Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và tác động đến hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 27

Khoá luận tốt nghiệp
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài :
Sự kiện khủng hoảng tài chính Mỹ diễn ra từ giữa năm 2007 kéo dài cho
đến nay đã tác động nghiêm trọng tới nền kinh tế của hàng loạt các nước trên
thế giới. Phạm vi ảnh hưởng và mức độ thiệt hại về kinh tế của cuộc khủng
hoảng này là rất lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Nền kinh
tế Việt Nam nói chung và hệ thống các Ngân hàng thương mại Việt Nam nói
riêng cũng không thể tránh khỏi những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của
nó. Cụ thể là cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã tác động mạnh mẽ đến hoạt
động tín dụng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Đây chính là nguyên
nhân khiến em lựa chọn đề tài : “Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và tác
động đến hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài :
- Phân tích nguyên nhân, tìm hiểu nguồn gốc của cuộc khủng hoảng tài
chính Mỹ để rút ra những bài học kinh nghiệm quí báu cho quá trình phát
triển kinh tế của Việt Nam.
- Phân tích tác động và mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tới hoạt
động tín dụng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Đề ra các giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và khắc phục tình trạng
trong giai đoạn tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài :
- Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ.
- Các tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ tới hoạt động tín dụng
của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong năm 2008 và đầu 2009.
4. Phương pháp nghiên cứu :
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh dữ liệu; kết hợp
nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn.
5. Bố cục khóa luận gồm 3 phần chính :
Đặng Thu Nga – Anh17K44H

NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMNN : Ngân hàng thương mại nhà nước
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTW : Ngân hàng Trung ương
ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức
OECD : Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển
SEC : Ủy ban Chứng Khoán Mỹ
SIBOR : Lãi suất liên ngân hàng Singapore
USD : Dolla Mỹ
VND : Việt Nam Đồng
WTO : Tổ chức kinh tế thế giới
Đặng Thu Nga – Anh17K44H
3
Khoá luận tốt nghiệp
Danh mục bảng biểu
Bảng 1: Các cuộc sáp nhập Ngân hàng và tổ chức tài chính Nhật Bản trong
thời kì khủng hoảng.
Bảng 2: Tương quan so sánh nợ nước ngoài và dự trữ ngoại tệ của các nước
trong khu vực.
Bảng 3 : Lãi suất huy động VND và USD của các NHTM quí I/2009.
Biểu 1: Diễn biến chỉ số Dow Jones từ 1928 đến 1934.
Biểu 2: Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ trong giai đoạn Đại khủng hoảng
Biểu 3: Diễn biến giá cổ phiếu của Merrill Lynch.
Biểu 4: Chỉ số Dow Jones tụt giảm tháng 9/2008
Biểu 5: Chỉ số Nikkei tụt giảm tháng 9/2008
Biểu 6: Diễn biến giá cổ phiểu của Fortis
Biểu 7: Tỷ lệ cho vay cầm cố dưới chuẩn và tỷ lệ sở hữu nhà ở tại Mỹ (1993-
2007)
Biểu 8: Tỷ lệ sụt giảm giá nhà ở tại Mỹ từ 2005

nhiên, qua mỗi thời kì lịch sử, các nhà kinh tế học lại đưa ra những khái niệm
và lập luận khác nhau.
Trong giai đoạn đầu, khủng hoảng tài chính được hiểu là kết quả của thâm
hụt ngân sách, dẫn tới nhu cầu phát hành tiền để bù đắp thâm hụt của Chính
phủ. Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định và dự trữ ngoại hối quốc
gia sụt giảm dưới mức cho phép. Obstfelt
1
(1994) lập luận rằng khủng hoảng
tài chính xuất phát từ mâu thuẫn giữa chế độ tỷ giá cố định và mong muốn
theo đuổi chính sách tiền tệ mở rộng của chính phủ.
Theo học thuyết kinh tế của Hyman Minsky
2
(1919-1996), khủng hoảng tài
chính là kết quả của sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế
trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình. Ví dụ như :
các NHTM không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền; các
khách hàng vay vốn không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
Nguyên nhân của việc không thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán là do
gặp phải vấn đề thanh khoản, khả năng thanh toán hoặc do cố tình chiếm
1
Maurice Obstfelt – Giáo sư kinh tế học người Mỹ của trường đại học Berkeley, California. "Financial
Instability, Reserves, and Central Bank Swap Lines in the Panic of 2008"
2
Hyman Minsky - Giáo sư kinh tế học người Mỹ. “Financial crisis : Systemic or Idiosyncratic – 1991”
Đặng Thu Nga – Anh17K44H
6
Khoá luận tốt nghiệp
dụng vốn vì điều này có thể có lợi ở khía cạnh nào đó. Tình trạng mất khả
năng thanh toán bắt nguồn từ các vụ phá sản, kinh doanh thua lỗ của các
doanh nghiệp hoặc các vấn đề về chi tiêu của Chính phủ. Sự mất khả năng

Các quĩ tiền tệ là cơ sở hình thành và là đối tượng của các hoạt động tài chính. Trong thực tế, các nguồn tài
chính có thể được gọi với các tên như : vốn tiền tệ, tiền vốn hay trong từng trường hợp cụ thể thì bằng các
tên gọi riêng như : vốn huy động trong dân, vốn tín dụng, vốn ngân sách…
Đặng Thu Nga – Anh17K44H
7
Khoá luận tốt nghiệp
huy động vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và giá cả của
vốn. Thứ hai, chức năng phân phối là chức năng phân phối tổng sản phẩm xã
hội dưới hình thức giá trị. Thông qua chức năng này, các quĩ tiền tệ tập trung
và không tập trung được hình thành và sử dụng theo những mục đích nhất
định. Phân phối thông qua tài chính gồm: phân phối lần đầu và phân phối lại.
Tuy nhiên, thực tế phân phối được chia thành 3 nhóm: phân phối có hoàn lại
(ví dụ: tín dụng); phân phối không hoàn lại (ví dụ: ngân sách nhà nước); phân
phối hoàn lại có điều kiện (ví dụ: bảo hiểm). Thứ ba, chức năng giám sát là
chức năng kiểm tra quá trình vận động của các nguồn tài chính để tạo lập và
sử dụng các quĩ tiền tệ.
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng
quyền sử dụng các khoản vốn ngắn hạn và dài hạn thông qua các công cụ tài
chính nhất định. Thị trường tài chính góp phần quan trọng trong việc điều hòa
vốn từ nơi thừa đến nới thiếu vốn, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong
nền kinh tế. Với vai trò như vậy, ổn định thị trường tài chính là mục tiêu quan
trọng đối với nền kinh tế các quốc gia.
Khủng hoảng là tình trạng rối loạn, sự mất cân bằng, bất ổn định, do nhiều
mâu thuẫn nghiêm trọng chưa giải quyết được.
Vậy, “khủng hoảng tài chính là tình trạng mất cân bằng, rối loạn trầm
trọng của quá trình huy động và phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp
ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Hay nói cách khác,
khủng hoảng tài chính là sự đổ vỡ trầm trọng các thị trường tài chính được
đặc trưng bởi sự sụt giảm mạnh mẽ về giá trị tài sản và sự đổ vỡ của các tổ
chức tài chính, phi tài chính kéo theo sự suy thoái nặng nề”.

Khoá luận tốt nghiệp
nhân chỉ được làm việc vài giờ mỗi ngày. Hệ thống ngân hàng bị đặt trong
vòng kiểm soát gắt gao. Toàn bộ ngân hàng bị đóng cửa trong 2 tuần, chờ các
điều tra viên liên bang thanh tra, giám sát.
Không được trợ cấp thất nghiệp, không được chính phủ trợ giúp đỡ, người
lao động đối mặt với vấn đề cắt giảm thu nhập và thất nghiệp. Hệ lụy tất yếu
xảy ra là tiêu dùng của dân chúng suy giảm, kéo theo sự sụp đổ của nhiều nhà
máy, công xưởng.
Biểu 2 : Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ trong giai đoạn Đại khủng hoảng
Nguồn : Dow Jones & Company
Chính sách thắt chặt tiền tệ, tài khóa đúng vào lúc cuộc khủng hoảng lan
rộng càng làm cho nền kinh tế suy thoái trầm trọng hơn. Thương mại quốc tế
cũng đình đốn vì Mỹ xóa bỏ chế độ bản vị vàng (coi vàng là thước đo trong
thanh toán) và dựng hàng rào thuế quan nhằm ngăn đồ nhập ngoại.
Trong giai đoạn đầu, các nhà chức trách cố lấy lại niềm tin trên thị
trường bằng những bài phát biểu, cam kết. Thậm chí Tổng thống Herbert
Hoover
5
trấn an dân chúng rằng nền kinh tế vẫn vững vàng. Mọi biến chuyển
chỉ bắt đầu khi ông Franklin D Roosevelt
6
trúng cử Tổng thống vào năm
1932. Chính phủ Mỹ bắt đầu chính sách trợ cấp thất nghiệp, ổn định thị
5
Tổng thống thứ 31 của Mỹ.
6
Tổng thống thứ 32 của Mỹ.
Đặng Thu Nga – Anh17K44H
10
Khoá luận tốt nghiệp

tính theo cấp số nhân chứ không còn đơn giản là cộng hai doanh nghiệp hợp
nhất với nhau nữa.
SEC không còn đủ khả năng để hạn chế những tập đoàn và những đợt phát
hành ra công chúng mờ ám, thị trường tiếp tục tăng trưởng liên tục trong suốt
thập niên 80. Vào đầu năm 1987, SEC đẩy mạnh hoạt động điều tra các giao
dịch nội gián. Ở vào thời điểm mà hầu hết nhà đầu tư bắt đầu quan tâm đến
khả năng Phố Wall cần phải xem xét lại chính sự tăng trưởng hiện tại của nó,
thì hoạt động điều tra của SEC đã tạo nên không khí lo lắng đối với nhà đầu
tư. Nhiều người quyết định rời khỏi “cuộc chơi mờ ám” với cổ phiếu để
chuyển sang những hoạt động đầu tư ổn định hơn, như trái phiếu.
Ngày thứ hai (19/10/1987) - ngày thứ hai đen tối - đã xảy ra một cuộc rút
lui đồng loạt ra khỏi thị trường cổ phiếu, tác động mạnh đến hệ thống quản lý
giao dịch của NYSE (Sở giao dịch chứng khoán New York). Hệ thống này tự
đặt các ngưỡng dừng lỗ (stop loss) cho cổ phiếu và chuyển lệnh tới hệ thống
DOT
7
của NYSE. Lượng bán quá lớn được chuyển sang tức thì đã làm quá tải
hệ thống máy in của DOT, làm trễ toàn hệ thống và nhà đầu tư, ở mọi cấp độ
(cá nhân hay tổ chức) rơi vào tình trạng mất thông tin.
Khủng hoảng lan truyền theo đám đông và nhà đầu tư bắt đầu đổ ra bán cổ
phiếu không cần biết sẽ lỗ bao nhiêu hay liệu lệnh của họ có thể được thực
hiện sớm hay muộn trong khi giá đang rơi thẳng đứng. Chỉ số Dow Jones tụt
508,32 điểm (22,6%) và 500 tỉ USD biến mất. Thị trường ở các quốc gia khác
trên toàn thế giới cũng sụp đổ theo.
Sau khi Alan Greenspan lên làm Chủ tịch của Cục dự trữ Liên bang Mỹ
(FED) đã đóng góp rất lớn trong việc chèo lái nền kinh tế tránh khỏi một cuộc
khủng hoảng nữa bằng cách hỗ trợ để các ngân hàng thương mại và ngân
hàng đầu tư không bị vỡ nợ.
7
DOT - Designated Order Turnaround - là hệ thống máy tính điện tử nhằm hỗ trợ hiệu quả giao dịch lệnh

càng giảm thì các ngân hàng này phải chuyển đối tượng cho vay sang cá nhân
và các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản - chủ yếu là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
Đặng Thu Nga – Anh17K44H
13
Khoá luận tốt nghiệp
Tăng trưởng cao và lạm phát xấp xỉ bằng 0 trong nửa cuối những năm
1980 đã đẩy giá bất động sản lên tới mức không thể dự đoán được. Áp lực
cạnh tranh trong và ngoài nước khiến các ngân hàng thi nhau cho vay để
chiếm lĩnh thị trường. Thế chấp cho các khoản vay là những món bất động
sản trị giá lớn, vượt xa cả giá trị thực của chúng. Cuối những năm 1980, các
ngân hàng Nhật và các tập đoàn Nhật đã vượt ra ngoài lãnh thổ quốc gia sang
Đông Á, châu Âu và châu Mỹ, nhưng tại các thị trường này tình trạng cho
vay cũng không khác tại Nhật Bản.
Bong bóng bất động sản cuối cùng cũng vỡ vào năm 1989 khi chỉ số
Nikkei 225 đạt đỉnh điểm 38915 rồi sụt giảm mạnh. Giá bất động sản theo đó
cũng giảm thảm hại. Các khoản thế chấp ngân hàng lúc này trở nên vô nghĩa
để lại trong các ngân hàng là các khoản nợ khó đòi. Các ngân hàng Nhật đối
mặt với một cuộc khủng hoảng trầm trọng.
Diễn biến
Thực chất, nguy cơ khởi phát của cuộc khủng hoảng đã bắt đầu từ cuối
những năm 1970 đến giữa những năm 1980 khi các bong bóng bất động sản
hình thành. Sau đó, từ giữa những năm 1990 đến đầu năm 2000 bong bóng vỡ
khiến Nhật Bản lâm vào cuộc khủng hoảng hệ thống NHTM nghiêm trọng.
Có thể chia làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1, từ đầu những năm 1990 đến năm 1994, đây là giai đoạn các
nhà điều hành ngân hàng bắt đầu nhận ra mức độ nghiêm trọng của các khoản
nợ xấu. Hai ngân hàng đầu tiên buộc phải đóng cửa là ngân hàng Toho-Sogo
và Toyo-Shinkin (1992). Công ty mua bán nợ CCPC được thành lập năm
1993 để cứu các ngân hàng này. Năm 1993, các ngân hàng bắt đầu công khai

Nhật.
Bảng 1: Các cuộc sáp nhập Ngân hàng và tổ chức tài chính
Nhật Bản trong thời kì khủng hoảng
8
Nguồn BOJ-www.bis.org page 6 “The financial crisis in Japan during the 1990s: How the BOJ responded
and the lessons learnt”
Đặng Thu Nga – Anh17K44H
15
Khoá luận tốt nghiệp
Ngân hàng và các tổ chức tài
chính sáp nhập
Năm sáp
nhập
Tên mới sau
sáp nhập
Ngày có hiệu
lực
IBJ, Nomura Securities
(Alliance)
13/5/1998 12/98-1/99
Dai-Ichi Securities,
J.P.Morgan( Alliance)
1/11/1998 3/1999
IBJ, Dai-Ichi Life Insurance
(Alliance)
2/10/1998
DKB Trust, Fuji Trust,
Yasuda Trust
6/11/1998 DK-Fuji Trust 1/4/1999
Chuo Trust. Mitsui Trust 19/1/1999 Cho-Mitsui

Securities, Fuji Securities
28/11/2000 Daiwa SMBC 4/2001
Daiwa Sec.H.C, Sakura,
Sumitomo, Sakura Sec
30/6/2000 Mizuho Trust
Risona
10/2000-
3/2001
Nguồn : www.google.com/RIETI (Discussion Paper Series 03-E-010)
1.1.2.4. Khủng hoảng nợ Mexico 1994
Ở Mexico, ngày 1 tháng 1 năm 1994, lực lượng vũ trang Zapatistas đã nổi
dậy. Cuối tháng 2, tỷ giá hối đoái giữa Peso và USD tăng đến kịch trần biên
Đặng Thu Nga – Anh17K44H
16
Khoá luận tốt nghiệp
độ giao động. Nhưng các nhà đầu tư nước ngoài vẫn lạc quan về tình hình
Mexico và vốn nước ngoài vẫn tiếp tục được đổ vào.
Tháng 3, ứng cử viên tổng thống Colosio bị ám sát. Các nhà đầu tư nước
ngoài trở nên bất an và lo lắng cho tài sản của mình ở Mexico. Hoảng loạn tài
chính đã xảy ra. Các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã giảm nhu cầu về
chứng khoán của Mexico. Peso chịu sức ép mất giá và Chính phủ đã tung ra
khoảng 10 tỷ USD dự trữ ngoại hối nhà nước ra để bảo vệ tỷ giá danh nghĩa.
Tháng 4, lãi suất trái phiếu chính phủ định danh bằng đồng Peso có xu
hướng tăng. Lo ngại rằng điều này có thể tác động tới khu vực ngân hàng
chưa đủ mạnh của đất nước và sợ rằng lãi suất cao có thể gây ra suy thoái
kinh tế vào một năm có bầu cử tổng thống, nên chính phủ đã một mặt dùng
dự trữ ngoại hối để chống lại xu hướng tăng lãi suất, một mặt tiến hành đổi
các trái phiếu chính phủ từ định danh bằng đồng Peso sang định danh bằng
USD.
Đã có cảnh báo của một số học giả kinh tế về việc đồng Peso quá cao so

1.1.2.5. Khủng hoảng tài chính Châu Á - 1997
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tại một số nước Đông Á bắt đầu từ Thái
Lan vào tháng 7 năm 1997 khi nước này tuyên bố chấm dứt chế độ tỷ giá theo
đồng Dolla Mỹ. Cuộc khủng hoảng sau đó lan rộng ra nhiều nước trong khu
vực như Malaysia, Indonesia, Philippines, Hàn Quốc. Biểu hiện của cuộc
khủng hoảng là đồng tiền của các nước này bị giảm giá liên tục và xuống đến
mức kỉ lục, giá chứng khoán và bất động sản cũng giảm nhanh chóng, nhiều
ngân hàng, tổ chức tài chính lâm vào tình trạng phá sản. Kết quả là một số
nước châu Á đã trải qua thời kì tăng trưởng thấp và mất niềm tin của các nhà
đầu tư nước ngoài.
Diễn biến
Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình
quân hàng năm là 9%. Đầu năm 1996, báo cáo “Triển vọng kinh tế thế giới”
Đặng Thu Nga – Anh17K44H
18
Khoá luận tốt nghiệp
của IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong
bóng kinh tế có thể vỡ. Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt
đầu có sự điều chỉnh. Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường
chứng khoán đều giảm đi.
Ngày 14/05 và ngày 15/05/1997, đồng Baht Thái bị tấn công đầu cơ quy
mô lớn. Ngày 2/07/1997 thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh tuyên
bố thả nổi đồng Baht. Đồng Baht ngay lập tức mất giá gần 50%. Chỉ số thị
trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn
372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ
USD xuống còn 23,5 tỷ USD. Finance One - công ty tài chính lớn nhất của
Thái Lan bị phá sản
9
.
Sự sụt giảm giá trị của đồng Baht đã tạo ra sức ép làm mất lợi thế cạnh

khẩn cấp cho Indonesia lên tới 23 tỷ USD, nhưng Rupiah tiếp tục mất giá do
đồng Rupiah bị bán ra ồ ạt và lượng cầu USD ở Indonesia tăng vọt. Trước
khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và USD vào khoảng 2000 : 1.
Nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, tỷ giá đã giảm xuống mức 18.000 : 1.
Bảng 2: Tương quan so sánh nợ nước ngoài và dự trữ ngoại tệ của các
nước trong khu vực
Đơn vị : Tỷ USD
Tên nước Indonexia Malayxia Philippines Singapore Thái Lan
Dự trữ ngoại tệ
chính thức
18,16 25,3 10,3 78,3 31,8
Nợ nước ngoài 109,3 29,0 43,2 0 85,0
Tỷ lệ trả nợ
nước ngoài
33 6,0 15,0 0 14,0
Nguồn : Tạp chí nghiên cứu kinh tế tháng 1/1998
Ngày 5/8/1997, Thái Lan phải tạm ngừng hoạt động của 42 công ty tài
chính, đưa tổng số công ty bị đóng cửa lên 58/90 với tổng số dư nợ là 1391 tỷ
Đặng Thu Nga – Anh17K44H
20
Khoá luận tốt nghiệp
Baht. IMF buộc phải đưa ra chương trình viện trợ cả gói cho Thái Lan 17,2 tỷ
USD với những điều kiện khá ngặt nghèo.
Tháng 10 năm 1997, khủng hoảng lan sang Hàn Quốc, Đài Loan, Hong
Kong, Nhật Bản, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho các nền kinh tế liên
quan. Ngày 2/11/1997, Bộ trưởng tài chính Hàn Quốc thông báo Chính phủ
Hàn Quốc chính thức đề nghị IMF hỗ trợ sau khi đồng Won giảm giá mạnh.
Nhưng chỉ 2 tuần sau khi IMF công bố khoản hỗ trợ tài chính cả gói 57 tỷ
USD cho Hàn Quốc, đồng Won giảm giá xuống mức kỷ lục 1926 Won/1
USD do có tin Hàn Quốc nợ tới 220 tỷ USD. IMF và G7 quyết định giải ngân

nước nhóm G7 và 11 nước châu Á – Thái Bình Dương họp tại Tokyo thảo
luận về việc ổn định đồng Yên, ngăn chặn cuộc khủng hoảng tiền tệ vòng 2
tại khu vực và tìm cách khôi phục lại nền kinh tế Nhật Bản đang trên đà suy
thoái. Hội nghị ra tuyên bố 9 điểm, trong đó hoan nghênh sự can thiệp của
Mỹ vào thị trường để hỗ trợ đồng Yên của Nhật Bản, hoan nghênh Trung
Quốc cam kết duy trì đồng Nhân dân tệ và kêu gọi Nhật Bản sớm điều chỉnh
hệ thống tiền tệ, giải quyết các khoản nợ khó đòi và cải cách chế đội thuế.
Ngân hàng thế giới (World Bank) và Chính phủ Anh đã ký thỏa thuận
thành lập quĩ tín dụng ASEM (được khởi xướng tại Hội nghị thượng đỉnh
ASEM II đầu tháng 4/1998 để khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng với
số vốn ban đầu khoảng 35, 40 tỷ USD).
2/7/1998, tròn 1 năm sau khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, chính phủ
Nhật chính thức thông qua kế hoạch thành lập hệ thống ngân hàng cầu nối để
giải quyết các khoản nợ khó đòi của các tổ chức tiền tệ đã bị phá sản.
Cho đến năm 2000, sau hơn 3 năm, cuộc khủng hoảng gần như đã chấm
dứt hoàn toàn, những tín hiệu của quá trình phục hồi kinh tế khu vực đang
mạnh dần. Thời điểm tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng đã qua, tốc độ phát
triển kinh tế thế giới đã dần dần được phục hồi. Năm 1999, tăng trưởng thế
giới ở mức 3,2%, năm 2000 là khoảng 5%. Tại châu Á, lạm phát và xáo trộn
tỷ giá đã được kiềm chế. Theo số liệu của IMF, 1 số nước trong khu vực đã
Đặng Thu Nga – Anh17K44H
22
Khoá luận tốt nghiệp
có những chuyển biến tích cực. Cụ thể là: năm 1999 Hàn Quốc đã đạt mức
tăng trưởng 2%, Indonesia là -1,1%, Malaysia là 0,9%, Thái Lan là 0,5%.
Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô
nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm
giá tài sản ở một số nước châu Á. Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến
hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998.
Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó còn góp phần

tài sản này tồn tại dưới dạng cổ phiếu hay các khoản vay thế chấp. Những số
liệu thống kê này được ước tính từ giữa năm 2007 (khi cuộc khủng hoảng tài
chính bắt đầu) đến năm 2010.
1.1.3. Đặc điểm của khủng hoảng tài chính
Không phải các cuộc khủng hoảng tài chính đều giống nhau cho dù những
dấu hiệu bề ngoài là có vẻ như nhau. Việc phân tích lịch sử tỷ mỉ dựa trên lý
thuyết giúp chúng ta có thể phân biệt những đặc điểm chính của bất cứ cuộc
khủng hoảng tài chính cụ thể nào.
Theo các chuyên gia kinh tế, có 3 loại khủng hoảng tài chính: khủng
hoảng tiền tệ, khủng hoảng ngân hàng, và khủng hoảng nợ. Mỗi một loại
khủng hoảng sẽ có những đặc trưng và dấu hiệu nhận biết cụ thể.
Theo mô hình của Paul Krugman
11
(1953), khủng hoảng tiền tệ (hay
khủng hoảng cán cân thanh toán) biểu hiện ở việc đồng tiền bị mất giá, lạm
phát tăng cao, các nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt rút vốn, dự trữ ngoại hối suy
giảm và sự sụp đổ của hệ thống tỷ giá hối đoái cố định. Khủng hoảng xuất
hiện khi Chính phủ áp dụng các chính sách tài chính và tiền tệ không hợp lý
trong khi cố định tỷ giá, thâm hụt cán cân thương mại trong một thời gian dài,
hoặc bị khủng hoảng ngân hàng tác động, thông qua việc Nhà nước phải phát
hành thêm tiền để trợ giúp ngành ngân hàng. Cuộc khủng hoảng tài chính tại
châu Á (1997) là một ví dụ điển hình, mang đầy đủ những đặc điểm của một
cuộc khủng hoảng tiền tệ.
10
Nguồn: Hãng thông tấn xã Agence France-Presse (AFP)

11
Paul Krugman là một nhà kinh tế học người Mỹ, giáo sư đại học Princeton. Năm 2008 ông được trao giải
Nobel kinh tế học.
Đặng Thu Nga – Anh17K44H

12
Micheal D.Bordo là một nhà kinh tế học người Mỹ, giáo sư đại học Rutgers University.
Đặng Thu Nga – Anh17K44H
25

Trích đoạn Định hướng hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Chính sách lãi suất hợp lý Thắt chặt quản lý rủi ro tín dụng Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status