ra đối với chính khách hàng, các khoản nợ của
họ sẽ trở thành các khoản nợ khó đòi, gây khó khăn và ảnh hưởng đến quan
hệ của họ đối với ngân hàng. Khi đó khách hàng cần vốn họ buộc phải quan
thành mối đe dọa tài chính đối với người vay, buộc họ phải tr ả thêm khoản “
phụ phí ” để được gia hạn nợ hoặc chịu lãi suất phạt.
Thứ hai, do đảo nợ hoặc giãn nợ. Nhiều khoản nợ người vay không
có khả n ăng hoàn trả có thể được đảo nợ làm giảm nợ quá hạn so với thực tế.
Để che dấu đối với ngân hàng cấp trên, hoặc để không phải chịu lãi phạt,
khách hàng và nhân viên ngân hàng thỏa thuận vay khoản mới để trả khoản
cũ. Nhân viên ngân hàng cũng có thể thực hiện giãn nợ đối vớ i khoản nợ mà
chắc chắn người vay không thể trả được. Những hành vi này làm chỉ tiêu nợ
quá hạn và nợ khó đòi không phản ánh đầy đủ rủi ro tín dụng.
Thứ ba, do chính sách cho vay. Rất nhiều các khoản cho vay khó đò i,
không thể thu hồi bằng phát mạ i tài sản ( doanh nghiệp nhà nước, người
nghèo, tài sản không rõ ràng,…) Những khoản cho vay này phần lớn là cho
vay theo ch ỉ thị chính phủ. Khi chính phủ chưa có biện pháp giải quyết c húng
vẫn tồn tại trên bảng cân đối tài sản của ngân hàng, trở thành tài sản “ảo”. Xử
lí khoản nợ này rất phức tạp. Nhiều ngân hàng loại chúng ra khỏi ch ỉ tiêu nợ
quá hạn và nợ khó đòi, xếp vào nợ khoanh ( khi được chính phủ đồng ý ). Tuy