Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ tới thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 12

Trang i
Mục lục
Tóm tắt 1
Giới thiệu 2
Chương 1: Tổng hợp các nghiên cứu liên quan 4
1. Tác động của lãi suất lên thị trường chứng khoán 4
2. Tác động của tỷ giá lên thị trường chứng khoán 5
3. Tác động của cung tiền lên thị trường chứng khoán 6
4. Tác động của tín dụng lên thị trường chứng khoán 8

Chương 2: Chính sách tiền tệ và thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2007 –
2011 10

Chương 3: Thảo luận các kênh truyền dẫn của CSTT tới TTCK 19
1. Cung tiền 19
2. Lãi suất 20
3. Tỷ giá 21
4. Tín dụng 23

Chương 4: Mô hình nghiên cứu 24
1. Lý thuyết 24
a. Mô hình Var 24
b. Mô hình VECM 25
c. Hàm phản ứng IRFs 26
d. Hàm phân tách phương sai 28
2. Mô tả số liệu và mô hình nghiên cứu 29
a. Kiểm định Augmented Dickey – Fuller 30
b. Kiểm định đồng liên kết 32

Danh mục hình

Hình 2.1: Đồ thị chỉ số Vn-Indexvà chỉ số CPI năm 2007
Hình 2.2: Đồ thị lãi suất cơ bản và chỉ số CPI của Việt Nam năm 2008
Hình 2.3: Đồ thị chỉ số Vn-Index năm 2008
Hình 2.4: Đồ thị chỉ số Vn-Index năm 2009
Hình 2.5: Đồ thị tỷ giá VND/USD và chỉ số CPI năm 2010
Hình 2.6: Đồ thị chỉ số Vn-Index năm 2010
Hình 2.7: Đồ thị chỉ số Vn-Index và chỉ số lạm phát Việt Nam năm 2011
Hình 4.1: Biểu đồ phản ứng IRFs của Vn-Index trước các biến số
Trang 1
CÁC KÊNH TRUYỀN DẪN CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

các nhà quản lý còn có một công cụ hiệu quả khác, đó là chính sách tiền tệ. Tác
động của chính sách tiền tệ luôn được thể hiện rõ nét và có uy lực tới nền kinh tế
nói chung và thị trường tài chính nói riêng, đặc biệt là trong ngắn hạn, thông qua
các chỉ tiêu tiền tệ như: cung tiền M2, tín dụng, lãi suất và tỷ giá hối đoái…, mà
mục tiêu cuối cùng của công tác điều hành chính sách là tác động đến lạm phát, sản
lượng đầu ra, và tình trạng thất nghiệp. Và để thực hiện điều đó, việc hiểu biết về
các kênh truyền dẫn của chính sách là rất quan trọng.Và với mục đích đó, chúng tôi
xin tới người đọc kết quả nghiên cứu của mình về các kênh truyền dẫn của chính
sách tiền tệ tới thị trường chứng khoán, một thành phần quan trọng trong nền kinh
tế hiện nay.
Trong một môi trường mà cơ chế thông tin được minh bạch, đầy đủ, thì giá
chứng khoán sẽ chuyển dịch tương ứng để phản ánh đầy đủ những thông tin này. Vì
vậy, với một điều chỉnh mang tính bất ngờ trong chính sách sẽ gây ra những phản
ứng mạnh mẽ cho thị trường. Điều này cũng đã được đề cập trong nghiên cứu của
Bernanke (2003) về thị trường chứng khoán Mỹ trong giai đoạn 05/1989 - 09/2002
cho thấy rằng, sau quyết định nới lỏng bất ngờ của FED giảm 25 điểm cơ bản đã
làm cho chỉ số chứng khoán chốt ngay sau đó tăng 0,75 - 1,25%. Tuy nhiên, thị
trường chứng khoán Việt Nam chỉ mới ra đời vào năm 2000, còn rất non trẻ so với
thị trường chứng khoán thế giới cũng như các thị trường chứng khoán trong khu
vực, đồng thời thị trường chứng khoán vẫn tồn tại nhiều hạn chế, nơi mà thông tin
chưa được phản ánh một cách chính xác, kịp thời, nên giá chứng khoán vẫn chưa
phản ánh đầy đủ mọi thông tin.
Vậy liệu rằng: Chính sách tiền tệ có thực sự tác động thị trường chứng khoán
Việt Nam? Và sự tác động của các chính sách này đến thị trường chứng khoán Việt
Nam như thế nào?
Bài nghiên cứu sẽ gồm các phần sau: chương đầu tiên, chúng tôi sẽ tổng hợp
lại các kết quả nghiên cứu đáng chú ý trước đây trên thị trường chứng khoán các
nước. Và thấy rằng chính sách tiền tệ có bốn kênh truyền dẫn chính tác động đến thị
Trang 3



Trang 4
Chương 1
TỔNG HỢP CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

1. Mối quan hệ giữa lãi suất và thị trường chứng khoán
Mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán và lãi suất đã xuất hiện trong bài viết
của nhiều nhà kinh tế vì vai trò quan trọng của chúng trong nền kinh tế hiện tại.
Md. Mahmudul Alam và Md. Gazi Salah Uddin (2009) đã thực hiện nghiên cứu
(dựa trên số liệu hàng tháng từ 01/1988 đến 03/2003 của các nước phát triển và
đang phát triển) về tác động của lãi suất lên giá chứng khoán ở các thị trường
Australia, Bangladesh, Canada, Chile, Colombia, Đức, Italy, Jamaica, Nhật Bản,
Malaysia, Mexico, Philippine, Nam Phi, Tây Ban Nha và Venezuela. Bài viết này
tập trung vào hai vấn đề: lãi suất và giá cổ phiếu có mối quan hệ như thế nào, và cụ
thể hơn là sự thay đổi trong lãi suất sẽ làm giá cổ phiếu thay đổi ra sao. Và kết quả
thu được là: Ở hầu hết các thị trường đều tồn tại một mối quan hệ rõ ràng giữa lãi
suất và giá chứng khoán; và sự thay đổi trong lãi suất thường kéo theo giá cổ phiếu
thay đổi theo hướng ngược lại. Họ cho rằng: “nếu lãi suất được quản lý một cách
chặt chẽ, thì tạo ra một nguồn lợi rất lớn cho thị trường chứng khoán bằng cách thu
hút nhiều hơn sự tham gia của nhà đầu tư trên thị trường cổ phiếu, cũng như thúc
đẩy các công ty mở rộng đầu tư phát triển hơn”.
Ologunde cùng đồng nghiệp của mình (2006) cũng nghiên cứu mối quan hệ
giữa lãi suất và chứng khoán tại Nigeria. Họ dùng mô hình bình phương nhỏ nhất
(OLS) và thấy rằng lãi suất cho vay có ảnh hưởng mạnh mẽ tới chỉ số thị trường
chứng khoán. Điều này phù hợp với những kết luận của Husni Ali Khrawish và các
đồng nghiệp (2010) khi họ nghiên cứu dựa trên mô hình hồi quy phi tuyến trên số
liệu thị trường chứng khoán ASE (Amman Stock Exchange) từ năm 1999-2008.

trên thị trường chứng khoán Mỹ giai đoạn 1987-2005 cho những kết quả rất đáng
chú ý: những cổ phiếu có vốn hóa lớn có mối quan hệ chặt chẽ với tỷ giá, nhưng đối
với các cổ phiếu có vốn hóa nhỏ thì không. Giá chứng khoán và tỷ giá đều chịu tác
động của cùng các biến kinh tế vĩ mô, và sự thay đổi trong chính sách tiền tệ của
FED tác động rất lớn đến bản chất của mối quan hệ này. Nói cách khác, mối quan
hệ giữa tỷ giá và giá chứng khoán thay đổi theo thời gian.
Trang 6
Tsoukalas (2003) tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa giá chứng khoán và
các yếu tố kinh tế vĩ mô tại Cộng Hòa Síp. Kết quả cho thấy một mối quan hệ mạnh
mẽ giữa giá chứng khoán và tỷ giá. Lý do là nền kinh tế nước này phụ thuộc lớn vào
ngành du lịch, và các ngân hàng nước ngoài.
Doong và các đồng nghiệp (2005) sử dụng những bằng chứng trong giai
đoạn 1989-2003 tại sáu nước châu Á (Indonesia, Malaysia, Philippines, Hàn quốc,
Thái Lan, và Đài Loan) nhằm chứng minh quan hệ giữa chứng khoán và tỷ giá. Kết
quả là mối quan hệ giữa hai biến kinh tế này không giống nhau ở các nước khác
nhau. Phương pháp kiểm tra Granger chỉ cho thấy mối quan hệ hai chiều giữa hai
biến tại các nước Indonesia, Hàn quốc, Malaysia, và Thái Lan. Mặt khác, cũng xuất
hiện mối quan hệ phủ định giữa những thay đổi trong giá chứng khoán và thay đổi
tương ứng trong tỷ giá ở tất cả các nước, ngoại trừ Thái Lan.
Oguzhan Aydemir và Erdal Demirhan (2009) đã chỉ ra tác động của tỷ giá
lên giá chứng khoán tại Thổ Nhĩ Kỳ dựa trên phân tích dữ liệu từ 23/02/2001 đến
11/01/2008. Hai ông thấy rằng có một mối quan hệ tương tác một chiều của tỷ giá
lên các giá chứng khoán khác nhau. Cụ thể, đối với các chỉ số chứng khoán các
ngành dịch vụ, tài chính, công nghiệp thì có tương tác phủ định với tỷ giá, ngược lại
cổ phiếu ngành công nghệ thì thay đổi cùng chiều với tỷ giá.
3. Mối quan hệ của cung tiền và thị trường chứng khoán
Trong điều kiện nền kinh tế hiện đại cùng với sự phát triển không ngừng của

một cách chính xác. Pearce and Roley (1985) đã kiểm tra những tác động của những
chính sách cung tiền lên giá chứng khoán và đã tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa
sự gia tăng một cách đột ngột của cung tiền và giá chứng khoán.
Sellin (2001), một cú sốc cung tiền tích cực sẽ dẫn đến một sự gia tăng trong
giá cổ phiếu. Họ cho rằng một sự thay đổi trong cung tiền sẽ cung cấp thông tin cho
nhu cầu về tiền. Nếu cung tiền tăng, có nghĩa là nhu cầu về tiền tệ tăng, dẫn đến tín
hiệu tăng cho hoạt động kinh tế. Hoạt động kinh tế càng cao có nghĩa là dòng tiền
càng cao, dẫn đến giá chứng chứng khoán cũng tăng.
Bernanke and Kuttner (2005) đã lập luận rằng giá chứng khoán là một hàm
số của giá trị tiền tệ và rủi ro nhận được từ nắm việc giữ chứng khoán. Một chứng
khoán hấp dẫn nếu giá trị tiền tệ của nó cao. Mặc khác, một chứng khoán kém hấp
dẫn nếu rủi ro nhận được cao. Họ cho rằng cung tiền tác động đến giá chứng khoán
thông qua tác động của nó lên giá trị tiền tệ và rủi ro nhận được. Cung tiền tác động
đến giá trị tiền tệ thông qua việc tác động lên lãi suất. Họ tin rằng sự siết chặt cung
Trang 8
tiền làm tăng lãi suất thực. Và một sự gia tăng trong lãi suất sẽ làm giảm giá trị cổ
phiếu. Bên cạnh đó, việc siết chặt cung tiền sẽ làm tăng phí rủi ro, làm cho các hoạt
động kinh tế đi xuống, sẽ làm giảm năng lực tạo ra lợi nhuận. Nhà đầu tư sẽ gia tăng
rủi ro nhiều hơn nữa trong hoàn cảnh này và nhu cầu phí rủi ro sẽ tăng lên. Phí rủi
ro cao làm cho chứng khoán kém hấp dẫn, từ đó là giá chứng khoán sẽ thấp hơn.
Biniv Maskay (2007) cũng đã thực hiện nghiên cứu của mình về “Analyzing
the Effect of Change in Money Supply on Stock Prices”. Ông cũng nghiên về việc
“Có hay không có tồn tại mối quan hệ giữa cung tiền và giá chứng khoán?”. Ông sử
dụng một mô hình hồi quy hai giai đoạn với khá nhiều biến như là cung tiền (M2),
chỉ số S&P 500, tỷ lệ thất nghiệp. Và ông đã đi đến kết luận rằng cú sốc cung tiền
tích cực sẽ làm tăng giá chứng khoán và ngược lại.
4. Tác động của CSTT thông qua kênh tín dụng:

ít hơn so với các doanh nghiệp lớn do họ không có sự linh hoạt chủ động trong việc
thay thế nguồn vốn vay.

Trang 10
Chương 2
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2011

Trong giai đoạn trước đến năm 2007, chính phủ đã thực hiện một chính sách
tiền tệ mở rộng quá mức, khiến cung tiền trong lưu thông tăng vọt. Bên cạnh đó,
hiệu quả đầu tư thấp, một phần lớn nguồn vốn đầu tư được chuyển sang đầu tư các
lĩnh vực phi sản xuất và tiêu dùng. Kết quả là lạm phát trong giai đoạn này tăng rất

Jul
2007
Aug
2007
Sep
2007
Oct
2007
Nov
2007
Dec
0
200
400
600
800
1000
1200
Vn-Index CPI
Trang 11
Nhưng năm 2008 lại là một năm đầy bi kịch đối với nền kinh tế Việt Nam
nói riêng và thế giới nói chung khi phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế lớn
nhất từ sau cuộc Đại suy thoái 1929-1933.
Hình 2.2: Đồ thị lãi suất cơ bản và chỉ số CPI của Việt Nam năm 2008
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Lạm phát trong nước tăng cao từ cuối năm 2007 và tiếp tục kéo dài sang nửa
đầu năm 2008 dưới tác động của việc tăng giá dầu và các nguyên vật liệu sản xuất

Jan
2008
Feb
2008
Mar
2008
Apr
2008
May
2008
Jun
2008
Jul
2008
Aug
2008
Sep
2008
Oct
2008
Nov
2008
Dec
Ls cơ bản
Cpi
Trang 12
Trước những bất ổn về kinh tế, TTCK Việt Nam trở nên kém hấp dẫn, và dần

2008
Jan
2008
Feb
2008
Mar
2008
Apr
2008
May
2008
Jun
2008
Jul
2008
Aug
2008
Sep
2008
Oct
2008
Nov
2008
Dec
Trang 13
số các chính sách kích thích nền kinh tế thì chính sách có tác động lớn nhất là cơ
chế hỗ trợ lãi suất 4%/năm. Ngoài ra cũng phải kể đến một chính sách đáng chú ý

Feb
2009
Mar
2009
Apr
2009
May
2009
Jun
2009
Jul
2009
Aug
2009
Sep
2009
Oct
2009
Nov
2009
Dec
Trang 14
Nhờ hiệu quả của gói kích cầu, TTCK kéo dài sự phục hồi do tiếp nhận kết
quả kinh doanh tốt của doanh nghiệp và tạo đỉnh vào tháng 10 và giảm trong 2
tháng tiếp theo khi nhà đầu tư bắt đầu nhìn nhận lại nền kinh tế khi gói kích cầu kết
thúc cùng với sự lưỡng lự của chính sách gói kích cầu thứ hai.
Song bước sang những tháng đầu năm 2010, nền kinh tế bắt đầu có những

18.8
19
19.2
2010
Jan
2010
Feb
2010
Mar
2010
Apr
2010
May
2010
Jun
2010
Jul
2010
Aug
2010
Sep
2010
Oct
2010
Nov
2010
Dec
Tỷ giá
CPI
Trang 15

400
500
600
2010
Jan
2010
Feb
2010
Mar
2010
Apr
2010
May
2010
Jun
2010
Jul
2010
Aug
2010
Sep
2010
Oct
2010
Nov
2010
Dec
Trang 16
Trang 17
năm 2010 (6,16%). Chính phủ cũng khẳng định tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ
thắt chặt.
Hình 2.7: Đồ thị chỉ số Vn-Index và chỉ số lạm phát Việt Nam năm 2011
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Thị trường chứng khoán ngay từ đầu năm 2011 đã chịu ảnh hưởng bởi những
bất ổn của kinh tế vĩ mô. Đồng thời nó cũng chịu những tác động trực tiếp của chính
sách tiền tệ thắt chặt, đặt biệt là chủ trương cắt giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng phi sản
xuất trên tổng dư nợ của ngành ngân hàng xuống 22% vào tháng 6 và 16% vào
tháng 12. Tính đến tháng 07/2011, chỉ số Vn-Index đã giảm 15,54% và chỉ số
HNX-Index giảm 38,52%. Xu hướng suy giảm chiếm ưu thế trong năm 2011 mặc
dù đã chứng kiến một đợt hồi phục của thị trường từ 25/05 đến ngày 15/06. Sau giai
đoạn phục hồi này thị trường tiếp tục đi xuống và đạt thấp nhất vào tháng
08/2011(382,9).
Một thống kê trên hai sàn niêm yết tại thời điểm đầu tháng 12/2011 cho thấy,
có tới 401 cổ phiếu niêm yết đang giao dịch dưới mệnh giá, chiếm 57,3% tổng số
chứng khoán niêm yết. Bên cạnh đó, vào cuối tháng 12/2011, chỉ số HNX-Index đã
rơi xuống mức 58,74 điểm, đây là mức thấp nhất tính từ lúc thị trường chứng khoán
được thành lập từ năm 2000 đến năm 2011. Vốn huy động qua phát hành thêm cổ
phiếu, đấu giá cổ phần hóa đạt 17,5 nghìn tỷ đồng, tương đương 22% so với năm
2010, riêng vốn huy động qua trái phiếu Chính phủ và Chính phủ bảo lãnh đạt 73,7
0
5
10
15
20
25

Dec
2012
Jan
Vn-Index CPI
Trang 18
nghìn tỷ đồng, gấp 2,6 lần so với năm 2010. Có tới 65 công ty chứng khoán thua lỗ
và 71 công ty chứng khoán có lỗ lũy kế.
Chương 3
THẢO LUẬN VỀ CÁC KÊNH TRUYỀN DẪN CỦA CSTT
TỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1. Tác động của cung tiền lên thị trường chứng khoán
Nhìn vào đồ thị trên, ta nhận thấy: chỉ số VN-Index và biến tăng trưởng cung
tiền dường như biến động cùng chiều với nhau. Theo Anna J. Schwartz cho rằng
cung tiền rất quan trọng đối với nền kinh tế vì tiền được sử dụng trong hầu hết mọi
giao dịch. Một sự gia tăng cung tiền sẽ khích lệ đầu tư thông qua việc người tiêu
dùng có được nhiều tiền hơn, họ cảm thấy giàu có và sẽ gia tăng chi tiêu nhiều hơn.
Và để gia tăng doanh thu đồng thời đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, các doanh
nghiệp sẽ mở rộng sản xuất, mua thêm nguyên vật liệu, cải thiện dây chuyền sản
xuất, từ đó dẫn đến nhu cầu về lao động và hàng hóa đầu vào. Trong điều kiện nền
kinh tế sôi động như trên, thị trường chứng khoán sẽ có những ảnh hưởng tích cực,
giá chứng khoán cũng sẽ tăng. Điều này có thể lý giải là do cung tiền tăng cao dẫn
đến giá hàng hóa gia tăng, và đặc biệt, nếu sản lượng đạt mức tiềm năng, sẽ dẫn đến
lạm phát. Khi xảy ra lạm phát cao, người cho vay, hay nhà đầu tư sẽ yêu cầu nhận

khi gửi ngân hàng, còn hơn là phải đối mặt với tình trạng rủi ro cao khi giao dịch
chứng khoán. Điều này là giảm sút các hoạt động mua bán, cũng như giá cả các
chứng khoản trên thị trường.
Thứ hai, lãi suất được xem như là chi phí sử dụng vốn trên thị trường tín
dụng. Doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư khi muốn mở rộng sản xuất kinh doanh,
họ phải đi huy động vốn. Khi lãi suất tăng cao nghĩa là họ phải thu hẹp lại các dự án
đầu tư của mình, hoặc làm việc cận lực hơn để đáp ứng chi phí vay vốn. Và không
phải ai cũng làm được điều đó. Kết quả thường là, lãi suất cao sẽ làm giảm lợi
nhuận doanh nghiệp. Hơn nữa, khi lãi suất tăng cao sẽ làm trầm trọng hơn vấn đề
nợ phải trả của doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính cao. Nó có thể làm ảnh
Trang 20
hưởng đến sự tồn tại của các doanh nghiệp này. Và những nhà đầu tư, khi nhận thấy
điều này sẽ làm gia tăng rủi ro đối với khoản tiền của mình nên họ thường đòi hỏi
chi phí rủi ro cao hơn. Cuối cùng là sự sụt giảm giá cổ phiếu là điều khó tránh khỏi
trong tương lai.
Thứ ba, tình trạng lãi suất tăng cao thường đi kèm với sự đi xuống của nền
kinh tế. Nghĩa là thu nhập của người dân cũng giảm theo. Nó sẽ cản trở mọi người
gia tăng tiêu dùng, đặc biệt là mua sắm các mặt hàng lâu bền như ô-tô, nhà ở… Dẫn
tới doanh thu, lợi nhuận doanh nghiệp giảm. Mặt khác, nõ cũng không khuyến
khích các nhà đầu tư cá nhân tham gia vào thị trường chứng khoán nữa. Việc này lại
càng làm xấu đi bức tranh thị trường chứng khoán.
Thứ tư, một lãi suất cao có thể xuất phát từ chính sách tiền tệ của NHTW
đang chống lại lạm phát. Khi nền kinh tế lâm vào tình trạng lạm phát cao, đồng nội
tệ bị mất giá sẽ khuyến khích các nhà đầu tư chuyển sang mua vàng hoặc ngoại tệ.
Dòng vốn chảy vào chứng khoán bị thu hẹp nên giá các chứng khoán giảm là điều
khó tránh khỏi.
Còn trong trường hợp ngược lại, nếu NHTW đang nới lỏng chính sách tiền tệ

ra sao trước các thay đổi của tỷ giá… (Ma and Kao, 1990). Tỷ giá không chỉ có thể
gây ra ảnh hưởng lên các công ty hoạt động trong nước, mà còn tác động đến các
công ty đa quốc gia. Đối với công ty đa quốc gia, thay đổi tỷ giá dẫn đến những
biến động trong doanh thu từ các hoạt động đầu tư nước ngoài khi chuyển sang
đồng nội tệ, và sau đó là ảnh hưởng tới lợi nhuận hợp nhất. Bên cạnh đó, công ty đa
quốc gia có thể đối đầu với việc gia tăng chi phí đi vay trong trường hợp đồng nội tệ
giảm giá so với các đồng tiền khác.
Đối với công ty phụ thuộc vào xuất khẩu hàng hóa, thì việc đồng nội tệ tăng
giá là một tin xấu. Bởi vì nó thường đưa đến kết quả là lợi nhuận công ty bị giảm
sút. Để đối phó với tình trạng này, các công ty có các chiến lược khác nhau, ví dụ
như chiến lược về giá. Nhưng chiến lược này chỉ làm giảm nhẹ chứ không làm mất
đi tác động tiêu cực của việc tăng giá đồng nội tệ.
Công ty có thể giữ nguyên giá hàng hóa tính theo đồng nội tệ, nhưng điều
này sẽ làm giảm sức cạnh trạnh của mặt hàng đó trên thị trường nước ngoài, dẫn
đến khối lượng hàng xuất khẩu giảm, và lợi nhuận công ty giảm. Mặt khác, một
công ty có thể chọn chiến lược giữ nguyên giá tính theo đồng ngoại tệ. Trường hợp
này, cả khối lượng xuất khẩu và lợi nhuận tính theo đồng ngoại tệ đều không đổi.
Trang 22
Nhưng khi phần lợi nhuận này được chuyển đổi thì công ty sẽ có ít nội tệ hơn, do
ảnh hưởng của việc chuyển đổi tiền tệ.

4. Kênh tín dụng
Kênh cho vay tín dụng dựa trên quan điểm ngân hàng đóng vai trò đặc biệt
trong hệ thống tài chính bởi vì các ngân hàng có đủ các điều kiện tốt để giải quyết
các vấn đề thông tin không cân xứng trong thị trường tín dụng. Kênh truyền dẫn tiền
tệ qua cho vay ngân hàng hoạt động như sau: Chính sách tiền tệ nới lỏng làm cho
ngân hàng có nhiều tiền để cho vay hơn, họ bắt đầu giảm lãi suất các khoản cho vay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status