1
LỜI MỞ ĐẦU
Khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam trong đó phần lớn bao gồm các
doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng được coi là đóng vai trò quan trọng đối với
việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao mà Việt Nam đã đạt được trong thập
niên vừa qua. Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần
khẳng định tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khu vực kinh
tế tư nhân trong các chiến lược phát triển của mình, đặc biệt là về phương diện
tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo. Trong những năm vừa qua đã có
một loạt những cải cách mang lại những kết quả đáng khích lệ như Luật Doanh
nghiệp (năm 2000) và Nghị định Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (năm
2001), tạo một môi trường thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong
khu vực tư nhân.
Mặc dù môi trường hoạt động đã dần được cải thiện, các doanh nghiệp
nhỏ và vừa trong khu vực kinh tế tư nhân vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong
quá trình tăng trưởng. Các doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa được hưởng một sân
chơi bình đẳng với các doanh nghiệp nhà nước. Những hạn chế về khả năng tiếp
cận nguồn vốn tín dụng và công nghệ hiện đại vẫn là những rào cản làm chậm
lại tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa mới
thành lập đồng thời cũng thiếu công cụ quản lý hiện đại, khả năng tiếp cận thông
tin và các mối liên hệ với các thị trường xuất khẩu.
Có thể nói Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994 và Luật
khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) mới có hiệu lực từ năm 1999 đã có
những đóng góp đáng kể cho việc thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, giải
phóng sức sản xuất, khơi dậy nhiều tiềm năng, phát triển hoạt động sản xuất,
kinh doanh. Số lượng các doanh nghiệp mới thành lập trong cả nước tăng lên
nhanh chóng, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Các doanh nghiệp
thuộc khu vực kinh tế này đang giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế như
tạo thêm việc làm, thu hút vốn vào sản xuất, kinh doanh, tăng thêm thu nhập và
PHẦN 1
LÝ LUẬN CHUNG
I. Đầu tư và đầu tư phát triển
1. Khái niệm
Xuất phát từ phạm vi tác dụng của các kết quả hoạt động đầu tư, chúng ta
có những cách hiểu khác nhau về đầu tư.
Theo nghĩa rộng, đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại
để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất
định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Như vậy, mục đích của việc đầu tư là thu được cái gì đó lớn hơn những gì
mà mình đã bỏ ra. Do vậy, nền kinh tế không xem những hoạt động như gửi tiền
tiết kiệm là hoạt động đầu tư vì nó không làm tăng của cải cho nền kinh tế mặc
dù người gửi vẫn có khoản thu lớn hơn so với số tiền gửi. Từ đó, người ta biết
đến một định nghĩa hẹp hơn về dầu tư hay chính là định nghĩa về đầu tư phát
triển.
Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn
lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu
trúc hạ tầng, mua sắm thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng và đào tạo
nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thương xuyên gắn liền với sự hoạt động của
các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo
tiềm lực mới cho nền kinh tế - xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống của các
thành viên trong xã hội.
Trước đây, theo quan niệm truyền thống, vốn đầu tư phát triển chỉ là
những chi phí bằng tiền dùng cho việc xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại và
khôi phục tài sản cố định trong nền kinh tế. Như vây, về thực chất, vốn đầu tư
phát triển chỉ gồm những chi phí trực tiếp làm tăng tài sản cố định. Theo khái
4
5
Thứ hai, thời gian tiến hành hoạt động đầu tư và kết quả của hoạt động
đầu tư phát huy tác dụng lâu dài. Để có được một tài sản cố định có thể phát huy
tác dụng một cách độc lập trong nền kinh tế thì cần một khoảng thời gian rất dài.
Ví dụ: để xây dựng một nhà máy sản xuất mới, chủ đầu tư phải trải qua nhiều
giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư với rất nhiều công việc.
Nhưng bù vào đó, nhà máy lại có thể hoạt động trong một thời gian dài đủ cho
nhà đầu tư thu hồi lại những chi phí đã bỏ ra, đồng thời có được một khoản lợi
nhuận hợp lý. Thêm vào đó là những thành quả của hoạt động đầu tư phát triển
có giá trị sử dụng lâu dài, thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình kiến trúc
nổi tiếng thế giới như Kim Tự Tháp ở Ai Cập, nhà thờ La Mã ở Rome, vạn lý
trường thành ở Trung Quốc... Điều này nói lên giá trị to lớn của các thành quả
đầu tư phát triển.
Do hoạt động đầu tư phát triển cần lượng vốn lớn và tồn tại lâu dài nên nó
chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Có những yếu tố đã được nhận dạng, tính toán
từ trước, nhưng cũng có những yếu tố bất định xảy ra bất ngờ, không thể lường
trước được. Những yếu tố này tác động đến hoạt động đầu tư theo hai chiều
hướng: tích cực và tiêu cực. Thông thường những tác động tích cực thì ít mà tác
động tiêu cực thì nhiều, gây ảnh hưởng không nhỏ đến công cuộc đầu tư. Từ
việc thời gian để tiến hành hoạt động đầu tư đến thời gian vận hành kết quả đầu
tư để thu hồi đủ vốn kéo dài làm cho công cuộc đầu tư chịu ảnh hưởng rất nhiều
của yếu tố tự nhiên, chính trị, xã hội, kinh tế... Hoạt động đầu tư còn chịu tác
động mạnh mẽ của yếu tố địa hình nơi công cuộc đầu tư được tiến hành bởi một
đặc điểm riêng có của hoạt động đầu tư là kết quả vận hành ngay tại nơi sản
xuất, xây dựng.
Với những đặc điểm nêu trên, hoạt động đầu tư yêu cầu chủ đầu tư cũng
như toàn bộ nền kinh tế phải quan tâm đến rất nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, xã
hội, tự nhiên... để hoạt động đầu tư có thể diễn ra đúng như kế hoạch và mang
lại kết quả như mong muốn.
7
3.2. Đầu tư tác động đến sự ổn định về kinh tế
Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế. Sự tác động không
đồng thời của đầu tư đối với tổng cầu và tổng cung làm cho sự tăng giảm của
hoạt động đầu tư cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn
định của nền kinh tế. Cụ thể, nếu đầu tư tăng lên, như phân tích ở trên làm cho
giá cả tăng lên gây ra tình trạng lạm phát. Lạm phát lại làm chõ đình trệ, đời
sống của người lao động gặp nhiều khó khăn, thâm hụt ngân sách, kinh tế châm
phát triển. Mặt khác, đầu tư tăng lên làm cho sản xuất phát triển, thu hút thêm
nhiều lao động, tăng thu nhập cho dân cư, giảm tệ nạn xã hội... Đây là yếu tố cơ
bản tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế. Nói như thế không có nghĩa là chúng
ta không nên tăng đầu tư phát triển vì nếu giảm đầu tư sẽ đưa đến nhiều hậu quả
to lớn hơn nữa. Vì vậy, trong hoạt động kinh tế vĩ mô, các nhà hoạch định chính
sách cần nhận thức đúng đắn về sự tác động hai mặt này để đưa ra những chính
sách hợp lý có thể phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực, duy trì
được sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
3.3. Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế
Chúng ta sẽ xem xét sự tác động qua lại giữa vốn đầu tư và thu nhập của
nền kinh tế thông qua hai lý thuyết: lý thuyết của Keynes về đầu tư và lý thuyết
gia tốc đầu tư.
Theo Keynes, mỗi sự gia tăng về vốn đầu tư dều kéo theo sự gia tăng nhu
cầu bổ sung về nhân công và nhu cầu về tư liệu sản xuất. Do đó làm tăng việc
làm và nhu cầu về tư liệu sản xuất sẽ làm tăng thu nhập của nền kinh tế và đến
lượt nó làm tăng đầu tư mới. Quá trình này thể hiện thông qua số nhân đầu tư -
đại lượng thể hiện mối quan hệ tác động dây chuyền: tăng đầu tư làm tăng thu
nhập, tăng thu nhập làm tăng đầu tư mới.
t
x =
Y
t
x: Đại lượng thể hiện mối quan hệ giữa đầu tư và sản lượng đầu ra
K
t
: Vốn đầu tư trong thời gian t
Y
t
: Sản lượng đầu ra trong thời gian t
9
Từ công thức trên, ta có: K
t
= x.Y
t
; K
t+1
= x.Y
t+1
NI = K
t+1
– K
t
= x.(Y
t+1
tư. Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc nhiều vào cơ
cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư trong các ngành, vùng lãnh thổ cũng như hiệu quả
của chính sách kinh tế nói chung. Thông thường ICOR trong nông nghiệp thấp
hơn trong công nghiệp. Đối với các nước đang phát triển, phát triển về bản chất
được coi là vấn đề đảm bảo các nguồn vốn đầu tư đủ để đạt được một tỷ lệ tăng
10
thêm sản phẩm quốc dân dự kiến. Ở nhiều nước, đầu tư đóng vai trò như một
“cú hích ban đầu” để thoát ra khỏi “cái vòng luẩn quẩn” tạo đà cho sự cất cánh.
3.4. Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự tác động này được thể hiện rõ ở chính sách đầu tư ở mỗi quốc gia, mỗi
địa phương. Đối với cơ cấu ngành, thông thường đầu tư cho ngành công nghiệp,
dịch vụ thường chiếm tỷ trọng cao nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở những khu
vực này. Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân
đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát
khỏi thình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên,
địa thế, kinh tế, chính trị... của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn tạo
thành lực kéo và bàn đạp để thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.
3.5. Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Đầu tư trong các cơ sở sản xuất kinh doanh có thể hiểu đó là sự hy sinh
các nguồn lực ở hiện tại để duy trì và tăng cường, mở rộng năng lực sản xuất
kinh doanh hiện có của cơ sở. Như vậy đầu tư có vai trò rất quan trọng trong
doanh nghiệp. Nó quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp muốn thành lập trước hết phải xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật như nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua săm các máy móc thiết bị, thuê nhân
công... Sau đó để duy trì hoạt động bình thường của mình, các doanh nghiệp
phương án không khả thi. 12
II. Doanh nghiệp nhỏ và vừa
1. Khái niệm doanh nghiệp
Thực tế trên thế giới, các nước có quan niệm rất khác nhau về doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Nguyên nhân sự khác nhau này là do các nước dùng các tiêu
thức để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên trong hàng loạt
các tiêu thức đó thì có 2 tiêu thức phân loại được sử dụng ở phần lớn các nước.
Đó là tiêu thức quy mô vốn và tiêu thức số lượng lao động.
Việc lượng hóa các tiêu thức để phân loại quy mô doanh nghiệp tùy thuộc
vào một số yếu tố như:
+ Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và những quy định cụ thể
phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn.
+ Trong ngành nghề khác nhau thì chỉ tiêu về độ lớn của các tiêu thức cũng khác
nhau.
Điều này ta có thể thấy rõ thông qua số liệu ở bảng 1.
13
Bng 1: Tiờu thc xỏc nh doanh nghip nh v va mt s nc v
vựng lónh th
Nước
<7 triệu USD
<20 triệu USD
Ngun: Gii phỏp phỏt trin doanh nghip nh v va Vit Nam NXB CTQG
Ti Vit Nam tiờu chớ xỏc nh doanh nghip nh v va c th hin
trong ngh nh 90/2001/N ngy 23-11-2001 ca Chớnh Ph. Theo quy nh
ny doanh nghip nh v va c nh ngha nh sau: Doanh nghip nh v
va l c s sn xut, kinh doanh c lp, ó ng ký kinh doanh theo
phỏp lut hin hnh, cú vn ng ký khụng quỏ 10 t ng hoc s lao ng
trung bỡnh hng nm khụng qua 30 ngi.
Nh vy, tt c cỏc doanh nghip thuc mi thnh phn kinh t ó ng ký kinh
doanh v tho món mt trong hai iu kin trờn u c coi l doanh nghip
nh v va. Theo cỏch phõn loi ny Vit Nam cú khong 93% trong tng s
doanh nghip hin cú l doanh nghip nh v va, c th l 80% cỏc doanh
nghip nh nc thuc nhúm doanh nghip nh v va, trong khu vc kinh t t
14
nhân doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng 97% xét về vốn và 99% xét về lao
động so với tổng số doanh nghiệp của cả nước.
2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Khi nói tới doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung, chúng ta đều nghĩ đến
đặc điểm chung nhất đó là: số lượng lao động ít, trình độ không cao, nhu cầu về
vốn đầu tư nhỏ nhưng tỷ suất vốn cao và thời gian hoàn vốn nhanh, chi phí sản
xuất cao do đó giá thành đơn vị sản phẩm cao hơn so với sản phẩm của các
doanh nghiệp lớn nên vị thế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thị trường ít
được chú ý. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu
rộng nhưng lại có ưu thế trong việc đáp ứng nhu cầu đặc thù. Các doanh nghiệp
+ Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta phân bố không đồng đều, tập trung
chủ yếu ở các thành phố lớn. Xu hướng tập trung vào các ngành cần đầu tư ít
vốn, thời gian thu hồi vốn nhanh, lãi suất cao như thương nghiệp, du lịch, dịch
vụ.
+ Nhà nước chỉ mới có các định hướng lớn khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và
vừa, cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, nguồn lực tài chính còn hạn chế.
3. Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp áp dụng ở Việt Nam
Việc đưa ra các tiêu chí chuẩn xác để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức quản lý, nghiên cứu và thực hiện
các chính sách hỗ trợ. Chính vì vậy, hầu hết các nước đều rất chú trọng nghiên
cứu tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, trên thế giới tiêu
chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa có một số nét chung nhưng cũng có
nhiều chỗ còn chưa thống nhất vì điều kiện kinh tế - xã hội mỗi nước khác nhau.
16
Thậm chí trong cùng một nước, sự phân loại cũng khác nhau tùy theo thời kỳ,
từng ngành nghề và từng vùng lãnh thổ.
Có hai tiêu chí phổ biến dùng để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa: tiêu
chí định tính và tiêu chí định lượng.
Nhóm tiêu chí định tính: Dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh
nghiệp nhỏ và vừa như trình độ chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít,
mức độ phức tạp của quản lý thấp... Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng
bản chất của vấn đề nhưng khó xác định trên thực tế. Do đó, nó thường chỉ làm
cơ sở để tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế.
Nhóm tiêu chí định lượng: Có thế sử dụng các tiêu chí như số lao động,
+ Lao động thường xuyên dưới 500 người;
+ Vốn cố định dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng;
+ Doanh thu hàng tháng dưới 29 tỷ đồng.
- Liên Bộ Lao động và Tài chính coi doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp
có:
+ Lao động thường xuyên dưới 100 người;
+ Doanh thu hàng năm dưới 10 tỷ đồng;
+ Vốn pháp định dưới 10 tỷ đồng. 18
- Dự án VIE/US/95/004 do UNIDO tài trợ về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
ở Việt Nam coi doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có:
+ Lao động dưới 30 người;
+ Vốn đăng ký dưới 100000 USD.
Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có:
+ Lao động từ 31~200 người;
+ Vốn đăng ký dưới 400000 USD.
những vấn đề đáng suy nghĩ như sau:
- Có thể chỉ dùng một tiêu chí là lao động hoặc số vốn, bởi vì hai tiêu chí đó
không phải là luôn luôn tương thích với nhau, nhất là trong điều kiện hiện
nay, có những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, số vốn
hoặc doanh thu khá lớn nhưng lại có rất ít lao động, vì đó là những lao động
với chuyên môn kỹ thuật cao.
- Theo kinh nghiệm của nhiều nước, nên có tiêu chí riêng cho các doanh
nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau như công nghiệp,
nông nghiệp, thương mại, dịch vụ... và cần có sự điều chỉnh qua từng thời
gian, tùy thuộc vào yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước, vì mục đích của
tiêu chí này là xác định đối tượng để thực hiện những chính sách của Nhà
nước trong từng thời gian, đối với từng ngành, nghề.
Do vậy, ngày 23/11/2001, chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định
90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo Nghị định
20
này, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc
số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình
kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện
pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu
vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
Cũng theo định nghĩa này, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;
D
D
N
N
% DN %
D
D
N
N %
D
D
N
N
%
1. DN trong níc 23016 16547 71 4076 17,7 20623 89,6 2393 10,9
-DNNN 5873 1585 28 2284 38,9 3869 65,9 2004 34,1
- DNTN 10916 10383 95,1 485 4,4 10868 99,6 48 0,4
- HTX 1867 1634 87,5 184 9,9 1818 97,4 49 2,6
- CTCF 118 17 14,4 33 28 50 42,4 68 57,6
- CTTNHH 4242 2928 69 1090 25,7 4018 97,7 224 5,28
2. DN cã vèn §T
22
4.2. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là nơi tạo ra việclàm chủ yếu ở Việt Nam
Đây là một thế mạnh rõ rệt của doanh nghiệp nhỏ và vừa và là nguyên
nhân chủ yếu khiến chúng ta phải chú trọng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
ở nước ta hiện nay. Theo số liệu thống kê của tổng cục Thống kê, số người
không có việc làm thường xuyên trong cả nước là khoảng 8,5 triệu người, trong
đó khu vực thành thị là 1,2 triệu người còn khu vực nông thôn là 7,3 triệu người;
84% số người không có việc làm ở độ tuổi từ 14~44 tuổi. Năm 2000, cả nước có
tới 1447000 người trong độ tuổi lao động không có việc làm, trong đó khu vưc
jthành thị có 692000 người, chiếm 48% và khu vực nông thôn có 755000 người,
chiếm 52%. Theo dự báo, từ nay đến năm 2010, mặc dù dân số có thể tăng chậm
lại nhưng nguồn lao động của nước ta vẫn tăng nhanh liên tục, đòi hỏi giải quyết
việc làm hết sức khẩn trương.
Số liệu điều tra lao động và việc làm (tháng 7/2000) cho thấy ở Việt Nam,
dân số trong độ tuổi lao động là 46,2 triệu người, chiếm 59% tổng dân số. Việt
Nam đang chuyển từ giai đoạn cấu trúc dân số trẻ sang “cơ cấu dân số vàng”,
nghĩa là tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động ở mức cao trong khi tỷ lệ dân số phụ
thuộc giảm. Dự báo trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ 21, tỷ lệ dân số trong độ
tuổi lao động tiếp tục tăng và đạt đỉnh cao nhất là gần 70% vào năm 2009 (56
triệu người). Từ năm 1999-2009, mỗi năm sẽ có thêm 1,8 triệu người bước vào
tuổi lao động. Đây là mức tăng nguồn nhân lực cao nhất từ trước tới nay trong
lịch sử dân số Việt Nam, là tiềm năng, cơ hội lớn về nguồn nhân lực và cũng là
thách thức rất lớn về giải quyết việc làm.
Sức ép của dân số và lao động lên đất đai, việc làm ở nông thôn chính là
nguyên nhân của dòng di dân từ nông thôn ra thành phố, gây nhiều vấn đề xã hội
phức tạp. Vấn đề giải quyết việc làm ở nông thôn phải được giải quyết chủ yếu
bằng việc phát triển ngành, nghề sản xuất và dịch vụ, trước hết là các cơ sở sản
xuất tiểu thủ công nhỏ và vừa phân bố thật rộng rãi trong khắp các vùng nông
doanh nghiệp nhỏ và vừa thường xuyên diễn ra trong mọi giai đoạn. Đó là sức
ép lớn buộc những người quản lý và sáng lập ra chúng phải có tính linh hoạt cao
24
trong quản lý và điều hành, dám nghĩ dám làm và chấp nhận sự mạo hiểm. Sự có
mặt của đội ngũ những người quản lý này cùng với khả năng, trình độ, nhận
thức của họ về tình hình thị trường và khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh sẽ
tác động lớn đến hoạt động của từng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Họ luôn là người
đi đầu trong đổi mới, tìm kiếm phương thức mới, đặt ra nhiệm vụ chuyển đổi
cho phù hợp với môi trường kinh doanh.
Đối với một quốc gia thì sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn
vào sự có mặt của đội ngũ này và chính đội ngũ này sẽ tạo ra một cơ cấu kinh tế
năng động, linh hoạt phù hợp với thị trường.
4.4. Khai thác và phát huy tốt các nguồn lực tại chỗ
Từ các đặc trưng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và
vừa đã tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế về địa điểm hoạt động sản xuất kinh
doanh. Thực tế đã cho thấy doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có mặt ở hầu hết các
vùng, địa phương. Chính điều này đã giúp cho doanh nghiệp tận dụng và khai
thác tốt nguồn lực tại chỗ. Chúng ta có thể chứng minh thông qua nguồn lực lao
động. Doanh nghiệp nhỏ và vừa đã sử dụng gần 1/2 lực lượng sản xuất lao động
phi nông nghiệp (49%) trong cả nước và tại một số vùng nó đã sử dụng tuyệt đại
đa số lực lượng sản xuất lao động phi nông nghiệp. Ngoài lao động ra doanh
nghiệp nhỏ và vừa còn sử dụng nguồn tài chính của dân cư trong vùng, nguồn
nguyên liệu trong vùng để hoạt động sản xuất kinh doanh.
4.5. Đóng góp vào việc tăng trưởng kinh tế
Mỗi năm, doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp khoảng 25-26% GDP của
vực. Điều quan trọng là doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều thuận lợi trong việc
khai thác các tiềm năng rất phong phú trong dân, từ trí tuệ, tay nghề tinh xảo đến