Tác động của thuế đối với thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 23


TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 1. Lý do chọn đề tài

Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường mới hình thành và phát triển
nhưng đã chứng minh sự đóng góp tích cực của mình vào chung sự phát triển của
nền kinh tế Việt Nam. Đồng thới vừa qua Quốc hội Nhà nước Việt Nam đã thông
qua luật thuế thu nhập cá nhân và có hiệu lực vào ngày 01/01/2009 đã tác động
không nhỏ đến thị trường chứng khoán nói chung, nền kinh tế nói riêng.
Chính vì vậy tôi chọn đề tài này nhằm phân tích sự tác động của thuế đối với
chứng khoán và đưa ra biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển ổn định của thị
trường chứng khoán Việt Nam.

2. Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu chính của đề tài là phân tích sự tác động của thuế đối với chứng
khoán và đồng thời đưa ra các biện pháp nhằm thúc đẩy, hoàn thiện chính sách
thuế đối với chứng khoán

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng chính của đề tài là tác động của thuế đối với các chủ thề tham gia trên
thị trường chứng khoán
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập chung phân tích tác động của thuế đối với
chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

4. Phương pháp nghiên cứu



1. Khái quát về thị trường chứng khoán……………………..………….....…1

Khái niệm và cơ cấu thị trường chứng khoán…………………………...…1
Các loại hàng hóa của thị trường chứng khoán…………………………….2
Các chủ thề tham gia vào thị trường chứng khoán…………………...…….9

2. Khái quát về thuế và sự tác động của thuế đối với chứng khoán…………14

Khái niệm về thuế…………………………………………………………14
Vai trò của thuế……………………………………………………………14
Các loại thuế đối với chứng khoán……………………………………….15
Sự tác động của thuế đối với thị trường chứng khoán…………………….21

3. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về sừ dụng công cụ thuế tác động
đến thị trường chứng khoán………………………………………....22

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

1. Khái quát sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán Việt
Nam…………………………………………………………………………..25

2. Thực trạng hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam…………….27 Cơ sở pháp lý hoạt động cho thị trường chứng khoán Việt Nam…………27
Các loại hàng hóa trên thị trường chứng khoán Việt Nam……………….27
Các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán Việt Nam…………….28


CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1. Khái quát về thị trường chứng khoán

Khái niệm và cơ cấu thị trường chứng khoán

Khái niệm về thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán (TTCK) là thuật ngữ dùng dể chỉ nơi diễn ra của hoạt
động giao dịch mua bán chứng khoán trung, dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu
và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh- hợp đồng
tương lai, quyền chọn, bảo chứng phiếu, chứng quyền.
Thị trường chứng khoán là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho
đầu tư và phát triển kinh tế, do dó có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng
và nền kinh tế nói chung. Mặc khác, thị trường chứng khoán là một thị trường cao
cấp, nơi tập trung nhiều đối tượng tham gia với các mục đích, sự hiểu biất và lợi ích
khác nhau; các giao dịch, cácsản phẩm tài chính được thực hiện với giá trị rất lớn.

Kho bạc, Ngân hàng nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành…
 Giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do tổ chức phát hành quyết định và
thường được in ngay trên chứng khoán.

Thị trường thứ cấp

Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị
trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoàn cho các chứng khoán dã
phát hành.

Đặc điểm thị trường thứ cấp

 Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán
thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về nàh
phát hành. Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những người phát hành
chứng khoán mà luân chuyển giữa những nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường. Thị
trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của TTCK, gắn bó chặt chẽ với thị trường
sơ cấp.
 Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá
chứng khoán trên thị trường thứ cấp do cung cầu quyết định.
 Thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể mua
và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường thứ cấp.

Các loại hàng hóa của thị trường chứng khoán

Cổ phiếu

Cổ phiếu là giấy chứng nhân cổ phần, nó xác định quyền sở hữu của cổ đông
đối với công ty cổ phần. Người mua cổ p-hiếu được gọi là cổ đông, nhân giấy chứng
nhận cổ phần được gọi là cổ phiếu. trên giấy này có ấn định mệnh giá của cổ phiếu.

doanh nghiệp, do dó không cố định
 Khi công ty bị phá sản, cổ đông thường là người cuối cùng được hưởng giá trị
còn lại của tài sản thanh lý.
 Giá cổ phiếu biến động rất nhanh nhạy đặc biệt là trên thị trường thứ cấp, do
nhiều nhân tố nhưng nhân tố cơ bản nhất là hiệu quả kinh doanh và giá trị thị trường
của công ty.

Quyền lợi

Quyền có thu nhập: cổ đông thường được hưởng phần lợi nhuận tương ứng với
số cổ phiếu sở hữu gọi là cổ tức từ kết quả có lãi của hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty.
Quyền được chia tài sãn thanh lý: trong trường hợp rủi ro, công ty bị giải thể,
cổ đông cũng được chia phần những giá trị tài sản khi thanh lý, nhưng là người cuối
cùng được hưởng giá trị tài sản còn lại khi thanh lý.
Quyền bầu cử: cổ đông thực hiện bầu cử Hội đồng quản trị qua phiếu bầu
tương ứng với số vốn góp.
Quyền phát biều: trong các buổi họp Đại hội đồng cổ dông, cổ đông dược
quyền phát biểu về các mặt hoạt động của công ty, giá trị các phát biểu này cũng
tương ứng với phần góp vốn. Cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu ưu đãi là một loại chứng khoán lai tạp có những đặc điểm, vừa giống
trái. Đó là giấy chứng nhận cổ đông đựoc ưu tiên so với cổ đông thừơng về mặt tài
chính nhưng bị hạn chế về quyền hạn đối với công ty góp vốn, như: người giữ cổ

ty làm ăn có lãi nhiều, sẽ hửơng thêm một phần lợi tức phụ trội theo tỷ lệ quy định.
 Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thừơng.
Loại cổ phiếu này theoquy định có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường theo
một tỷ lệ chuyển đổi hoặc giá chuyển đổi đã được định trứơc.

Người cầm loại cổ phiếu ưu đãi này sẽ đựơc thực hiện việc chuyển đổi khi giá
trị thị trừơng của cổ phiếu thường tăng cao.
 Cổ phiếu ưu đãi có thể chuộc lại
Một số công ty trong trừong hợp khẩn cấp cần một số vốn lơn trong một thời
gian ngắn nên phát hành loại cổ phiếu ưu đãi với mức lãi xuất cao để thu hút nhà đầu
tư. Nhưng loại cổ phiếu ưu đãi này theo quy định có thể được chuộc lại bởi công ty
sau một thời gian.khi tình hình tài chính của công ty đã khá hơn. Khi trả lại công ty sẽ
phải trả một khoản tiền thưởng nhất định theo một tỷ lệ trên mệnh giá cổ phiếu cho
chủ sở hữu.

Các loại cổ phiếu ưu đãi theo luật doanh nghiệp Việt Nam.
Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:
o Cổ phần ưu đãi biểu quyết
Là cổ phiếu có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với nhiều cổ phần phổ
thông.Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy
định.
o Cổ phần ưu đãi cổ tức
Là cổ phần đựơc trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần
phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm. Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả
kinh doanh của công ty. Mức cổ tức cố định cụ thể và phưong thức xác định cổ tức
thưởng được ghi trên cổ tức cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức.
o Cổ phần ưu đãi hoàn lại
Là loại cổ phần sẽ được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu
của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi
hoàn lại.

người cho vay,đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn gốc cho người
cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn.Trên giấy chứng nhận nợ này có ghi mệnh giá của
trái phiếu và tỷ suất của trái phiếu.
 Mênh giá: là giá trị danh nghĩa của trái phiếu được in ngay trên tờ phiếu, đại
diện cho số tiền được trả tại thời điểm đáo hạn.

SPH
MG=
VHĐ
MG:Mệnh giá trái phiếu
VHĐ:số vốn huy động
SPH : Số trái phiếu phát hành
 Tỷ suất trái phiếu là lãi suất danh nghĩa của trái phiếu qui định mức lãi mà nhà
đầu tư được hành năm.Thông thường có hai phương thức trả lãi :6 tháng và 1 năm
/lần
Đặc điểm của trái phiếu

 Trái phiếu là một giấy nợ do Chính phủ hay doanh nghiệp phát hành để huy
động vốn dài hạn còn gọi là chứng khoán nợ , có kỳ hạnnhatas định , thường là 3- 5
năm là trung hạn và 7- 10 năm trở lên là dài hạn.Cuối kỳ đáo hạn phải trả lại vốn gốc
cho trái chủ.
 Được hưởng lãi cố định và tỷ xuất lãi trái phiếu không cao nhưng không phụ
thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh, ít rủi ro.Trong trường hợp trái phiếu là công
trái thì hầu như không có yếu tố rủi ro.
 Khi công ty bị giải thể tahnh lý tài sản thì người cầm trái phiếu được ưu tiên trả
nợ trước cổ dông.

Điều kiện phát hành
Đối với chủ thể phát hành là doanh nghiệp phải hội đủ những điều kiện sau đây:
 Là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nứơc có

Các doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu phải có thế chấp bằng tài sản
haychứng khoán, cũng có thể phát hành trái phiếu dứoi sự bảo lãnh của một công ty
hay một ngân hàng lớn có uy tín.
Trái phiếu không có thế chấp:
Một số các công ty lớn có tiếng tăm và uy tín trên thị trường quốc nội và quốc
ngoại có thể phát hành trái phiếu mà không cần thế chấp.Bởi vì chính uy tín của công
ty ấy là một đảm bảo có giá trị.
Trái phiếu có thể chuyển đổi:
Là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thừong của công ty với giá
cảu cổ phiếu đã ấn định trứơc gọi là giá chuyển đổi. Đây là loại trais phiếu rất được
ưu chuộm bởi vì giá cổ phiếu tăng cao trên thụi trưòng ngừoi giữ trái phiếu này sẽ
thực hiện việc chuyển đổi và thu được lợi nhuận do chênh lệch giá.
Trái phiếu cố thể chưộc lại
Trái phiếu có thể kèm theo điều khoản được công ty chuộc lại sau một thời
gian với giá chuộc lại thường cao hơn mệnh giá.Nhà đầu tư có thể chọn lựa để chấp
nhận sự chuộc lại của công ty hay không.

Trái phiếu có lãi suất ổn định
Là loại trái phiếu truyền thống đựoc phát hành phổ biến ở tất cả các TTCK
trren thế giới. Với đặc điểm trả lãi suất ổn định vào định kỳ theo 6 tháng hay 1 năm
một lần, nó rành buộc doanh nghiệp nghĩa vụ phải trả lãi trong suất thời gian lưu hành
trái phiếu.
Trái phiéu có lãi suất thả nổi
Là loại trái phiếu mà lãi suất cảu nó được điều chỉnh theo sự thay đổi của lãi
suất thị trường. Đặc điểm này đảm bảo được quyền lợi của nhà đầu tư cũng như nhà
doanh nghiệp khi thị trường tài chính tiền tệ không ổn định. thông th ừong cứ 6 tháng
1 lần

Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán



hợp đồng giao sau được tiêu chuẩn hoá các điều khoản của hợp đồng và được giao
dịch tại một sở giao dịch có tổ chức.
 Các hợp đồng tưong lai :là hợp đồng mà trong đó một người bán cam kết giao
một số hàng hoá nào đó hoặc chứng khoán và ngừơi mua sẽ trả lại tiền khi người mau
nhận được hàng hoá đó hoặc CK, với một giá nhất định tại một thời điểm nhất định
trong tương lai xác định trước ở hiện tại thời điểm ký kết hợp đồng.Để tránh thiệt hại
khi hợp đồng không được tôn trọng, cả hai bên đều được yêu cầu ký quỹ vào lúc ký
hợp đồngl.
Các hợp đồng giao sau có thể được thực hiện thông qua giao hàng hoặc bù đắp.Người
chủ hợp đồng dù là người mua hay người bán có quyền lựa chọn việc hợp đồng.

Hợp đồng lựa chọn hay các quyền chọn:là một kiểu hợp đồng giữa hai bên
mà trong đó một bên cho bên kia được quyền mua hoặc bán một loại hàng hoá cụ thể
hoặc một lượng CK noà đó với một mức giá xác định trong mọtt thời gian nhất định.
Quyền lựa chọn là một bản hợp đồng mang tính chất thoả thuận nhưng mang tính ràng
buộc về mặt pháp lý, trong đó có ba bên tham gia:
Bên thứ nhất :người mau quyền lựa chọn trả một khoản tiền mua quyền để
được thực hiện một giao dịch loại CK nào đó với số lượng và giá cả được ấn định
trong một thời hạn nhất định.
Bên thứ hai: người viết quyền lựa chọnđongf thời là người bán quyền, thu một
khoản tiền từ người mua để có nghĩa vụ giao dịch đã nêu trong hợp đồng.
Bên thứ ba:cơ quan quản lý, đảm bảo cho giao dich nêu trên trong hoạt động sẽ
được thực hiện.

Hợp đồng quyền lựa chọn có đặc điểm:
 Muốn trở thành ngừơi chủ quyền lựa chọn phải mau quyền lựa chọn.Giá mua
là dựa trên sự thảo thuận giữa hai bên trên cơ sở cungcầu của thị trường.
 Hợp đồng quyền lựa chọn ó hai loại : quyền chọn mua và quyền chọn bán.
o Quyền chọn mua là một hợp đồng giữa hai bên mà trong đó có một bên

xuất kinh doanh của mình . Công ty cổ phần không chỉ là chủ thể bán chứng khoán
mà nó còn là ngừoi mua chứng khoán do các công ty khác phát hành với mục đích sát
nhập, thủ tiêu đối thủ cạnh tranh hoặc khống chế thao túng nhằm nắm quyền kiểm
soát các công ty khác hoặc chỉ với mục đích đơn giản là tìm kiếm lợi nhuận, các
doanh nghiệp khác cũng vậy đều là những chủ thể mua, bán các chứng khoán hoặc
tìm kiếm chứng thanh khoản.
Tóm lại: Các doanh nghiệp tham gia TTCK với tư cách là chủ thể mua, bán
chứng khoán ở các thị trường sơ cấp và thứ cấp với mục đích hoặc là tạo vốn hoặc
tăng vốn cho các doanh nghiệp hoặc tìm kiếm lợi nhuận.

1.3.1.2 Nhà nước

Nhà nứơc tham gia vào TTCK với hai tư cách khác nhau:
Nhà nước là ngừơi quản lý và quản lý hoạt động của TTCK, thành lập Uỷ ban
CK quốc gia, ban hành các đạo luật và các qui định có liên quan, đảm bảo cho thị
trường hoạt động công bằng, công khai và trật tự, đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư.
Nhà nước tham gia vào thị trường CK như một doanh nghiệp bình thường.Nhà
nước tạo hàng hoá cho thị trường CK khi các cấp của Chính phủ Trung Ương và
Chính quyền địa phương phát hành trái phiếu để vay nợ dân và các tổ chức kinh tế
trong và ngoài nước ở thị trường sơ cấp để phục vụ cho các mục đích của nhà
nước.Tại thị trường CK thứ cấp, Nhà nước đóng vai trò như người mua, bán chứng
khaón của các doanh nghiệp trong các trừong hợp sau:
Thứ nhất Nhà nứơc (Bộ tài chính)muốn tham gia quản lý các doanh nghiệp
thuộc một ngành quan trọng nào đó, có tính chất then chốt đối với nền kinh tế quốc
dân( ví dụ như ngành điện , ngành hàng không..). nhà nước sẽ mua chứng khoán của
các doanh nghiệp đó tuỳ thuộc vào mức độ cần tham gia quản lý để mau với tỷ lệ cao
hay thấp trong tổng số chứng khoán do các doanh nghiệp phát hánh hoặc nược lại khi

không muốn quản lý hoặc giảm mức độ quản lý đối với doanh nghiệp nào đó, Nhà
nước có thể bán chứng khoán của các doanh nghiệp đó trên thị trường CK thứ cấp.

chứng khoán với các vai trò khác nhau.
Những người mô giới là những người trung gian thuần tuý họ hành động như
các nhà đại lý cho những người mua bán chứng khoán.Chức năng của họ là làm phù
hợp vơi những người mua và những người bán, danh từ chuyên môn gọi là những
người Kinh kỹ. Họ tham gia TTCK nhằm đảm bảo các chứng khoán giao dịch trên thị
trường chứng khoán là những chứng khoán thực và thị trừong hoạt động lành mạnh
đều đặn, hợp pháp và páht triển, bảo vệ lợi ích của người đầu tư vì những người đầu
tư không thể biết xét đoán được gí trị thực sự của từng loại chứng khoán và cũng
không thể dự đoán được tương lai của nó . Do đó, nếu không có các nhf Kinh kỹ với
chuyên môn của mình, có thể làm tốt những điều trên, thì người mau bán chứng
khoán có thể nhầm lẫn hoặc bị lừa gạt. Chính vì thế việc định giá chứng khóan trên

TTCK hoàn toàn thuộc về các nhà Kinh kỹ, khi thực hiện nghiệp vụ này họ được
hưởng một khoản phí hoa hồng.
Khác với những nhà mô giới , những hàh kinh doanh chứng khóan nối những
ngừơi mua và người bán chứng khoán bằng cách đứng ra mau chứng khoán của người
bán và sau đó bán lại cho người mau khác những chứng khóan này với giá cao hơn
giá họ đã mua vào để có thu nhập do chênh lệch giá mau và giá bán. Đây là lĩnh vực
kinh doanh doanh có nhiều rủi ro lớn vì những người buôn nắm giữ chứng khoán.
Nếu giá chứng khaón đó lên thì người buôn có lời và ngược lại sẽ lỗ thậm chí là phá
sản.
Khác với người kinh doanh chứng khoán người mô giới chứng khoán không bị
rủi ro do biến động thị giá chứng khoán bởi vì họ không nắm giữ chứng khoán rong
quá trình hành nghề của mình.

Chủ thể trung gian

Ngân hàng giám sát

Ngân hàng giám sát là ngân hàng thương mại có Giấy chứng nhận đăng ký


Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (sau đây gọi là
công ty quản lý quỹ) được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc
công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp.
Nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh
doanh sau đây:
a) Môi giới chứng khoán;
b) Tự doanh chứng khoán;
c) Bảo lãnh phát hành chứng khoán;
d) Tư vấn đầu tư chứng khoán.
Công ty chứng khoán chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán.
Công ty chứng khoán được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài
chính khác.
Nghiệp vụ kinh doanh của công ty quản lý quỹ
Công ty quản lý quỹ được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh sau đây:
a) Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán;
b) Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.
Công ty quản lý quỹ được huy động và quản lý các quỹ đầu tư nước ngoài có
mục tiêu đầu tư
Chức năng của công ty chứng khoán
Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và giám sát, ngăn ngừa
những xung đột lợi ích trong nội bộ công ty và trong giao dịch với người có liên quan.
Quản lý tách biệt chứng khoán của từng nhà đầu tư, tách biệt tiền và chứng
khoán của nhà đầu tư với tiền và chứng khoán của công ty chứng khoán.
Ký hợp đồng bằng văn bản với khách hàng khi cung cấp dịch vụ cho khách
hàng; cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin cho khách hàng.
Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của công ty.
Thu thập, tìm hiểu thông tin về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư, khả năng


2.2 Vai trò của thuế

Thuế tạo ra nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước:
Để duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà Nước cần phải có một
nguồn tài chính đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu. Nguồn tài chính này được hình thành
từ nhiều nguồn khác nhau như: đi vay, viện trợ, cho thuê công sản, sản xuất, kinh
doanh, phát hành tiền và thu thuế… Trong đó nguồn thu từ thuế là nguồn thu chủ yếu
của NSNN vì đó là nguồn thu thường xuyên, ổn định, chắc chắn, nhanh và lớn nó
chiếm một phần đáng kể trong tổng thu ngân sách. Nguồn thu của thuế hình thành từ
thu nhập quốc dân, do đó khả năng động viên của thuế phụ thuộc chủ yếu vào sự phát
triển của kinh tế và hiệu quả của sản xuất. Vì vậy chính sách động viên về thuế cần có
tác dụng bồi dưỡng nguồn thu vững chắc, lâu dài cho NSNN. Cơ cấu thuế suất không
quá cao, quá phức tạp mà cần được tính toán kỹ lưỡng phù hợp với khả năng đóng
góp của người nộp thuế. Ngoài ra yêu cầu tăng thu cho NSNN phải gắn liền với chính
sách chi tiêu tiết kiệm, đầu tư kinh tế - xã hội có hiệu quả.
Thuế là công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế vĩ mô:
Trong nền kinh tế thị trường Nhà Nước sử dụng công cụ thuế cùng với các
công cụ kinh tế khác nhằm tạo cân đối vĩ mô, điều tiết sản xuất và thị trường, đảm bảo
sự thống nhất giữa tăng trưởng sản xuất và công bằng xã hội. Nhà nước sử dụng chính
sách thuế với các loại thuế và thuế suất khác nhau sẽ góp phần kích thích sản xuất
phát triển, thu hút được các doanh nghiệp và tư nhân bỏ vốn đầu tư vào các ngành cần

thiết và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế theo định hướng phát triển sản xuất kinh doanh.
Thuế phải đảm bảo khuyến khích, nâng đỡ những hoạt động kinh doanh cần thiết, làm
ăn có hiệu quả cao. Đồng thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt hàng cần hạn
chế tiêu dùng theo hướng tiết kiệm.
Thông qua các chính sách thuế tác động và làm thay đổi mối quan hệ giữa
cung và cầu trên thị trường, nhằm góp phần thực hiện điều tiết vĩ mô, đảm bảo sự cân
đối giữa các ngành nghề trong kinh tế.

Đối tượng chịu thuế thu nhập là thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ ( kể cả thu nhập thu đuợc từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ nước ngoài) và thu nhập chịu thuế khác.
Đối tượng thuộc diện nộp thuế

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ (gọi chung là cơ sở
kinh doanh) dưới đây có thu nhập chịu thuế TNDN là đối tượng nộp thuế TNDN
Đối với thị trường chứng khoán thì thuế thu nhập doanhnnghiệp thì đối tượng
nộp thuế là các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, các công ty chứng
khoán, các công ty quản lý quỹ…
Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp:

Thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định bằng thu nhập chịu thuế trong kỳ
tính thuế nhân với (x) thuế suất.
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế được xác định theo công thức sau:

Thu nhập
chịu thuế
trong kỳ tính
thuế
=

Doanh thu để tính
thu nhập chịu thuế
trong kỳ tính thuế
-

Chi phí
hợp lý
trong kỳ

tế; các khoản nợ đã xoá sổ kế toán nay thu hồi được; thu các khoản nợ phải trả không
xác định được chủ nợ; thu hoàn nhập các khoản dự phòng đã trích nhưng không sử
dụng hoặc sử dụng không hết và các khoản thu nhập chịu thuế khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status