Tác động của chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại việt nam từ năm 2007 đến nay - Pdf 11

Tiểu luận môn: Thị trường tài chính GVHD: TS. Thân Thị Thu Thủy
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐẾN
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TỪ NĂM
2007 ĐẾN NAY
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Lý luận về CSTT
Về lý thuyết, thông thường khi nói đến mục tiêu kinh tế vĩ mô, người ta thường tập trung vào 4
mục tiêu chính:
(1) Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh qua tốc độ tăng trưởng GDP hay GNP cùng với chỉ tiêu
GDP/người vào những mốc thời gian nhất định. Đây là mục tiêu bao trùm nhất của kinh tế vĩ mô phản
ảnh chung nhất về thành tựu phát triển của một nền kinh tế. Tuy chỉ báo này chưa phản ảnh đầy đủ
chất lượng của một nền kinh tế, nhưng luôn luôn là chỉ báo quan trọng nhất để đánh giá sự thành công
hay thất bại của một nền kinh tế.
(2) Kiểm soát giá cả thông qua chỉ báo CPI hay thường nói là kiểm soát lạm phát là chỉ báo quan
trọng nhất phản ảnh tính ổn định của kinh tế vĩ mô. Chỉ báo này còn được sử dụng như một công cụ
giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với an sinh xã hội.
(3)Tạo việc làm mới cho xã hội, kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp là chỉ báo vừa phản ảnh tình trạng
của nền kinh tế, vừa phản ảnh tính ổn định về mặt an sinh xã hội. Thông thường ở các nước đây là chỉ
báo rất quan trọng không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị phản ánh năng lực quản lý
điều hành của một chính phủ. Số việc làm mới tạo ra một năm còn phản ánh mối quan hệ giữa đầu tư
với tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa các chính sách kinh tế tài chính với chính sách nhân dụng.
(4)Tăng xuất khẩu ròng (lấy kim ngạch xuất khẩu – kim ngạch nhập khẩu); nhất là đối với những
nền kinh tế hướng về xuất khẩu.
Bốn mục tiêu nêu trên được sử dụng khá phổ biến ở các nước như là những mục tiêu cơ bản của
kinh tế vĩ mô. Những mục tiêu này cũng chính là những sản phẩm đầu ra của quan hệ tổng cung và
tổng cầu của nền kinh tế. Vai trò của nhà nước thông qua các chính sách và giải pháp kinh tế để tác
động đến tổng cung và tổng cầu nhằm tạo được “đầu ra” theo ý muốn, với nguyên tắc: nhà nước
không tác động trực tiếp vào chủ thể tạo cung hay tạo cầu, mà tác động vào thị trường (sự vận động
của tổng cung và tổng cầu được xem như “hộp đen”) và chính thị trường sẽ tác động đến các chủ thể
của nền kinh tế (người sản xuất, người tiêu dùng).
Để thực hiện 4 mục tiêu kinh tế vĩ mô nêu trên, nhà nước thường sử dụng 4 nhóm chính sách hay

(1) Điều kiện tự nhiên
(2) Các biến cố phi kinh tế
(3) Thị trường thế giới
Vận động của
Tổng cung –
Tổng cầu
Giá cả,
lạm phát
Hộp đen
Tăng GDP
Việc làm,
thất nghiệp
Xuất khẩu
ròng
(Dựa theo sơ đồ của P.A.SAMUELSON)
Nguồn vốn cho nền kinh tế chủ yếu vẫn được huy động và phân bố qua hệ thống ngân hàng và
các định chế tín dụng trung gian phi ngân hàng, mà các định chế này đều vận hành theo sự điều tiết
SVTH: Nhóm 2 Trang 2
Lớp: CHKT Ngân hàng Đêm 3 – K19

Tiểu luận môn: Thị trường tài chính GVHD: TS. Thân Thị Thu Thủy
của chính sách tiền tệ. Do đó, chính sách tiền tệ có ý nghĩa quyết định đối với sự vận động của dòng
vốn đầu tư và ngay cả chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Trên thực tế, chính sách tiền tệ đóng
vai trò chủ yếu, không chỉ trong việc hỗ trợ doanh nghiệp về nguồn vốn lưu động, mà đang tạo điều
kiện cho doanh nghiệp nào có chiến lược kinh doanh tốt có thể tận dụng để thực hiện chiến lược phát
triển dài hạn, thông qua đầu tư phát triển sản phẩm mới. Chính sách tiền tệ vẫn là công cụ chủ yếu để
ổn định giá cả, thực thiện chính sách ngoại thương thông qua sự điều hành chính sách tỷ giá và bảo
đảm tính thanh khoản trong thanh toán quốc tế.
Đối với Ngân hàng trung ương, việc hoạch định và thực thi chính sách chính sách tiền tệ là hoạt
động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện

Các tiêu chuẩn lựa chọn mục tiêu trung gian:
+ Có thể đo lường được một cách chính xác và nhanh chóng để NHTW điều chỉnh hướng tác
động khi cần thiết
+ Có khả năng kiểm soát đựơc.
+ Có quan hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng.
Các chỉ tiêu thường được lựa chọn:
+ Tổng lượng tiền cung ứng.
+ Lãi suất.
1.2.3 Mục tiêu hoạt động
Khái niệm: Mục tiêu hoạt động là mục tiêu do ngân hàng trung ương lựa chọn nhằm đạt được mục
tiêu trung gian. Nó có phản ứng tức thời với những thay đổi trong sử dụng công cụ của CSTT.
Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Có mối quan hệ mật thiết với mục tiêu trung gian:
+ NHTW có thể đo lường được.
+ Chịu sự tác động của công cụ gián tiếp.
Các chỉ tiêu thường được lựa chọn:
+ Về lượng: lượng tiền trung ương MB
+ Về giá: lãi suất liên ngân hàng.

1.3 Phân loại
Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng: chính sách tiền tệ
mở rộng (tăng cung tiền ,giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm
phát tăng-chính sách tiền tệ chống thất nghiệp) hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt(giảm cung tiền, tăng
lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng-
chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền).
SVTH: Nhóm 2 Trang 4
Lớp: CHKT Ngân hàng Đêm 3 – K19

Tiểu luận môn: Thị trường tài chính GVHD: TS. Thân Thị Thu Thủy
1.3.1 Chính sách tiền tệ mở rộng


Tiểu luận môn: Thị trường tài chính GVHD: TS. Thân Thị Thu Thủy
+ Cơ chế tác động: đây là một công cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với lượng tiền cung
ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với
quy mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTW.
+ Ưu điểm: giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng, đặc biệt tác dụng nhất
thời của nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế.
+ Nhược điểm: có thể triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM, làm giảm hiệu quả phân bổ
vốn trong nền kinh tế và nó trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng
lên.
Ngoài ra còn có các công cụ khác như: phát hành trái phiếu nhà nước, phát hành tiền cho ngân
sách và đầu tư.
1.4.2 Các công cụ gián tiếp
1.4.2.1 Quy định tỷ lệ dự trữ pháp định
Tỷ lệ dự trữ pháp định là tỷ lệ % trên số tiền gửi mà 1 NHTM nhận được phải gửi vào Tài khoản
tại NHTW hoặc giữ tại ngân hàng theo quy định. Đây là phương thức quản lý khối lượng tiền trong
lưu thông bằng các quy định tỷ lệ mà các NHTM được phép cho vay khi nhận được 1 khối lượng tiền
gửi từ khách hàng.
Mục đích của việc quy định tỷ lệ dự trữ pháp định:
- Duy trì khả năng thanh toán thường xuyên của các ngân hàng thương mại.
- Giới hạn khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại, tránh được trường hợp ngân hàng
này quá ham kiếm lợi nhuận bằng cách cho vay quá mức, có thể phương hại đến quyền lợi
của người gửi tiền ở ngân hàng, tức là đảm bảo an toàn tiền gửi của khách hàng.
Với biện pháp này NHTW nắm được khối lượng tín dụng mà các NHTM và các tổ chức tín dụng
khác cung cấp và có khả năng cung cấp cho nền kinh tế. Do đó, NHTW có thể tác động trực tiếp đến
khối lượng tín dụng bằng cách tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ pháp định.
- Khi ấn định một mức dự trữ bắt buộc ở mức thấp, ngân hàng trung ương muốn khuyến khích
các ngân hàng thương mại mở rộng mức cho vay của họ, tức là muốn gia tăng khối lượng
tiền tệ. Điều này sẽ kích thích các hoạt động kinh tế, tăng khả năng giao lưu các nguồn vốn
tài chính giữa các doanh nghiệp, thể hiện chính sách tiền tệ “nới lỏng”.

vay. Ngược lại, nếu thực hiện chính sách tiền tệ “nới lỏng” ngân hàng trung ương hạ thấp lãi suất chiết
khấu, ngân hàng thương mại trong trường hợp này đi vay rẻ, nên có khuynh hướng giảm lãi suất cho
vay dẫn đến nhu cầu vay gia tăng.
Công cụ này có ưu điểm và nhược điểm như sau:
- Ưu điểm:
 Các khoản cho vay của ngân hàng trung ương đều được đảm bảo bằng các
giấy tờ có giá do nó có khả năng tự thanh toán.
SVTH: Nhóm 2 Trang 7
Lớp: CHKT Ngân hàng Đêm 3 – K19

Tiểu luận môn: Thị trường tài chính GVHD: TS. Thân Thị Thu Thủy
 Có tính chất chủ động trong việc thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng hay
hạn chế.
- Nhược điểm: Ngân hàng trung ương thụ động do việc vay hay không vay chủ động nằm ở
ngân hàng thương mại.
1.4.2.4 Giới hạn khối lượng tín dụng trên số tiền gửi nhận được
Đây là một công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của NHTW để khống chế mức tăng
khối lượng tín dụng của các NHTM. NHTW quy định giới hạn tỷ lệ tín dụng mà các NHTM có thể
cung cấp khi nhận được một lượng tiền gửi, biện pháp này thường được đi kèm bằng biện pháp quy
định tỷ lệ dự trữ ổn định, thông thường NHTW thường quy định tỷ lệ dư nợ tín dụng của các NHTM
không được vượt qua bao nhiêu nhiêu lần so với vốn tự có.
Biện pháp này có ưu điểm quy định được một khối lượng tín dụng vừa phải theo yêu cầu phát
triển kinh tế có tính đến mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư.
1.4.2.5 Dự đính công trái bắt buộc
Là việc NHTW quy định 1 tỷ lệ trên số tiền gửi mà 1 NHTM nhận được phải dùng vào việc mua
công trái bắt buộc nhằm hạn chế khối lượng tín dụng của các NHTM và làm công cụ của NHTW
thông qua việc chiết khấu các công trái này, khi các NHTM cần vốn thông qua đó NHTW có thể sử
dụng công cụ thị trường mở để điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông.
1.4.2.6 Tỷ giá hối đoái
Ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường hối đoái nhằm ổn định tỷ giá hối đoái, để giữ

chuẩn; tháng 3/2008, Ngân hàng đầu tư Bear Stearns bị sáp nhập vào Ngân hàng JP.Morgan
Chase; tháng 7/2008, Tập đoàn cho vay thế chấp thứ cấp Freddie Mac và Fannie Mae mất
khả năng thanh toán. Ngày 15/9/2008, cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ ở Mỹ, với sự đổ
vỡ của Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers và Công ty bảo hiểm AIG, Ngân hàng tiết kiệm
Washington Mutual Inc, đã nhanh chóng lan rộng sang thị trường tài chính châu Âu và khu
vực khác. Để ngăn chặn sự sụp đổ của thị trường tài chính và suy thoái kinh tế, Chính phủ và
ngân hàng trung ương (NHTW) các nước, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới
(WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã dốc sức, nhanh chóng thực hiện các biện
pháp giải cứu, ổn định thị trường tài chính và kích thích kinh tế.
SVTH: Nhóm 2 Trang 9
Lớp: CHKT Ngân hàng Đêm 3 – K19

Tiểu luận môn: Thị trường tài chính GVHD: TS. Thân Thị Thu Thủy
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
1600
0
100
200
300
400
500
600
700

lạm phát được thể hiện cụ thể như sau:
• Tăng tỷ lệ DTBB ( ngày 16/1 thống đốc NHNN ký quyết định 187 tỳ lệ DTBB đối với VND
không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng tăng từ 10% lên 11%, đối với VND kỳ hạn từ 12
tháng trở lên tăng từ 4% lên 5%)
Đồ thị: Biến động tỷ lệ dự trữ bắt buộc tiền gửi VNĐ ngắn hạn (%)

SVTH: Nhóm 2 Trang 11
Lớp: CHKT Ngân hàng Đêm 3 – K19

Tiểu luận môn: Thị trường tài chính GVHD: TS. Thân Thị Thu Thủy
• Tăng khối lượng bán tín phiếu trên nghiệp vụ thị trường mở và phát hành 20.300 tỷ đồng tín
phiếu bắt buộc đối với các TCTD có quy mô vốn huy động bằng VND trên 1.000 tỷ đồng
(trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương).
• Sáu tháng đầu năm 2008, NHNN thay đổi lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái
cấp vốn 2 lần: (lần 1: tăng lãi suất cơ bản lên 12%/năm, lãi suất tái cấp vốn lên 13%/năm, lãi
suất chiết khấu lên 11%/năm. Lần 2: tăng lãi suất cơ bản lên 14%/năm, lãi suất tái cấp vốn
lên 15%/năm, lãi suất chiết khấu lên 13%/năm).
• Điều hành thận trọng, linh hoạt tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng, kết hợp với duy trì
biên độ tỷ giá ±2%. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ các bàn thu đổi ngoại tệ nhằm chống tình
trạng đầu cơ và lũng đoạn thị trường tiền tệ. Tỷ giá trên thị trường tương đối ổn định trong
tháng 8, các NHTM niêm yết dưới mức trần cho phép. Tính đến ngày 27/8/2008, tỷ giá
VND/USD đã tăng khoảng 3,97% (đồng Việt Nam giảm giá) so với đầu năm
• Điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 2% để phản ánh sát hơn cung cầu thị
trường;
• Mở rộng biên độ tỷ giá giao dịch USD/VND từ mức ±1% lên mức ±2% so với tỷ giá bình
quân liên ngân hàng do NHNN công bố;
SVTH: Nhóm 2 Trang 12
Lớp: CHKT Ngân hàng Đêm 3 – K19

Tiểu luận môn: Thị trường tài chính GVHD: TS. Thân Thị Thu Thủy


Tiểu luận môn: Thị trường tài chính GVHD: TS. Thân Thị Thu Thủy
Điều đặc biệt nữa, nếu như các loại tín phiếu trước đây được giao dịch trên thị trường mở
với NHNN để được vay tái cấp vốn thì quyết định lần này NHNN nói rõ là không được vay
tái cấp vốn. Do đó các NHTM khi thiếu hụt tạm thời thanh khoản không thể sử dụng tín
phiếu mình đang sở hữu để vay tái cấp vốn ngắn hạn 1-2 tuần tại NHNN. Kỳ hạn của tín
phiếu lại khá dài tới 364 ngày, hay gần 1 năm.
• Việc tăng lãi suất cơ bản lên 14%/năm, lãi suất tái cấp vốn lên 15% và lãi suất tái chiết khấu
lên 13%/năm đã đẩy các NHTM vào cuộc chạy đua cạnh tranh lãi suất huy động để huy
động vốn đáp ứng cho việc mua tín phiếu bắt buộc của NHNN, xoay vòng trả lãi suất tiền
gửi và vốn đáo hạn cho khách hàng.
• NHNN ban hành Quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN, ngày 1/2/2008 về sửa đổi Chỉ thị 03 về
cho vay chứng khoán. Trái với mong đợi của các NHTM, Quyết định 03 còn thắt chặt cho
vay chứng khoán hơn so với Chỉ thị 03 trước đây ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của các
NHTM.
2.1.5 Đánh giá
• Linh hoạt trong việc sử dụng các công cụ của CSTT là lãi suất, DTBB và thị trường mở để
có thể tùy theo tình hình kinh tế của quốc gia mà thắt chặt chính sách tiền tệ khi lạm phát và
nới lỏng trở lại khi bắt đầu có dấu hiệu suy thoái.
• Trong hoạt động can thiệp, NHNN đã kết hợp đa dạng, linh hoạt các hình thức can thiệp.
Bên cạnh can thiệp trực tiếp, lần đầu tiên NHNN áp dụng hình thức can thiệp gián tiếp để ổn
SVTH: Nhóm 2 Trang 14
Lớp: CHKT Ngân hàng Đêm 3 – K19

Trích đoạn Đối với CSTT 1 Bối cảnh Các đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả CSTT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status