Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một bộ phận quan trọng của thị trường tài
chính, đóng vai trò huy động vốn, điều hòa các nguồn vốn trong xã hội nhằm huy động
tối đa phục vụ cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Trong 10 năm hoạt động,
TTCK Việt Nam đã tạo đà cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, huy động được
400.000 tỷ đồng, khai thác được nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư vào Việt
Nam.
Thế nhưng, cho đến thời điểm hiện tại, các cách thức quản lý có lẽ chưa phát triển
tương xứng với tốc độ phát triển của TTCK Việt Nam. Điều này càng thể hiện rõ ràng
hơn khi nền kinh tế chững lại, thị trường chứng khoán đi xuống, niềm tin nhà đầu tư đổ
vỡ Đặc biệt trong bối cảnh tín dụng bị thắt chặt, nhu cầu vốn của các doanh nghiệp
phục vụ cho duy trì sản xuất đang cực kỳ khó khăn. Các công ty chứng khoán, các nhà
đầu tư cá nhân hay tổ chức đều chưa có được sự hỗ trợ của các chính sách nhà nước, điển
hình nhất là chính sách thuế, một trong những yếu tố có tác động và ảnh hưởng mạnh đến
sự phát triển của thị trường.
Chính vì vậy, nhóm 4 xin chọn đề tài: “ Phân tích tác động của chính sách thuế
đối với Thị trường chứng khoán Việt Nam” nhằm phân tích sự tác động của thuế đối và
đưa ra biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển ổn định của TTCK Việt Nam.
Cấu trúc bài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về thuế và thị trường chứng khoán
Chương 2: Tác động của chính sách thuế đối với TTCK VN
Chương 3: Một số kiến nghị về thuế nhằm thúc đẩy sự phát triển của TTCK VN
Trong quá trình nghiên cứu không thề tránh khỏi những thiếu sót vì nguốn tài liệu
tìm kiếm còn hạn chế và kỹ năng phân tích còn non nớt, rất mong sự góp ý của Giáo viên
hướng dẫn và các bạn đọc để bài hoàn thiện hơn.
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng Trang 1
Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. Khái quát về thị trường chứng khoán
- Thị trường tương lai
o Phân loại theo hàng hóa trên thị trường:
- Thị trường cổ phiếu.
- Thị trường trái phiếu
- Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền,
hợp đồng quyền chọn…
1.1.2. Các loại hàng hóa của thị trường chứng khoán .
- Cổ phiếu
- Trái phiếu
- Các công cụ chứng khoán phái sinh
1.1.3. Các chủ thề tham gia vào thị trường chứng khoán:
1.1.3.1. Nhà phát hành:
- Là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK, cung cấp hàng hóa cho
TTCK.
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu chính phủ và trái
phiếu địa phương.
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng
chỉ thụ hưởng… phục vụ cho hoạt động của họ.
1.1.3.2. Nhà đầu tư:
Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại:
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng Trang 3
Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
- Nhà đầu tư cá nhân: là người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên TTCK
với mục đích kiếm lời.
- Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán CK với số lượng
lớn trên thị trường.
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng Trang 4
Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
1.1.3.3. Các tổ chức có liên quan đến TTCK:
thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000
- Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội đã chính thức chào đời vào
ngày 8/3/2005. Khác với TTGDCK TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giao dịch chứng
khoán của các công ty lớn), TTGDCK Hà Nội sẽ là “sân chơi” cho các DN nhỏ và vừa
(với vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷ đồng).
1.1.4.2. Sự phát triển của TTCK Việt Nam:
Nhìn chung, có thể tóm tắt sự phát triển của TTCK Việt Nam qua năm giai đoạn như sau:
Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững biết đi của thị trường chứng khoán.
Giai đoạn 2006: Sự phát triển đột phá của TTCK Việt Nam
Giai đoạn 2007: Giai đoạn TTCK bùng nổ
Giai đoạn 2008: Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, TTCK Việt Nam khép lại
năm 2008 với sự sụt giảm mạnh.
Giai đoạn 2009 đến nay: TTCK Việt Nam là thị trường tăng trưởng tệ trong khu vực
Châu Á.
1.1.4.3. Thực trạng hoạt động của TTCKVN
Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) chính thức đi vào hoạt động vào năm
2000 với việc vận hành sàn giao dịch chứng khoán (SGDCK) TP.HCM vào ngày
20/7/2000 và SGDCK Hà Nội vào ngày 8/3/2005 (trước đó các SGDCK hoạt động với
mô hình là các Trung tâm Giao dịch chứng khoán và tổ chức dưới hình thức đơn vị sự
nghiệp có thu thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước). Đến nay, sau gần 10 năm đi vào
hoạt động và phát triển dựa trên các mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển TTCKVN
đến năm 2010 và Chiến lược phát triển thị trường vốn đến 2010 và tầm nhìn 2020, hoạt
động của TTCK đã đạt được một số kết quả sau:
Về cơ sở pháp lý, thể chế chính sách cho hoạt động cho TTCK VN
Kể từ khi Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01/01/2007, đã tạo lập được khuôn khổ pháp lý cao, đồng bộ và thống
nhất cho hoạt động của TTCK, từng bước loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột với các văn
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng Trang 6
Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
bản pháp luật khác có liên quan (về cơ bản thống nhất với Luật Doanh nghiệp và Luật
khoản nhà đầu tư tham gia khi mới mở cửa thị trường vào năm 2000, tính đến nay đã có
trên 90.000 tài khoản giao dịch, trong đó số nhà đầu tư tổ chức trong nước là 2.662, số
nhà đầu tư cá nhân trong nước là 807.558, số nhà đầu tư nước ngoài là hơn 13.000 nhà
đầu tư.
• Về hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán
Hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán phát triển nhanh về quy mô và
năng lực nghiệp vụ, với hệ thống mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch trải khắp các
tỉnh, thành phố lớn trong cả nước, góp phần giúp công chúng đầu tư tiếp cận dễ dàng hơn
với TTCK. Khi thị trường bắt đầu đi vào hoạt động, toàn thị trường mới chỉ có 7 công ty
chứng khoán và cho đến tận năm 2004 vẫn chưa có một công ty quản lý quỹ nào. Sau 10
năm hoạt động, tính đến thời điểm hiện tại, đã có 105 công ty chứng khoán và 46 công ty
quản lý quỹ đang hoạt động tại Việt Nam. Số thành viên lưu ký của Trung tâm Lưu ký
Chứng khoán (TTLKCK) là 122 thành viên, trong đó, có 8 ngân hàng lưu ký và 12 tổ
chức mở tài khoản trực tiếp.
1.2. Khái quát về thuế và sự tác động của thuế đối với chứng khoán
1.2.1. Khái niệm về thuế
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về thuế tùy theo cách thức tiếp cận nghiên
cứu trên các giác độ khác nhau như giác độ kinh tế học, giác độ phân phối thu nhập, giác
độ người nộp thuế…nhưng đều đề cập đến các nội dung cơ bản như : nguồn lực chuyển
giao , quyền lực Nhà nước và chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước….Một trong các khái
niệm về thuế được thừa nhận chung là:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo
mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp,
nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội.
1. 2.2. Vai trò của thuế :
1.2.2.1. Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước
Thuế là phương tiện để Nhà nước tập trung một phần tổng sản phẩm quốc nội ( GDP)
vào Ngân sách Nhà nước, thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm GDP được động viên vào NSNN.
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng Trang 8
Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
doanh) dưới đây có thu nhập chịu thuế TNDN là đối tượng nộp thuế TNDN.
Đối với thị trường chứng khoán thì thuế thu nhập doanh nghiệp thì đối tượng nộp thuế
là các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, các công ty chứng khoán, các
công ty quản lý quỹ…
Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp:
Thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định bằng thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế
nhân với (x) thuế suất.
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế được xác định theo công thức sau:
Thu nhập
chịu thuế
trong kỳ tính
thuế
=
Doanh thu để tính
thu nhập chịu thuế
trong kỳ tính thuế
-
Chi phí
hợp lý
trong kỳ
tính thuế
+
Thu nhập
chịu thuế
khác
• Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế: đối với hoạt động kinh
doanh chứng khoán “là các khoản thu từ dịch vụ môi giới, tự doanh chứng khoán,
bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn tài chính và
đầu tư chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư, phát hành chứng chỉ quỹ, dịch vụ tổ chức
.
Căn cứ tính thuế
Thu nhập tính thuế:
a) Thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng vốn được xác định:
Thu nhập
tính thuế =
Giá
chuyển nhượng -
Giá mua
của phần vốn
chuyển nhượng
-
Chi phí
chuyển nhượng
Trong đó:
- Giá chuyển nhượng được xác định là tổng giá trị thực tế mà bên chuyển nhượng
thu được theo hợp đồng chuyển nhượng.
Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng vốn quy định việc thanh toán theo hình thức trả
góp, trả chậm thì doanh thu của hợp đồng chuyển nhượng không bao gồm lãi trả góp, lãi
trả chậm theo thời hạn quy định trong hợp đồng.
Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng không quy định giá thanh toán hoặc cơ quan thuế
có cơ sở để xác định giá thanh toán không phù hợp theo giá thị trường, cơ quan thuế có
quyền kiểm tra và ấn định giá chuyển nhượng. Căn cứ ấn định giá chuyển nhượng dựa
vào tài liệu điều tra của cơ quan thuế hoặc căn cứ giá chuyển nhượng vốn của các trường
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng Trang 11
Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
hợp khác ở cùng thời gian, cùng tổ chức kinh tế hoặc các hợp đồng chuyển nhượng tương
tự.
- Giá mua của phần vốn chuyển nhượng được xác định đối với từng trường hợp như sau:
+ Nếu là chuyển nhượng vốn góp thành lập doanh nghiệp là giá trị phần vốn tại thời điểm
bằng giá bán chứng khoán trừ (-) giá mua của chứng khoán chuyển nhượng, trừ (-) các
chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng.
- Giá bán chứng khoán được xác định như sau:
+ Đối với chứng khoán niêm yết và chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm
yết nhưng thực hiện đăng ký giao dịch tại trung tâm giao dịch chứng khoán thì giá bán
chứng khoán là giá thực tế bán chứng khoán (là giá khớp lệnh hoặc giá thoả thuận) theo
thông báo của Sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán.
+ Đối với chứng khoán của các công ty không thuộc các trường hợp nêu trên thì
giá bán chứng khoán là giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng.
- Giá mua của chứng khoán được xác định như sau:
+ Đối với chứng khoán niêm yết và chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm
yết nhưng thực hiện đăng ký giao dịch tại trung tâm giao dịch chứng khoán thì giá mua
chứng khoán là giá thực mua chứng khoán (là giá khớp lệnh hoặc giá thoả thuận) theo
thông báo của Sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán.
+ Đối với chứng khoán mua thông qua đấu giá thì giá mua chứng khoán là mức
giá ghi trên thông báo kết quả trúng đấu giá cổ phần của tổ chức thực hiện đấu giá cổ
phần và giấy nộp tiền.
+ Đối với chứng khoán không thuộc các trường hợp nêu trên: giá mua chứng
khoán là giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng.
- Chi phí chuyển nhượng là các khoản chi thực tế liên quan trực tiếp đến việc chuyển
nhượng, có chứng từ, hoá đơn hợp pháp.
Chi phí chuyển nhượng bao gồm: chi phí để làm các thủ tục pháp lý cần thiết cho
việc chuyển nhượng; Các khoản phí và lệ phí phải nộp khi làm thủ tục chuyển nhượng;
Phí lưu ký chứng khoán theo quy định của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước và chứng từ
của công ty chứng khoán; Phí ủy thác chứng khoán căn cứ vào chứng từ thu của đơn vị
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng Trang 13
Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
nhận ủy thác; Các chi phí giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng chuyển nhượng và các
chi phí khác có chứng từ chứng minh.
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp:
N. Phí niêm yết và đăng ký chứng khoán (đối với công ty phát hành chứng khoán
niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán
O. Chi nghiệp vụ kho quỹ;
P. Chi phí liên quan tới việc quản lý quỹ đầu tư, danh mục đầu tư; Q. Chi phí huy động
vốn cho quỹ đầu tư;
V. Trích dự phòng giảm giá chứng khoán tự doanh:
Đối tượng: là các chứng khoán có đủ các điều kiện sau:
- Là các loại chứng khoán được doanh nghiệp đầu tư theo đúng quy định của pháp luật.
- Được tự do mua bán trên thị trường mà tại thời điểm kiểm kê, lập báo cáo tài chính có
giá thị trường giảm so với giá đang hạch toán trên sổ kế toán.
+ Những chứng khoán không được phép mua bán tự do trên thị trường như các chứng
khoán bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của pháp luật; cổ phiếu quỹ thì không
được lập dự phòng giảm giá.
+ Các tổ chức đăng ký hoạt động kinh doanh chứng khoán như các công ty chứng khoán,
công ty quản lý quỹ được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật chứng khoán,
việc trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán thực hiện theo quy định riêng
3
.
Phương pháp lập dự phòng:
Mức trích tính trên cơ sở tổng hợp mức dự phòng từng loại chứng khoán bị giảm giá theo
công thức sau:
Mức dự phòng
giảm giá đầu tư
chứng khoán
=
Số lượng chứng
khoán bị giảm giá
tại thời điểm lập
báo cáo tài chính
x
1.2.3.2. Thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng là một loại thế gián thu, tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng
hoá dịch vụ phát sinh trong quá trính từ sản xuất lưu thông đến tiêu dùng.
Đối tượng chịu thuế
Hàng hoá, dịch vụ ( kể cả dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài) dùng
cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng là đối tượng nộp thuế.
Các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán thuộc diện không chịu
thuế giá
trị gia tăng
4
, bao gồm:
- Môi giới chứng khoán;
- Tự doanh chứng khoán;
- Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán;
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng Trang 16
Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
- Bảo lãnh và đại lý phát hành chứng khoán;
- Tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng khoán do công ty chứng khoán, công ty
quản lý quỹ cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán, tái cơ
cấu tài chính, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp và hỗ trợ doanh
nghiệp trong việc phát hành và niêm yết chứng khoán;
- Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán;
- Giám sát Quỹ đầu tư chứng khoán;
- Lưu ký chứng khoán;
- Đại diện người sở hữu trái phiếu;
- Các hoạt động đầu tư của Quỹ đầu tư chứng khoán.
1.2.3.3. Thuế thu nhập cá nhân
- Các khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân bao gồm: “Thu nhập từ chuyển nhượng
chứng khoán bao gồm thu nhập từ việc chuyển nhượng cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ
quỹ và các loại chứng khoán khác theo quy định của Luật Chứng khoán”
giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thì giá mua chứng khoán là giá thực tế
mua tại Trung tâm giao dịch chứng khoán.
- Đối với chứng khoán mua thông qua đấu giá thì giá mua là giá trúng đấu giá.
- Đối với chứng khoán không thuộc các trường hợp nêu trên: Giá mua chứng khoán là giá
ghi trên hợp đồng chuyển nhượng hoặc giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có chứng
khoán tại thời điểm mua.
Trường hợp giá mua trên hợp đồng ghi cao hơn giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có
chứng khoán tại thời điểm mua thì giá mua được xác định căn cứ giá theo sổ sách kế toán
của đơn vị có chứng khoán tại thời điểm mua.
c) Các chi phí hợp lệ được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế đối với chuyển nhượng
chứng khoán là các khoản chi phí thực tế phát sinh của hoạt động chuyển nhượng chứng
khoán có hoá đơn, chứng từ theo chế độ quy định bao gồm:
- Chi phí để làm các thủ tục pháp lý cần thiết cho việc chuyển nhượng;
- Các khoản phí và lệ phí người chuyển nhượng nộp ngân sách nhà nước khi làm thủ tục
chuyển nhượng;
- Phí lưu ký chứng khoán theo quy định của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và chứng từ
thu của công ty chứng khoán;
- Phí uỷ thác chứng khoán căn cứ vào chứng từ thu của đơn vị nhận uỷ thác;
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng Trang 18
Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
- Các khoản chi phí khác có chứng từ chứng minh.
♥ Thuế suất và cách tính thuế
a) Trường hợp cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đăng ký nộp thuế theo biểu thuế
toàn phần với thuế suất là 20%.
Cá nhân áp dụng thuế suất 20% đối với chuyển nhượng chứng khoán phải đáp ứng các
yêu cầu sau:
- Đăng ký phương pháp nộp thuế theo mẫu số 15/ĐK-TNCN với cơ quan thuế trực tiếp
quản lý công ty chứng khoán mà cá nhân đăng ký giao dịch hoặc Chi cục Thuế nơi cá
nhân cư trú. Thời hạn đăng ký được thực hiện như sau:
+ Năm 2009: cá nhân kinh doanh chứng khoán phải đăng ký ngay từ đầu năm, thời hạn
x
Thuế suất
0,1%
♥ Thời điểm xác định thu nhập tính thuế
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ hoạt động chuyển nhượng chứng khoán được
xác định như sau:
- Đối với chứng khoán niêm yết là thời điểm Trung tâm giao dịch hoặc Sở giao dịch
chứng khoán công bố giá thực hiện.
- Đối với chứng khoán chưa niêm yết nhưng đã thực hiện đăng ký giao dịch tại Trung
tâm giao dịch chứng khoán là thời điểm Trung tâm giao dịch công bố giá thực hiện.
- Đối với chứng khoán không thuộc trường hợp nêu trên là thời điểm hợp đồng chuyển
nhượng chứng khoán có hiệu lực. Trường hợp không có hợp đồng chuyển nhượng chứng
khoản thì thời điểm tính thuế là thời điểm đăng ký chuyển tên sở hữu chứng khoán.
1.3. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về sừ dụng công cụ thuế tác động
đến thị trường chứng khoán
1.3.1. Tình hình áp dụng thuế thu nhập cổ tức ở các nước trên thế giới
1.3.1.1. Tại Mỹ
Tại Mỹ thuế đánh vào thu nhập từ cổ tức được bắt đầu áp dụng vào năm 1895. Cho đến
nay vẫn có nhiều ý kiến về việc không nên áp dụng thuế cổ tức tại Mỹ. Năm 2003, Chính
phủ Mỹ - đứng đầu là Tổng thống George W. Bush cam kết sẽ loại bỏ thuế đánh vào thu
nhập của các nhà đầu tư cổ phiếu với luận điểm chính là sự đánh trùng hai loại thuế trên
cùng một cơ sở thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên, sau đó việc bãi bỏ thuế này cũng không
được thực hiện mà Quốc Hội Mỹ chỉ thông qua sắc lệnh giảm nhẹ thuế (Jobs and Growth
Tax Relief Reconciliation Act of 2003 - JGTRRA) sau nhiều tháng tranh luận. Mục tiêu
của sắc lệnh thuế này là nhằm tăng nhu cầu lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp và hướng tới
các mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Mức thuế suất khởi điểm là 10% được áp dụng cho hầu
hết các nhà đầu tư với cổ tức thông thường (ordinary dividend). Một số nhà đầu tư đáp
ứng đủ các điều kiện về thu nhập cổ tức tiêu chuẩn (qualified dividend) sẽ được áp dụng
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng Trang 20
Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
Bulgary 5%
Đài Loan
0% với NĐT trong nước
20% với NĐT nước ngoài
Đức
25%
Hàn Quốc 6 –35%
Hồng Kông 0%
Indonesia 15%
Italia 12,5%
Malaysia 0%
Pháp 5%
Philippines 10%
Singapore 0%
Thái Lan 10%
Trung Quốc 10%
Úc 0 –15%
Nhìn chung, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đánh thuế trên thu nhập từ cổ tức. Tuy
nhiên, trong những trường hợp kinh tế gặp khó khăn, các nước này đã có những chính
sách ưu đãi như giảm thuế, tín dụng thuế nhằm hỗ trợ các nhà đầu tư trên TTCK. Chỉ một
số ít các nước không áp dụng chính sách thuế cổ tức như Hồng Kông, Singapore,
Malaysia với quan điểm chủ đạo là chỉ đánh thuế một lần trên một khoản thu nhập.
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng Trang 22
Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
1.3.2. Thuế trên thặng dư vốn
Tại Anh, bất kì ai cư trú trên đất nước này mà thu được lợi nhuận từ việc mua bán cổ
phiếu thì đều là đối tượng phải nộp thuế thặng dư vốn. Thuế này bắt đầu được áp dụng tại
Anh vào năm 1965, và được tính toán theo năm tài chính (bắt đầu từ ngày 6 tháng 4 năm
này tới ngày 6 tháng 4 năm sau) dựa trên tổng thặng dư vốn sau khi đã tiến hành điều
chỉnh các yếu tố như :
trên thị trường, nhằm góp phần thực hiện điều tiết vĩ mô, đảm bảo sự cân đối giữa các
ngành nghề trong kinh tế.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, sự phân hoá thu nhập giữa các tầng lớp dân cư
ngày càng diễn ra mạnh mẽ, sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội là nguồn gốc của mọi
sự bất bình đẳng. Do đó nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý
nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư. Thuế là công cụ hữu
hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập của dân cư trên phạm vi toàn xã hội
bằng việc áp dụng các sắc thuế nhằm điều tiết bớt thu nhập của các thể nhân và pháp
nhân có thu nhập cao so với mức bình quân xã hội.
Khi thị trường chứng khoán đang suy thoái chính phủ có thể giảm thuế, miễn thuế
phải nộp đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động trên thị trường chứng khoán nhằm thức
đẩy sự phát triển trở lại của thị trường. Mặc khác khi thị trường chứng khoán phát triển
quá nóng thì nhà nước có thể tăng thuế nhằm ổn định thị trường và dẫn thị trường đi đúng
định hướng phát triển của nhà nước.
2.1.1. Tác động của thuế đối với các công ty chứng khoán, các tổ chức niêm yết trên
TTCK:
Luật thuế TNDN:
Giai đoạn từ ngày 01/01/2004 đến 01/01/2009
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng Trang 24
Phân tích tác động của thuế đối với TTCK VN Nhóm 4 - Đêm1 TCDN- K20
Tất cả các doanh nghiệp hoạt động trên TTCK đều áp dụng theo Luật thuế TNDN
số 09/2003/QH11 ngày 17 tháng 06 năm 2003. Thuế suất thuế TNDN áp dụng trong
trường hợp này là: 28%
Theo Thông tư 100/2004/TT-BTC ngày 20/10/2004 hướng dẫn về thuế GTGT và
thuế TNDN đối với lĩnh vực chứng khoán quy định về ưu đãi thuế suất và các trường hợp
miễn giảm thuế đối với các công ty chứng khoán và các quỹ đầu tư như sau:
Về ưu đãi thuế suất :
Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được áp dụng
mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 20% trong thời hạn 10 năm, kể từ khi khai
trương hoạt động kinh doanh. Hết thời hạn hưởng thuế suất 20%, công ty phải chuyển