TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - Pdf 76

TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1.ĐẶC ĐIỂM NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT
ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
Việt Nam đang bị lạm phát nặng, mức lạm phát hai con số là nguy cơ cao
đe doạ sự ổn định vĩ mô nền kinh tế. Lương thực và dầu mỏ tiếp tục thổi mạnh
vật giá và gây hậu quả bất lợi cho các thành phần kinh tế. Thị trường chứng
khoán gặp nhiều bất trắc, sức nóng của vấn đề nhà đất vơi đi làm cho tính thanh
khoản của cổ phiếu, bất động sản sụt giảm trầm trọng. Thêm nữa, quá trình tự
do hoá tài chính và hội nhập quốc tế tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt,
khiến cho hầu hết các doanh nghiệp, khách hàng của ngân hàng phải đối mặt
với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường làm cho nợ
xấu gia tăng vì không có nguồn để trả.
Thời gian qua, dư nợ tín dụng tăng quá nhanh do sự tăng trưởng nóng của
thị trường chứng khoán và bất động sản, trong khi chất lượng tín dụng không
đảm bảo. Trước tình hình kinh tế thế giới khủng hoảng, Việt Nam không khỏi bị
ảnh hưởng, từ đó tình hình kinh tế ngày một khó khăn, lạm phát tăng cao, Chính
phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, ban hành thêm một số quy định mới,
làm cho tình hình cho vay trở nên xấu đi, các doanh nghiệp không có nguồn tiền
để thanh toán, kinh doanh, dẫn đến khả năng phá sản, ngân hàng khó thu hồi
được nợ… hàng loạt các vấn đề phát sinh đã tác động đến hoạt động tín dụng
ngân hàng.
Cụ thể như Ngân hàng Nhà nước tăng dự trữ bắt buộc, mỗi ngân hàng
thương mại phải mua số lượng tín phiếu nhất định và chỉ cho vay trên số tiền
huy động, dẫn đến các ngân hàng phải tham gia vào cuộc đua lãi suất để làm sao
có thể huy động được càng nhiều đủ bù đắp và có thể cho vay. Trước tình hình
đó, ngân hàng tạm ngưng giải ngân cho các doanh nghiệp, những khách hàng
của ngân hàng, kéo theo đình trệ dây chuyền sản xuất, hệ thống kinh doanh của
các doanh nghiệp: không có tiền thanh toán cho đối tác, đầu tư sản xuất, đối tác
không thanh toán được tiền cho khách hàng, hay thanh toán tiền mua bất động
sản trả góp… nguy cơ khách hàng sẽ không trả được nợ vì không có nguồn thu.

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thể hiện qua nhiều chỉ số, trong
đó lợi nhuận trước thuế là một trong những chỉ số quan trọng. Trong 8 ngân
hàng nghiên cứu, lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng tăng đều đặn qua các
năm, trong đó ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long có lợi
nhuận trước thuế là thấp nhất khoảng 195 tỷ đồng và ngân hàng Á Châu là cao
nhất hơn 2000 tỷ đồng.
Nhìn chung, qua các năm, các ngân hàng đều có tăng trưởng về
huy động cũng như tín dụng, đặc biệt là lợi nhuận cũng tăng hàng năm. Đây là
dấu hiệu khả quan cho hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ
phần Việt Nam.
2.2.2.Tỷ lệ an toàn vốn:
Xét tỷ lệ dư nợ cho vay trên nguồn vốn huy động của các ngân hàng
thương mại cổ phần trong thời gian 3 năm gần nhất cho thấy Á Châu có tỷ lệ dư
nợ cho vay trên nguồn vốn huy động là thấp nhất và đều đặn qua các năm, kế
đến là ngân hàng Phương Nam. Bên cạnh đó, MHB và Đông Á có tỷ lệ dư nợ
cho vay trên nguồn vốn huy động còn khá cao, điều này chứng minh việc sử
dụng nguồn tiền cho vay vượt quá nguồn vốn huy động, làm tăng mức độ rủi ro
thanh khoản cho ngân hàng.
(Nguồn: tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng)
2.2.3.Hệ số nợ quá hạn:
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của ngân hàng Á Châu giảm dần qua
các năm và thấp nhất trong 8 ngân hàng đang nghiên cứu, cụ thể là từ 1.66%
năm 2005 xuống còn 0.31% năm 2007, điều này cho thấy ngân hàng kiểm soát
rủi ro tín dụng tốt, quản lý nợ quá hạn có hiệu quả.
Bảng 2.1: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của các ngân hàng
2005 2006 2007
ACB 1.66% 1.11% 0.31%
SACOM 0.88% 0.95% 0.39%
ĐÔNG Á 1.26% 1.00% 0.64%
AN BÌNH 4.34% 5.15% 2.36%

MHB 66.80% 53.98% 50.58%
PHƯƠNG NAM 74.47% 51.18% 50.29%
(Nguồn: tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng)
2.2.5.Tỷ lệ nợ xấu:
2.2.5.1.Cơ cấu nợ các nhóm:
Từ bảng số liệu bên dưới cho thấy các ngân hàng thương mại cổ phần
đang nghiên cứu có tỷ lệ nợ đủ tiêu chuẩn chiếm gần tuyệt đối, điều này cho
thấy các ngân hàng kinh doanh, cho vay nhưng vẫn thực hiện đầy đủ việc giám
sát, quản lý rủi ro tín dụng, hạn chế tình trạng nợ xấu, nợ bất ổn xảy ra.
Tuy nhiên, bên cạnh điều đáng phấn khởi, thì tỷ lệ nợ có khả năng mất
vốn của ngân hàng Phương Nam là khá cao và tăng dần qua các năm trong số
các ngân hàng nghiên cứu, kế đến là ngân hàng An Bình. Ngân hàng MHB có tỷ
lệ nợ dưới tiêu chuẩn hơn 1%, cao nhất trong các ngân hàng đang nghiên cứu.
Đây là những con số cho thấy tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại
cổ phần Việt Nam trong thời gian qua vẫn cần phải được chú ý.
Do vậy, dù có cố gắng nhưng vẫn không thể nào tránh khỏi không có rủi
ro, đòi hỏi các ngân hàng vẫn phải cần thiết tăng cường công tác quản lý rủi ro
tín dụng sao cho rủi ro có thể hạn chế đến mức tối đa.
Bảng 2.3: Cơ cấu nợ các nhóm của các ngân hàng
Nhóm nợ Ngân hàng 2005 2006 2007
Nợ đủ tiêu chuẩn
ACB 98.34% 98.89% 99.69%
SACOM 99.12% 99.04% 99.62%
ĐÔNG Á 98.74% 99.00% 99.36%
AN BÌNH 95.66% 94.85% 97.64%
TCB 98.15% 98.57% 98.59%
EXIMBANK 98.02% 98.44% 98.49%
MHB 96.07% 95.63% 96.64%
PHƯƠNG NAM 95.65% 89.18% 91.83%
Nợ cần chú ý ACB 1.36% 0.91% 0.22%

TCB 0.40% 0.26% 0.30%
EXIMBANK 0.52% 0.38% 0.25%
MHB 0.70% 0.85% 0.53%
PHƯƠNG NAM 1.05% 1.33% 1.54%
(Nguồn: tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng)
2.2.5.2.Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ:
Bảng 2.4: Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các ngân hàng
2005 2006 2007
ACB 0.30% 0.20% 0.08%
SACOM 0.55% 0.72% 0.24%
ĐÔNG Á 0.98% 0.77% 0.45%
AN BÌNH 1.23% 2.70% 1.51%
TCB 1.01% 0.73% 0.82%
EXIMBANK 1.12% 0.85% 0.88%
MHB 2.46% 2.88% 2.20%
PHƯƠNG NAM 2.06% 3.12% 3.77%
(Nguồn: tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng)
Nhìn chung, các ngân hàng thương mại cổ phần đang nghiên cứu đều có
tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ở mức an toàn cho phép.
Tỷ lệ này của ngân hàng Á Châu và Đông Á giảm dần qua các năm và
dưới 0.5%, đối với ngân hàng An Bình, MHB, Phương Nam tỷ lệ này lớn hơn
1.5%. Riêng ngân hàng Phương Nam có tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ lớn hơn
3% và tăng dần qua các năm. Đây là dấu hiệu đáng báo động đối với việc quản
lý kiểm soát rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần, đòi hỏi các
ngân hàng không thể lơi lỏng công tác quản lý rủi ro. Quản lý rủi ro tín dụng là
công việc phải được diễn ra hàng ngày hàng giờ, chặt chẽ và hiệu quả.
2.2.6.Cơ cấu khoản vay:
2.2.6.1.Theo thời hạn:
Trong các ngân hàng nghiên cứu thì đa số có tỷ lệ cho vay trung dài hạn
thấp hơn cho vay ngắn hạn, tuy nhiên riêng đối với Á Châu thì ngược lại. Với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status