tác động của cuộc khủng hoảng 2008 tới thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA TC-NH & QTKD

BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
GVHD :
LỚP :
NHÓM :
Đề tài: TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG 2008
ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Quy Nhơn, 3-2014
Đề tài 1 Tài chính quốc tế
I. Khái quát
Cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008 bao gồm sự đổ vỡ hàng loạt hệ
thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất
giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới, có nguồn gốc từ khủng hoảng
tài chính ở Hoa Kỳ. Cuộc khủng hoảng này đã lan rộng ra nhiều nước trên thế
giới, dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng
kinh tế. Và hiệu ứng Domino sau đó đã đánh một đòn nặng nề vào thị trường tài
chính của các quốc gia khác gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc được biểu hiện rõ nét
ở thị trường tài chính thế giới nói chung và cả châu Á nói riêng trong đó có Việt
Nam. Nền kinh tế Việt Nam sau khi gia nhập WTO đã có sự phát triển đáng kể.
Trong sự phát triển đó phải kể đến thị trường tài chính mà đặc biệt là thị trường
chứng khoán (TTCK) đã đóng góp không nhỏ đến sự phát triển chung của nền
kinh tế và cuộc khủng hoảng toàn cầu đã tác động đến cục diện thị trường chứng
khoán khiến cho tâm lý các nhà đầu tư hoang mang, lo lắng và làm tăng lên sự
bất ổn của thị trường này. Để thấy được điều này chúng ta sẽ làm rõ hơn những
tác động của cuộc khủng hoảng đến thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua
số liệu năm 2008.
GVHD: 2
Đề tài 1 Tài chính quốc tế

triệu CP/phiên, so sánh với mức trung bình 11.3 triệu CP/phiên vào thời điểm thị
trường nóng trong tháng 11/2007. Điều này cho thấy tính thanh khoản của thị
trường đã gần như đóng băng. Hiện tượng dư bán sàn ở hầu hết các mã chứng
khoán đã khiến các nhà đầu tư e ngại với kênh huy động vốn hiệu quả này.
3. Tác động đến các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng việt nam
Do tác động của khủng hoảng tài chính, các doanh nghiệp đang niêm
yết trên thị trường chứng khoán sẽ không tránh khỏi tác động xấu, đặc biệt
là doanh nghiệp xuất khẩu, theo đó giá cổ phiếu có thể sụt giảm.
Đầu năm 2008, để đối mặt với tình trạng lạm phát cao trong nước Chính
phủ ta quyết định thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ. Kết quả là chúng ta đã
thành công trong việc phá vỡ bong bóng của thị trường bất động sản và làm giảm
GVHD: 4
Đề tài 1 Tài chính quốc tế
tỷ lệ lạm phát. Tuy nhiên, chính sách này cũng đồng thời làm giảm tính thanh
khoản và làm các hoạt động kinh tế chậm lại. Khủng hoảng làm sức mua trên thị
trường giảm sút nghiêm trọng ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận của các DN
niêm yết làm cho giá cổ phiếu của các DN này vốn đang sụt giảm lại khó có khả
năng phục hồi. Tình trạng khó khăn thanh khoản của các ngân hàng từ cuối năm
2007 đã buộc các ngân hàng thương mại chạy đua lãi suất huy động và làm giảm
lãi tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng cũng như khan hiếm tín dụng cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Mặt khác, Chính phủ còn quy định trần lãi suất cho vay bằng 150% lãi suất
cơ bản. Quy định này đã khiến cho tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng bị thu hẹp
giữa mức trần và lãi suất tiền gửi cộng thêm với chi phí giao dịch và quản lý thì
các ngân hàng hoàn toàn không có lãi. Những khó khăn của các ngân hàng cũng
làm cho các doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể
tiếp cận với nguồn vốn để đầu tư cho sản xuất. Khủng hoảng tài chính với sức lan
tỏa mạnh đã nhanh chóng tác động đến các quốc gia vốn là thị trường xuất khẩu
hàng hóa của nhiều doanh nghiệp niêm yết như Mỹ, EU, Nhật, Hàn Quốc,… Thị
trường co lại, những đơn hàng chật vật kiếm được cũng chỉ đủ để DN hòa vốn.

ứng từ việc bán ra của nhà đầu tư nước ngoài thể hiện rõ nét hơn trên thị trường
ngoại tệ. Từ quý 2/2008 đồng USD đã bắt đầu tăng giá do thâm hụt thương mại
quá cao, đến hết tháng 6/2008 đã khoảng 15 tỷ USD. Sau khi Lehman (một tập
đoàn chứng khoán và tập đoàn ngân hàng đầu tư lớn thứ 4 của Hoa Kỳ) sụp đổ,
đồng USD trên thế giới lại tăng cao do thanh khoản tiền mặt bị đóng băng.
GVHD: 6
Đề tài 1 Tài chính quốc tế
5. Ảnh hưởng tới tín dụng của các tổ chức tín dụng
Vốn tín dụng thương mại sẽ khó khăn hơn vì rất nhiều ngân hàng trong
nước vay tiền của ngân hàng nước ngoài, khi ngân hàng nước ngoài khó khăn thì
tín dụng trong nước sẽ bị thu hẹp.
+ Tín dụng tăng trưởng chậm, một mặt do các NHTM thận trọng trong cho
vay vì thị trường biến động mạnh. Mặt khác chính các doanh nghiệp đã và đang
hạn chế mở rộng sản xuất kinh doanh do khó khăn thị trường, do khó khăn trong
hoạt động tiêu thụ và ký kết hợp đồng. Trong năm 2008 tín dụng trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh tăng 23,5%. Trong khi đó tỷ lệ này năm 2007 là 64,4%;
năm 2006 là 31%. Tốc độ tăng trưởng 23,5 % của tín dụng ngân hàng, chủ yếu là
do tăng trưởng cao trong các tháng đầu năm 2008. Trong các tháng cuối năm, tốc
độ tăng trưởng tín dụng đã chậm lại và giảm so với các tháng đầu năm. Lãi suất
cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng cũng giảm nhanh trong những tháng cuối
năm, từ 23 - 24%/năm xuống dưới 12,75%/năm.
+ Chất lượng tín dụng bị ảnh hưởng: Diễn biến này gắn liền với nguyên
nhân khách quan từ quá trình luân chuyển vốn chậm của nền kinh tế, của doanh
nghiệp (do sản xuất kinh doanh tăng trưởng chậm, do hàng hoá khó tiêu thụ )
dẫn đến khả năng thanh toán bị hạn chế, một số doanh nghiệp ứ đọng hàng hoá
(đặc biệt là các doanh nghiệp ngành nhựa; doanh nghiệp kinh doanh sắt thép và
lương thực, ), do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản tín dụng có liên quan.
+ Bên cạnh đó tín dụng bất động sản luân chuyển chậm. Nguyên nhân chính
của tình hình này do thị trường bất động sản vẫn chưa khởi sắc: giá bất động sản
giảm và khó bán là 2 yếu tố tác động trực tiếp người vay, đến các khoản nợ cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status