Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị
trường có quản lý của nhà nước, nước ta đã chứng kiến sự bùng nổ hàng
loạt các doanh nghiệp ở hầu hết các ngành với các loại hình đa dạng phong
phú. Doanh nghiệp nào cũng có nhu cầu vay vốn để mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh và đầu tư tài sản cố định. Trong đó, nguồn vốn vay ngân
hàng là nơi doanh nghiệp hướng đến đầu tiên. Điều đó đã kéo theo sự phát
triển không ngừng cả về chất và lượng trong lĩnh vực cho vay của các ngân
hàng, góp phần điều chuyển vốn từ các nơi dư thừa vốn sang các doanh
nghiệp đang thiếu vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên hoạt động cho vay của ngân hàng vừa là hoạt động đem lại nhiều lợi
nhuận nhất cho ngân hàng nhưng cũng là hoạt động đem lại rất nhiều rủi ro.
Nhất là trong thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, việc cạnh tranh trên thị
trường rất gay gắt, các doanh nghiệp không những phải cạnh tranh với các
đối thủ trong nước mà còn bị “đe dọa” bởi các tập đoàn quốc tế có vốn lớn
xâm nhập thị trường. Tình hình đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực
không ngừng nếu không có thể dẫn đến phá sản và không trả nợ được ngân
hàng. Trong khi đó, hoạt động của ngân hàng là thu hút nguồn tiền gửi của
dân cư và các tổ chức khác để cho vay, nếu xảy ra rủi ro sẽ mang lại các
hậu quả vô cùng to lớn và có thể dẫn đến việc sụp đổ cả hệ thống tài chính.
Điều đó khiến các ngân hàng luôn luôn phải đặt chất lượng cho vay lên
hàng đầu. Chính vì vậy, trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Ngoại
thương Hà Nội, được tiếp xúc với quy trình vay vốn của các doanh nghiệp
và nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng cho vay
doanh nghiệp nên em đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng cho vay đối
với các doanh nghiệp tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội” làm đề tài
chuyên đề tốt nghiệp của mình.
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
Đề tài nghiên cứu về chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhưng
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại doanh nghiệp như tính chịu
trách nhiệm, tư cách pháp lý của doanh nghiệp, hình thức sở hữu của doanh
nghiệp, quy mô...
Phân theo hình thức sở hữu của doanh nghiệp thì các doanh nghiệp ở
Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên doanh và doanh nghiệp tư
nhân.
Phân theo quy mô thì các doanh nghiệp được phân thành doanh
nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ
được hiểu là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh
theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có
số lao động hàng năm không quá 300 người.
1.1.2. Nhu cầu vay vốn Ngân hàng của các Doanh nghiệp
Khó khăn nổi bật nhất hiện nay của các doanh nghiệp này là vấn đề
về vốn. Các doanh nghiệp hầu hết đều muốn bổ sung vốn để đầu tư vào tài
sản lưu động và tài sản cố định.
Nhu cầu vay vốn ngắn hạn:
Do nhu cầu vốn dài hạn để đầu tư vào tài sản cố định là rất lớn nên
thông thường doanh nghiệp khó có thể sử dụng nguồn vốn dài hạn để đầu
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
tư vào tài sản lưu động. Khi có sự thiếu hụt về nguồn vốn ngắn hạn, các
doanh nghiệp thường sử dụng đòn bẩy tài chính – đi vay ngân hàng để bù
đắp nguồn vốn ngắn hạn bị thiếu hụt. Sự thiếu hụt vốn ngắn hạn của doanh
nghiệp có thể xảy ra do dòng tiền vào và dòng tiền ra của doanh nghiệp có
sự chênh lệnh về thời gian và doanh số hoặc do nhu cầu gia tăng đầu tư tài
sản lưu động đột biến theo thời vụ. Do vậy, nhu cầu vay vốn ngắn hạn có
thể chia thành: nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên và nhu cầu tài trợ
ngắn hạn thời vụ.
Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên xuất phát từ sự chênh lệch
Cho vay là một trong bốn hình thức cấp tín dụng tại NHTM, cùng
với bảo lãnh, cho thuê và chiết khấu. Trong đó, tín dụng ngân hàng là quan
hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong
một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, trong đó tổ chức tín dụng
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn
nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
1.2.2. Phân loại cho vay
Dựa vào mục đích cho vay:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm
và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công
nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp,
thương mại, dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản
xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao
động, nhiên liệu, v.v.....
- Cho vay các định chế tài chính (financial institution loans) bao gồm
cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài
chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác.
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
- Cho vay tiêu dùng cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu
tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để
trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín
dụng.
Dựa vào thời hạn cho vay:
• Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới một năm.
Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào
vay thấu chi có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong
tháng và vài tháng trong năm với mục đích để khách hàng (doanh nghiệp)
trả lương, mua hàng và chi các khoản phải trả, phải nộp khác. Hình thức
này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng tin cậy và có thu nhập
đều đặn.
• Cho vay trực tiếp từng lần:
Là hình thức cho vay đối với khách hàng không có nhu cầu vay vốn
thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Chỉ khi
có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay Ngân hàng, vốn
vay của Ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ
sản xuất kinh doanh. Nghiệp vụ cho vay trực tiếp từng lần tương đối đơn
giản, ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt. Hình thứuc cho
vay này thường phải có tài sản đảm bảo và giá trị món vay được xác định
dựa vào giá trị tài sản đảm bảo.
• Cho vay theo hạn mức:
Là nghiệp vụ cho vay theo đó Ngân hàng thoả thuận cấp cho khách
hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng là số dư nợ tối đa mà ngân hàng
cấp cho khách hàng tại mọi thời điểm.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay
mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản
xuất kinh doanh. Đối với hình thức này, Ngân hàng không ấn định trước
ngày trả nợ. Chỉ khi khách hàng có thu nhập, Ngân hàng sẽ thu nợ, do đó
tạo chủ động trong quản lý ngân quỹ của khách hàng. Tuy nhiên do các lần
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu
quả sử dụng vốn của từng lần vay. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề
khi khách hàng nộp báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
• Cho vay luân chuyển:
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay:
• Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ
một lần khi đáo hạn
• Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp
• Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà
tuỳ khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào
Dựa vào đối tượng vay:
• Cho vay doanh nghiệp: Khách hàng vay là những doanh
nghiệp có nhu cầu về vốn để tích luỹ tư bản phục vụ cho hoạt động mở
rộng sản xuất kinh doanh của mình. Cho vay doanh nghiệp có tác dụng
đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp diễn ra liên tục và không ngừng
phát triển.
• Cho vay cá nhân: là hình thức vay vốn trong đó cá nhân là
người trực tiêp vay vốn với mục đích phục vụ cho các hoạt động của bản
thân. Cá nhân có thể vay vốn để sản xuất kinh doanh hoặc phục vụ cho nhu
cầu tiêu dùng của họ.
1.2.3. Đặc điểm và nguyên tắc cho vay của NHTM
1.2.3.1. Đặc điểm của hoạt động cho vay tại các NHTM
Thứ nhất, cho vay là hoạt động kinh doanh chính của các NHTM.
Đồng thời đây cũng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân
hàng.
Khả năng cho vay đối với khách hàng chính là lý do cơ bản để các
ngân hàng được cơ quan quản lý cấp giấy phép hoạt động. Mọi người đều
mong muốn các ngân hàng hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế thông
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
qua việc cấp tín dụng, đáp ứng nhu cầu tài chính của các doanh nghiệp và
các cá nhân với một mức lãi suất hợp lý. Rõ ràng, cho vay là chức năng
kinh tế hàng đầu của các ngân hàng. Các NHTM chủ yếu sử dụng nguồn
tiền mà mình huy động được để thực hiện hoạt động cho vay, đồng thời lợi
Việc vay vốn ngân hàng là nhu cầu tự nguyện của khách hàng và là
cơ hội để ngân hàng cấp tín dụng và thu lợi nhuận từ hoạt động của mình.
Tuy nhiên, hoạt động cho vay liên quan đến việc sử dụng vốn huy động của
khách hàng nên phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định. Nói chung,
doanh nghiệp vay vốn ngân hàng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
• Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời
gian xác định:
Các khoản cho vay của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các
khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn từ cá
nhân và các tổ chức tài chính khác. Ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả
cả gốc và lãi các khoản vay mượn này như đã cam kết. Do đó, ngân hàng
luôn yêu cầu người nhận tín dụng phải hoản trả vốn gốc và lãi đúng với
cam kết trong hợp đồng. Đây là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát
triển, cơ sở để ngân hàng lập và thực hiện kế hoạch kinh doanh của mình
trong tương lai đồng thời có hướng điều chỉnh kịp thời các hoạt động
không còn phù hợp và hiệu quả.
• Khách hàng cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích như đã
thoả thuận trong hợp đồng:
Mục đích sử dụng vốn không trái với quy định của pháp luật và các
quy định của NHNN cũng như NHTM. Ngân hàng chỉ cho khách hàng vay
vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong phạm vi ngành nghề được
phép theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép hành nghề (nếu
có) của khách hàng và phục vụ hợp pháp nhu cầu đời sống của khách hàng.
• Ngân hàng cho vay phải dựa trên phương án (hoặc dự án) vay
có hiệu quả để đảm bảo khả năng thu hồi vốn (gốc) và lãi.
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
Thông thường, ngân hàng đòi hỏi khách hàng phải có tài sản đảm
bảo hoặc phải chứng minh được dự án của khách hàng là khả thi và có khả
năng tạo ra lợi nhuận để trả nợ ngân hàng. Do các khoản cho vay có hai
Các khoản vay Ngân hàng Trung ương và vay trên hệ thống liên
ngân hàng có lãi suất thấp nhưng thường là các khoản vay nóng để bảo đảm
khả năng thanh toán tức thời cho ngân hàng. Muốn mở rộng quy mô vay
trên thị trường liên ngân hàng, các ngân hàng cần vươn tới thị trường liên
ngân hàng quốc tế với khả năng phân tích rủi ro lãi suất và rủi ro hối đoái
đủ sức phòng tránh được những rủi ro về lãi suất và tỷ giá.
Nguồn khác:
Các ngân hàng có thể huy động được nguồn vốn thông qua việc phát
hành các giấy tờ trung vài dài hạn, đây là hình thức huy động vốn đóng vai
trò quan trọng trong việc tạo và gia tăng các nguồn vốn trung và dài hạn
cho ngân hàng. Ngân hàng có thể sử dụng nguồn này để cho vay các doanh
nghiệp và người tiêu dùng để mua sắm thiết bị và bất động sản.
1.2.5. Hoạt động cho vay doanh nghiệp tại các NHTM
Cho vay doanh nghiệp là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng
sẽ cấp tín dụng cho các khách hàng là các doanh nghiệp có nhu cầu về vốn
để tích lũy tư bản phục vụ cho hoạt động mở rộng sản xuất kinh doanh của
mình. Cho vay doanh nghiệp có tác dụng đảm bảo cho hoạt động của doanh
nghiệp diễn ra liên tục và không ngừng phát triển.
1.2.5.1. Điều kiện vay
Mặc dù khi cho vay, ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp vay vốn phải
đảm bảo các nguyên tắc chung nhưng trên thực tế không phải doanh nghiệp
nào cũng có thể tuân thủ đúng các nguyên tắc này. Do vậy, để giúp cho
việc đảm bảo các nguyên tắc vay vốn, ngân hàng chỉ xem xét cho vay khi
doanh nghiệp thỏa mãn một số điều kiện vay nhất định. Các điều kiện vay
vốn của doanh nghiệp bao gồm:
• Có tư cách pháp nhân.
• Có mục đích vay vốn hợp pháp.
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
• Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
yết công khai thời hạn tối đa phải thông báo quyết định cho vay hoặc
không cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp, kể từ khi nhận được đầy
đủ hồ sơ vay vốn và thông tin cần thiết của khách hàng. Trường hợp quyết
định không cho vay, ngân hàng phải thông báo cho doanh nghiệp bằng văn
bản, trong đó nêu rõ căn cứ từ chối cho vay.
1.2.5.4. Hợp đồng tín dụng
Việc cho vay của ngân hàng và doanh nghiệp phải được lập thành
hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay,
mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời
hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ
và những cam kết khác được các bên thỏa thuận. Ngoài ra, hợp đồng tín
dụng cũng cần nêu rõ quyền và nghĩa vụ của hai bên: doanh nghiệp và ngân
hàng.
Khách hàng doanh nghiệp có quyền:
- Từ chối yêu cầu của ngân hàng không đúng với các thỏa thuận trong
hợp đồng tín dụng.
- Khiếu nại, khởi kiện việc vi phạm hợp đồng tín dụng theo quy định
của pháp luật.
Về mặt nghĩa vụ, khách hàng vay vốn ngân hàng có nghĩa vụ:
- Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến
việc vay vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông
tin, tài liệu đã cung cấp.
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã
thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết khác.
- Trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những
thỏa thuận về việc trả nợ vay và thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm nợ
vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
Trong hoạt động cho vay, ngân hàng thương mại bị giới hạn cho vay
theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo an toàn. Các
giới hạn cho vay khi cho vay ngắn hạn bao gồm:
• Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá
15% vốn tự có của ngân hàng, trừ trường hợp đối với những khoản
cho vay từ các nguồn vốn ủy thác của Chính phủ, của các tổ chức và
cá nhân. Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng vượt quá 15%
vốn tự có của ngân hàng hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn
từ nhiều nguồn thì các ngân hàng có thể cho vay hợp vốn theo quy
định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
• Tổng dư nợ cho vay đối với một nhóm khách hàng có liên quan
không được vượt quá 50% vốn tự có của ngân hàng, trong đó mức
cho vay đối với đối với một khách hàng không được vượt quá 15%
vốn tự có của ngân hàng.
• Trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ tướng chính phủ cho phép
đối với từng trường hợp cụ thể, ngân hàng có thể cho vay vượt quá
mức giới hạn cho vay theo quy định vừa nêu.
• Việc xác định vốn tự có của các ngân hàng để làm căn cứ giới hạn
cho vay được thực hiện theo quy định của NHNN Việt Nam.
1.2.5.6. Vai trò của hoạt động cho vay
• Đối với ngân hàng:
Do mục tiêu lớn nhất của các ngân hàng thương mại là nhằm tăng
giá trị tài sản của chủ sở hữu nên các ngân hàng luôn tìm mọi biện pháp để
thu được mức lợi nhuận cao nhất. Các ngân hàng chỉ có thể đạt được mục
tiêu này một cách tốt nhất thông qua hoạt động cho vay và cung ứng dịch
vụ thanh toán cho nền kinh tế.
Thứ nhất, ngân hàng thu được lợi nhuận rất lớn từ các khoản cho vay
doanh nghiệp do nước ta là một nước đang chuyển hóa từ nền kinh tế tập
trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường nên số lượng các doanh nghiệp
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B17
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
Đối với mỗi ngân hàng, hoạt động cho vay luôn là hoạt động
sinh lời nhiều nhất nhưng cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất cho
ngân hàng. Vì vậy các ngân hàng thường quan tâm đến việc nâng cao chất
lượng cho vay nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình. Vậy chất
lượng cho vay là gì?
Thông thường người ta hay đề cập đến khái niệm chất lượng tín
dụng. Trong đó chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh mức
độ đáp ứng yêu cầu về vốn của ngân hàng đối với sự phát triển của môi
trường bên ngoài, thể hiện sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh
tranh để tồn tại.
Tuy nhiên đề tài này chỉ xét trên khía cạnh cho vay, một khía cạnh
chính của tín dụng, nên em chỉ nghiên cứu hoạt động tín dụng của ngân
hàng đơn thuần là hoạt động cho vay và chất lượng tín dụng của ngân hàng
được đánh giá thông qua chất lượng cho vay.
Vậy chất lượng cho vay là một khái niệm vừa mang tính chất định
luợng vừa mang tính chất định tính phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu về
vốn của ngân hàng đối với sự phát triển của môi trường bên ngoài, nhằm
đánh giá hoạt động cho vay của ngân hàng có thể đáp ứng được hai mục
tiêu an toàn và sinh lời hay không.
Chất lượng cho vay được cụ thể hoá bằng các số liệu tính toán được
đồng thời cũng thể hiện một cách trừu tượng qua các yếu tố như năng lực
cán bộ tín dụng, khả năng thu hút khách hàng, đảm bảo quy trình tín dụng...
1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay
1.3.2.1. Đối với ngân hàng
Mục tiêu sống còn của các ngân hàng là kinh doanh thu được lợi
nhuận nhưng phải đảm bảo an toàn cho ngân hàng, do đó việc nâng cao
chất lượng tín dụng là việc các ngân hàng luôn đặt lên hàng đầu. Khi một
khoản cho vay được đảm bảo chất lượng nghĩa là khoản cho vay đó đem lại
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B19
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B20
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
nghiệp đều có nhu cầu hỗ trợ vốn lớn và thường xuyên, đặc biệt là nhu cầu
vốn ngắn hạn. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp tư nhân với đặc
điểm hạn chế về năng lực tài chính cũng như nhỏ hẹp về quy mô nên khả
năng tiếp cận được với nguồn vốn của ngân hàng là rất khó so với các
doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn lớn hơn.
Khi doanh nghiệp xin vay vốn ngân hàng, doanh nghiệp phải có
phương án sản xuất kinh doanh khả thi để có thể thuyết thục được ngân
hàng cấp tín dụng cho đơn vị. Do đó, bản thân các doanh nghiệp phải nỗ
lực không ngừng, xác định được phương hướng sản xuất kinh doanh phù
hợp với năng lực cũng như đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của thị
trường. Điều đó giúp cho doanh nghiệp có thêm được nhiều cơ hội phát
triển sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh, khẳng định được vị thế của mình
trên thị trường. Nâng cao chất lượng cho vay ngân hàng cũng góp phần
giúp các doanh nghiệp chuyên môn hóa sản xuất. Do nguồn vốn chủ sở hữu
có phần hạn chế nên nhờ các khoản cho vay của ngân hàng mà doanh
nghiệp có cơ hội được đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh với quy mô lớn
hơn.
Khi ngân hàng nâng cao chất lượng cho vay, đồng nghĩa với việc
thời gian xử lý hồ sơ vay vốn ngân hàng sẽ được rút ngắn, giúp cho các
doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn vay nhanh chóng, kịp thời,
đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được xuyên suốt. Cùng với đó,
doanh nghiệp sẽ phải chịu sự giám sát chặt chẽ hơn của ngân hàng, do đó
bản thân doanh nghiệp sẽ tự mình nâng cao năng lực quản lý, kinh doanh,
phát triển sản suất. Có thể nói, việc nâng cao chất lượng cho vay đối với
doanh nghiệp của ngân hàng góp phần tạo động lực cho doanh nghiệp trong
việc nâng cao năng lực quản lý cũng như sử dụng vốn một cách hiệu quả
nhất.
Hơn nữa, dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ từ nay đến năm
- Tổng mức cho vay và bảo lãnh của ngân hàng đối với một khách
hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của ngân hàng.
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
- Tổng dư nợ cho vay của ngân hàng đối với một nhóm khách hàng có
liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của ngân hàng, trong
đó mức cho vay đối với đối với một khách hàng không được vượt
quá 15% vốn tự có của ngân hàng.
- Tổng mức cho vay và bảo lãnh của ngân hàng đối với một nhóm
khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có của
ngân hàng.
• Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ:
Đây là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất rủi ro tín dụng của ngân hàng. Trong
đó:
Tỷ lệ này phản ánh mức độ rủi ro trong các khoản tín dụng của
khách hàng. Tỷ lệ nợ xấu cao phản ánh mức độ rủi ro cao trong hoạt động
tín dụng tức là chất lượng cho vay tại ngân hàng là chưa cao. Mỗi ngân
hàng phải đảm bảo cho mình một tỷ lệ nợ xấu tối thiểu phù hợp với quy mô
của ngân hàng và quy định của NHNN. Đồng thời nó cũng gián tiếp phản
ánh một phần năng lực của các cán bộ tín dụng trong việc thực hiện quy
trình thẩm định tín dụng khi cho vay.
• Tỷ lệ nợ các nhóm từ 2 đến 5 trên Tổng dư nợ:
Chỉ tiêu này cũng phản ánh mức độ rủi ro trong các khoản tín dụng của
ngân hàng, nó chỉ rõ tỷ lệ các khoản nợ quá hạn, nợ xấu, nợ khó đòi trên
tổng dư nợ. Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ hoạt động cho vay của ngân hàng
đang chứa đựng rủi ro cao do khả năng mất vốn là rất lớn. Ngược lại nếu tỷ
lệ này thấp, tương ứng với đó là tỷ lệ nợ nhóm 1 trên tổng dư nợ cao, nghĩa
là các khoản cho vay tại ngân hàng được an toàn và có khả năng trả được
nợ.
• Tỷ lệ nợ có bảo đảm trên tổng dư nợ:
• Thu lãi từ hoạt động tín dụng/Tổng dư nợ:
Chỉ tiêu này được đo bằng lãi từ hoạt động tín dụng trên tổng dư nợ
cho vay. Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ hoạt động cho vay đã đem lại nhiều
lợi nhuận cho ngân hàng đồng thời các khoản cho vay đạt hiệu quả khi thu
được lãi. Tuy nhiên, tỷ lệ này chưa đánh giá hết được chất lượng cho vay
tại ngân hàng vì các khoản vay gia hạn thời hạn vay vẫn có thể trả được lãi
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B24
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
nhưng nợ lại gốc. Vì vậy để đánh giá tốt chất lượng cho vay phải dựa vào
nhiều tiêu chí khác nữa.
• Lãi từ hoạt động tín dụng thực thu/Lãi dự thu:
Chỉ tiêu này phản ánh thực tế tình hình sinh lời tại ngân hàng đồng thời
phản ánh phần nào hoạt động cho vay tại ngân hàng có gặp rủi ro hay
không. Nếu tỷ lệ này thấp, nghĩa là số lãi ngân hàng không thu về được
cao, như vậy các món cho vay tại ngân hàng không thu về được lãi và ngân
hàng phải cơ cấu, trích dự phòng lại các khoản nợ này.
• Lãi ròng/Tổng dư nợ:
Chỉ tiêu này được tính bằng hiệu số giữa thu lãi từ hoạt động cho vay và
chi phí hoạt động cho vay trên tổng dư nợ. Chỉ tiêu này phản ánh mức độ
sinh lời từ hoạt động cho vay tại ngân hàng. Nếu tỷ số này cao, nghĩa là các
khoản cho vay tại ngân hàng đem lại hiệu quả, ngân hàng thu được nhiều
lợi nhuận từ hoạt động cho vay. Các ngân hàng đều đang cố gắng giảm chi
phí hoạt động tín dụng, huy động được nhiều nguồn với chi phí rẻ, để làm
tăng tỷ lệ lãi ròng/tổng dư nợ.
1.3.3.2. Các chỉ tiêu định tính
• Mức độ phân bố các khoản tín dụng giữa các khách hàng thuộc các
nhóm khác nhau:
Chỉ tiêu này cho thấy mức độ phân tán rủi ro của ngân hàng trong
các khoản cho vay. Đối với các doanh nghiệp nhà nước, thông
thường các ngân hàng sẽ cho vay theo hình thức “tín chấp”, trong khi