SỰ HÌNH THÀNH CƠ QUAN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ VỊ TRÍ, VAI
TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP
1.1.1. Sự hình thành cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy
nhà nước ta
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập
khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện
chính trị - pháp lý quan trọng, là cơ sở để hàng loạt các thiết chế của một Nhà nước
mới được tạo lập. Ngay sau khi giành được độc lập, việc xây dựng và củng cố
chính quyền là một trong những công việc quan trọng, trong đó có việc xây dựng
các cơ quan tư pháp nhằm bảo vệ thành quả của cách mạng. Hệ thống cơ quan tư
pháp ngay trong những năm đầu thành lập được định hướng xây dựng thể hiện là
một nền tư pháp cách mạng. Trong bối cảnh của những ngày đầu thành lập nước,
hệ thống cơ quan tư pháp được tổ chức rất đa dạng, linh hoạt phục vụ nhiệm vụ
cách mạng. Chức năng công tố nhà nước được giao cho nhiều cơ quan đảm nhiệm
như cơ quan Tòa án, Chính phủ, Ủy ban kháng chiến, Ban thanh tra của Chính phủ.
Tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp lần đầu tiên được quy định tại
Sắc lệnh số 33c ngày 13 tháng 9 năm 1945, đây cũng là cơ sở pháp lý đầu tiên
đánh dấu sự ra đời của hệ thống Tòa án trong bộ máy nhà nước ta, là vũ khí tư
pháp sắc bén bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân. Theo qui định của Sắc lệnh này, Tòa
án quân sự ra đời có chức năng: Xét xử tất cả những người nào phạm vào một việc
gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trừ những
người phạm tội là những binh sĩ thì thuộc thẩm quyền xét xử của nhà binh theo
quân luật. Về chức năng công tố được quy định rõ tại Điều 5 Sắc lệnh 33c như sau:
Đứng buộc là một ủy viên quân sự hay một ủy viên của Ban trinh sát. Như vậy, lần
đầu tiên, chức năng công tố nhà nước được quy định trong một văn bản pháp lý.
Lúc này, Tòa án quân sự được thành lập ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam là Tòa án
đầu tiên có sự hiện diện của tổ chức Công tố và hoạt động thực hành quyền công
tố. Nội dung của quyền thực hành quyền công tố theo quy định của Sắc lệnh này là
máy nhà nước là yêu cầu rất cấp thiết của chính quyền cách mạng dân chủ nhân
dân, đặc biệt là các cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo đảm trật tự xã hội.
Bên cạnh việc thiết lập hệ thống Tòa án quân sự và Tòa án binh để xét xử những
tội phạm phản cách mạng, những tội vi phạm trật tự quân đội, vi phạm kỷ luật của
nhà binh, cần thiết phải thiết lập hệ thống Tòa án thường để xét xử các tội phạm và
vi phạm pháp luật, bảo vệ nhà nước và bảo vệ nhân dân. Xuất phát từ yêu cầu đó,
ngày 24 tháng 1 năm 1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 13
về việc tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán (trong đó có Thẩm phán buộc
tội). Theo quy định của Sắc lệnh này thì Tòa án thường được tổ chức ở ba cấp là
Tòa án sơ cấp, Tòa án đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm. Tổ chức và hoạt động của
cơ quan Công tố chỉ được thành lập ở Tòa đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm, không
tổ chức thành phần Công tố trong Tòa án sơ cấp vì thẩm quyền của cấp Tòa án này
rất hạn chế. Chủ thể thực hiện quyền công tố trong hệ thống Tòa án thường được
quy định là các Thẩm phán buộc tội thuộc Tòa án.
Mặc dù, tổ chức của cơ quan Công tố được đặt trong hệ thống Tòa án, cả
Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử và Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ công tố
đều gọi chung là Thẩm phán, đều chịu sự quản lý về mặt nhân sự của Bộ Tư pháp,
nhưng trong hoạt động của mình, Thẩm phán buộc tội (công tố viên) độc lập với
Thẩm phán xét xử. Ở Tòa đệ nhị cấp, Thẩm phán buộc tội do ông Chưởng lý đứng
đầu. Ở Tòa thượng thẩm, tất cả các Thẩm phán buộc tội họp thành một đoàn thể
độc lập đối với các Thẩm phán xét xử và duy nhất đặt dưới quyền chỉ đạo của
Chưởng lý, Chưởng lý hoàn toàn giữ quyền truy tố các vụ án. Mối quan hệ độc lập
này càng được khẳng định rõ tại Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 4 năm 1946. Điều
17 Sắc lệnh này có quy định: Ông Chánh án có quyền điều khiển và kiểm soát tất
cả nhân viên khác trong Tòa án, trừ các Thẩm phán buộc tội.
Ngày 20 tháng 7 năm 1946, Sắc lệnh số 131 được ban hành quy định về tổ
chức Tư pháp Công an, trong đó xác định rõ mối quan hệ giữa Công tố với Tư
pháp Công an như sau: Công tố có trách nhiệm phụ trách Tư pháp Công an và các
nhà nước.
Sau cuộc cải cách tư pháp năm 1950, tổ chức và hoạt động của các cơ quan
tư pháp được đổi mới và chấn chỉnh một bước, những kết quả cải cách đã góp phần
tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan này. Song tổ chức các cơ
quan tư pháp trên thực tế còn chưa phù hợp, chất lượng hoạt động của các cơ quan
tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đề ra, sự chỉ đạo của ủy ban hành chính
đối với các cơ quan tư pháp còn lỏng lẻo. Nhận thức rõ tình hình đó, Chính phủ
tiếp tục ban hành các văn bản pháp luật để kiện toàn các cơ quan tư pháp, tăng
cường chỉ đạo công tác tư pháp như các Thông tư số 772/TTg ngày 15 tháng 5 năm
1956, Thông tư số 314/TTg ngày 19 tháng 7 năm 1957 của Thủ tướng Chính phủ.
Đặc biệt, ngày 5 tháng 12 năm 1957, Bộ Tư pháp ra Thông tư số 141/HCTP quy
định về phân công nội bộ trong các Tòa án. Theo quy định của Thông tư thì Tòa án
có Chánh án và Công tố ủy viên, ở những nơi nhiều việc có thể có Phó Chánh án,
Phó Công tố ủy viên và Thẩm phán. Chánh án và Công tố ủy viên có nhiệm vụ độc
lập và đều là Thủ trưởng cơ quan. Thông tư này có giá trị rất quan trọng, đặt nền
móng cho việc thành lập Viện công tố độc lập, tách ra khỏi Tòa án.
Trong điều kiện đất nước có chiến tranh, việc tổ chức bộ máy nhà nước nói
chung và bộ máy các cơ quan tư pháp nói riêng linh hoạt như trong thời kỳ đầu về
cơ bản là phù hợp với điều kiện của nước ta. Tuy nhiên, sau năm 1954, khi hòa
bình được lập lại ở miền Bắc, nước ta thực hiện đồng thời hai cuộc cách mạng,
cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Bắc,
việc tiếp tục tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp như giai đoạn trước đây tỏ ra không
còn phù hợp. Các cấp Tòa án vẫn được đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư pháp, cơ
quan Công tố vẫn đặt trong Tòa án, trong mỗi Tòa án vẫn còn tình trạng cả Chánh
án và ủy viên công tố cùng là lãnh đạo cơ quan, có quyền hạn độc lập nhau, chức
năng công tố vẫn được giao cho nhiều cơ quan đảm nhận, thủ tục tư pháp còn quá
sơ sài. Trong khi đó vào những năm 1957-1958, ngành tư pháp đã có sự trưởng
thành nhất định cả về số lượng và chất lượng, việc tiếp tục tổ chức các cơ quan tư
và có trách nhiệm báo cáo tình hình công tác với Ủy ban hành chính cùng cấp. Cơ
chế lãnh đạo "song trùng trực thuộc"này là cần thiết trong hoàn cảnh kháng chiến
trước đây, nhưng trong tình hình mới đã tỏ ra không còn phù hợp nữa. Thực tiễn
lúc đó cho thấy Ủy ban hành chính thường có ảnh hưởng rất lớn và nhiều khi có ý
kiến quyết định đối với việc truy tố, xét xử của các cơ quan tư pháp cùng cấp. Kinh
nghiệm từ các vụ án xét xử oan, sai trong thời gian này cho thấy nguyên nhân phổ
biến bắt nguồn từ ý kiến lệch lạc một chiều giữa Ủy ban hành chính đối với các cơ
quan Công an, Công tố và Tòa án. Trong cơ chế đó, rất khó cho Viện công tố duy
trì sự độc lập khách quan, chế ước và phát hiện sai lầm trong công tác điều tra, xét
xử để điều chỉnh kịp thời. Mặt khác, tổ chức cơ quan Công tố được thành lập năm
1958 cũng mới chỉ là tổ chức của thời kỳ quá độ. Tổ chức đó mới chỉ làm được
một phần nhiệm vụ của cơ quan kiểm sát là thực hành quyền công tố, còn phần
quan trọng là nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ pháp luật thì vẫn chưa thực hiện
được.
Theo quan điểm của V.I. Lênin trình bày trong tác phẩm "Nguyên tắc song
trùng lãnh đạo và vấn đề pháp trị" thì tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi
phải có được pháp chế thống nhất. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất đối với việc xây
dựng chế độ pháp trị chính là sự can thiệp của địa phương xuất phát từ động cơ tư
lợi hoặc cục bộ địa phương chủ nghĩa. Vì vậy, việc áp dụng nguyên tắc "song
trùng" lãnh đạo trong lĩnh vực pháp trị, theo đó cơ quan chuyên môn ở địa phương
phải đặt đồng thời dưới sự lãnh đạo của cơ quan chủ quản và Ủy ban hành chính, là
một sự sai lầm về mặt nguyên tắc. Do đó, theo Lênin, để đấu tranh có hiệu quả với
chủ nghĩa cục bộ địa phương thì phải thành lập Viện kiểm sát. Cũng theo Lê-nin,
Viện kiểm sát có quyền và phận sự làm một việc thôi: bảo đảm cho pháp trị được
hiểu biết thống nhất và thông suốt trong toàn nước cộng hòa, bất kể những đặc
điểm của địa phương và sự can thiệp của nhà chức trách địa phương. Để không
ngừng thiết lập chế độ pháp trị, Lê-nin cho rằng phải bác bỏ nguyên tắc "song
trùng" lãnh đạo trong tổ chức của Viện kiểm sát và qui định nguyên tắc Viện kiểm
giới, mỗi quốc gia có cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực riêng cho nhà nước
của mình. Đối với hầu hết các nhà nước tư sản đều tổ chức và thực hiện quyền lực
nhà nước theo học thuyết tam quyền phân lập. Theo đó, quyền lực nhà nước được
phân chia thành ba nhánh độc lập, giao cho ba hệ thống cơ quan khác nhau thực
hiện, trong khi thực hiện quyền lực có sự đối trọng và chế ước lẫn nhau. Ở những
nước này không có cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, mà chỉ có cơ quan Viện công
tố và cơ quan này cũng không phải là một hệ thống độc lập mà nó có thể nằm trong
Tòa án hoặc chịu sự quản lý của Bộ Tư pháp hay của Chính phủ. Chức năng cơ
bản của Viện công tố của các nước này là đưa kẻ phạm tội ra trước Tòa án và thực
hiện sự buộc tội đối với hành vi phạm tội của người đó.
Đối với các nước tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước theo học thuyết
tập quyền (Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc nhóm này) thì tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua
cơ quan đại diện của mình là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Trong bộ
máy nhà nước của các quốc gia này tồn tại một hệ thống cơ quan Viện kiểm sát
nhân dân có vị trí độc lập, trực thuộc Quốc hội. Viện kiểm sát nhân dân được giao
chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Xem xét vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trên phương diện trong mối quan
hệ với các cơ quan nhà nước khác trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam theo qui định của pháp luật hiện hành có thể thấy vị trí của Viện
kiểm sát nhân dân với các cơ quan nhà nước khác như sau:
Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Quốc hội: Quốc hội là cơ
quan quyền lực cao nhất. Quốc hội thành lập ra Viện kiểm sát nhân dân và giao cho
Viện kiểm sát nhân dân chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp. Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao. Quốc hội thực hiện việc giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu
trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp
lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp về các
công việc có liên quan.
Là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, Viện
kiểm sát nhân dân cũng phải tuân theo những nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước. Bên cạnh đó, xuất phát từ tính chất và nhiệm vụ của
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan bảo vệ pháp chế, Viện kiểm sát nhân dân còn
được tổ chức và hoạt động theo một nguyên tắc đặc thù, đó là nguyên tắc lãnh đạo
tập trung thống nhất trong ngành. Nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất đã chi
phối nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Theo đó, Viện
kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Do đó, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân
được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất.
Nguyên tắc tập trung thống nhất đảm bảo cho các Viện kiểm sát nhân dân
địa phương được tổ chức và hoạt động một cách tập trung, thống nhất và độc lập
theo ngành dọc, không lệ thuộc hay chịu sự can thiệp nào từ phía các cơ quan Nhà
nước ở địa phương. Đây là một nguyên tắc hết sức quan trọng, xuất phát từ tính
chất và nhiệm vụ của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà
nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, khi xác định vị trí của Viện kiểm sát nhân dân
trong bộ máy nhà nước cần có nhận thức đúng về những vấn đề sau:
Tuy Viện kiểm sát nhân dân địa phương không chịu sự chỉ đạo của chính
quyền sở tại, nhưng các Viện kiểm sát nhân dân địa phương không phải là một bộ
phận tách rời mọi hoạt động của địa phương. Viện kiểm sát nhân dân địa phương
còn phải chịu sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng địa phương và sự giám sát của nhân
dân địa phương. Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cũng phải phục vụ nhiệm
vụ chính trị địa phương. Do đó, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
địa phương phải kết hợp chặt chẽ và đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo và
hoạt động của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân.
Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về cải cách bộ máy nhà
nước, Hiến pháp năm 1992 xác định rõ nguyên tắc tổ chức hoạt động của bộ
máy nhà nước, của từng hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước. Đối với các
cơ quan tư pháp nói chung, Viện kiểm sát nhân dân nói riêng, vấn đề chức
năng, nhiệm vụ của các cơ quan này không chỉ bảo đảm lĩnh vực hoạt động
riêng mà bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hoạt động thực hiện chức năng
chung của nhà nước. Trên cơ sở, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân, Hiến pháp năm 1992 khẳng định nhà nước ta là nhà nước của dân,
do dân và vì dân, là tổ chức để nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ của
mình. Đó là bản chất, là nguồn gốc sức mạnh và hiệu lực quản lý của nhà nước
kiểu mới. Vì vậy, việc phát huy và bảo đảm quyền lực nhà nước xã hội chủ
nghĩa là vấn đề có tính quy luật, ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển
của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực của nhà
nước thuộc về nhân dân trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước thực
chất là bảo đảm quyền lực của nhân dân trong quản lý nhà nước, quản lý xã
hội. Các nguyên tắc cơ bản khác như nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc
thống nhất quyền lực, nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đã định hướng trực tiếp
đến tổ chức, hoạt động đối với hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung, Viện
kiểm sát nhân dân nói riêng. Mục tiêu chung của cải cách bộ máy nhà nước chỉ
thực sự đạt được trên cơ sở hoàn thiện tổ chức hoạt động của từng cơ quan, bộ
phận trong bộ máy nhà nước cùng với hoàn thiện cơ chế phối hợp của tổ chức
cơ quan thực hiện chức năng chung của nhà nước.
Trong hệ thống cơ quan nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ
bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm
chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài
sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Thực hiện nhiệm vụ này, Viện
đất nước, đặc biệt là khi tiến hành đổi mới trên lĩnh vực kinh tế. Những bước đi
ban đầu của nền kinh tế chuyển đổi với không ít những lựa chọn, những thay
đổi, từ cơ chế chính sách đến vấn đề pháp lý để có thể định hình từng bước phát
triển của nền kinh tế thị trường. Đó là quá trình trăn trở, tháo gỡ dần những
vướng mắc trên mọi phương diện để có thể xây dựng được một thể chế hoàn
chỉnh của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Những vấn đề đó
đã ảnh hưởng không nhỏ khi xác định vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các cơ
quan trong bộ máy nhà nước nói chung và Viện kiểm sát nhân dân nói riêng.
Trong giai đoạn trước đây, vai trò giám sát bảo đảm sự tuân thủ pháp
luật, tuân thủ cơ chế, chính sách, loại trừ yếu tố tự phát, sai lệch, vi phạm trong
quá trình phát triển là vô cùng quan trọng và được đặt lên hàng đầu. Với chức
năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội
(chức năng kiểm sát chung), Viện kiểm sát nhân dân các cấp có vai trò, trách
nhiệm trong hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong suốt thời kỳ đổi mới cho đến khi ban hành Hiến pháp 1992 (sửa đổi). Thực
tiễn đã chứng minh hiệu quả đóng góp to lớn của Viện kiểm sát nhân dân trong
việc bảo đảm pháp chế thống nhất và sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động của
tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế. Công tác kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong suốt thời kỳ này đã tuân thủ định hướng được chỉ đạo thống nhất
toàn ngành trong nhiệm vụ công tác năm tập trung hoạt động vào một lĩnh vực
cụ thể có ảnh hưởng tới nền kinh tế. Mục đích của các cuộc kiểm sát không chỉ
xác định vi phạm, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, khắc phục hậu quả về kinh tế xã hội, mà vấn đề mang ý nghĩa lớn đó là phát hiện ra những yếu kém trong
quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội của các bộ, ngành, địa phương. Từ đó đưa
ra những kiến nghị với Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả về hoạt động quản lý
nhà nước và đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập về
cơ chế, chính sách, pháp luật. Có thể đánh giá một cách công bằng trong thời kỳ
này thành tựu của ngành kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật có ý nghĩa trong việc bảo đảm sự tuân thủ pháp luật đối với
các cơ quan trong bộ máy nhà nước với những chức năng mà Viện kiểm sát đang
thực hiện dường như Viện kiểm sát đang nắm giữ quá nhiều quyền lực chi phối
trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội từ tư pháp đến thể chế quản lý kinh tế,
quản lý hành chính nhà nước. Hệ quả của sự đánh giá này đã dẫn tới việc có
người đặt ra câu hỏi phải chăng Viện kiểm sát nhân dân là một cơ quan siêu
quyền lực và như thế là trái với tổ chức và hoạt động của một nhà nước được
xây dựng trên nguyên tắc dân chủ.
Quá trình sửa đổi Hiến pháp, vấn đề chức năng của Viện kiểm sát nhân
dân được xem xét trên nhiều phương diện, không chỉ ở giác độ quyền lực rộng
lớn của Viện kiểm sát trong đời sống xã hội hay sự chồng chéo chức năng với cơ
quan Thanh tra mà cả những ảnh hưởng từ hoạt động của Viện kiểm sát tới nền
kinh tế thị trường. Ở vào thời điểm nền kinh tế đã trải qua 15 năm đổi mới với
những thành tựu và sự ổn định bước đầu về cơ cấu kinh tế, phương thức tổ chức
hoạt động, một thể chế kinh tế được xác lập bởi hàng loạt văn bản pháp luật về
kinh tế đã đưa nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển có định hướng trên cơ
sở khuôn khổ của pháp luật. Trong quá trình đó, sự hình thành hệ thống pháp
luật kinh tế là quá trình không ngừng sửa đổi, bổ sung để phù hợp với sự phát
triển của nền kinh tế. Trong điều kiện vận hành nền kinh tế thị trường vẫn đang
tiếp tục có sự tìm tòi, thử nghiệm và không ngừng đổi mới để có sự phát triển
phù hợp, vững chắc; bên cạnh những ưu điểm của việc bảo đảm sự tuân thủ
pháp luật qua hoạt động kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân dân thì mặt khác
dường như đã tạo ra lực cản vô hình đối với sự phát triển của nền kinh tế. Sự
phản ứng ở những mức độ khác nhau của các nhà quản lý, các nhà kinh doanh
đối với hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát đã đặt
vấn đề về thực tiễn của việc có cần thiết tồn tại chức năng này của Viện kiểm sát
hay không. Xét một cách biện chứng, khi pháp luật phù hợp với kinh tế sẽ thúc
đẩy sự phát triển kinh tế và ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển. Chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm pháp luật được tuân thủ, nhưng trong
các tội phạm hình sự là điều cần thiết. Để Viện kiểm sát có thể tập trung làm tốt
chức năng công tố, thì việc điều chuyển một phần chức năng kiểm sát chung của
Viện kiểm sát sang cơ quan, tổ chức khác trong bộ máy nhà nước được xem là
giải pháp tối ưu. Thực chất của việc điều chuyển là sự tăng cường trách nhiệm
của các cơ quan nhà nước khác như tăng cường thẩm quyền của cơ quan Thanh
tra trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, của Bộ Tư pháp trong hoạt động thẩm định
các văn bản pháp luật của chính quyền cơ sở trong việc xây dựng, ban hành văn
bản pháp quy, của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trong lĩnh vực giám
sát.
Trên thế giới, các quốc gia có thể khác biệt nhau về chế độ chính trị
nhưng hệ thống cơ quan Công tố trong bộ máy nhà nước cơ bản tập trung thực
hiện chức năng công tố trong lĩnh vực hình sự. Trong điều kiện hội nhập quốc tế,
việc tiếp thu những thành tựu, giá trị tiến bộ trên mọi lĩnh vực đang là xu thế tất
yếu, mang tính phổ biến của các quốc gia. Quá trình cải cách ở nước ta việc lựa
chọn để có được một mô hình tổ chức khoa học, tiên tiến, phù hợp cho từng hệ
thống cơ quan trong bộ máy nhà nước là một quá trình trải nghiệm không chỉ
nhận thức đầy đủ nguyên tắc mang tính lý luận mà cả diễn biến thực tiễn cần
được đánh giá tổng kết.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã có
sự điều chỉnh quan trọng về chức năng ngành kiểm sát, đó là sự xóa bỏ chức
năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội,
nhấn mạnh việc tăng cường chức năng thực hành quyền công tố và ghi nhận
chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 2002 đã thể chế hóa quy định của Hiến pháp, ghi nhận cụ thể, rõ ràng về
vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động thực hành quyền công tố,
kiểm sát các hoạt động tư pháp, đồng thời phân định rõ phạm vi hoạt động thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Sự phân định này không
chỉ tác động tích cực trong thực tiễn công tác của Viện kiểm sát nhân dân mà
hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát trong các hoạt động thi hành án, giam giữ,
cải tạo, trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự, vụ án dân sự, kinh tế, hành
chính, lao động cũng tồn tại quan điểm cho rằng Viện kiểm sát nhân dân chỉ nên
tập trung làm tốt chức năng công tố, còn đối với chức năng kiểm sát các hoạt
động tư pháp mà phần quan trọng là kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự,
kinh tế, hành chính, lao động, thì Viện kiểm sát chỉ nên tham gia ở phạm vi hạn
chế.
Trên cơ sở nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, quan niệm
về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước, từ thời kỳ
đầu thành lập ngành Kiểm sát nhân dân chi phối ảnh hưởng lâu dài đến sự nhận
thức về vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hoạt động tư pháp, trong lĩnh vực
tố tụng dân sự. Về thực tiễn, trong một thời gian dài, sự thiếu hoàn chỉnh hệ
thống pháp luật, hệ thống bổ trợ tư pháp, sự hạn chế về năng lực trình độ của đội
ngũ cán bộ tư pháp cũng như trình độ nhận thức pháp luật của người dân… là
nguyên nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức cho rằng không thể thiếu
được vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tư pháp nói chung,
trong hoạt động tố tụng, giải quyết các vụ án dân sự nói riêng, đó là sự bảo đảm
cho việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án. Ở một chừng
mực nào đó, sự nhận thức này có phần thiên kiến, chủ quan khi cho rằng sự
tuyệt đối hóa vai trò, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tư pháp,
đặc biệt trong hoạt động xét xử các vụ án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động
là sự áp đặt công quyền, chi phối mọi hoạt động tố tụng và điều này là không
phù hợp với nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, xem nhẹ vai trò của đương sự
với quyền tự định đoạt và trách nhiệm tự chứng minh của họ. Thực tiễn cho thấy
sự cần thiết của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, phạm vi tham gia
nhiều hay ít ở mức độ nào đó đều mang tính lịch sử cụ thể. Vì vậy, đến thời
điểm ban hành Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005, đã hội đủ điều kiện để có được
hệ thống pháp luật tố tụng dân sự hoàn chỉnh với nguyên tắc nền tảng của nó và
nhiệm vụ của mình có vị trí quan trọng và vai trò to lớn trong việc bảo đảm thực
hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
đảm bảo trên phương diện pháp lý cho xu thế hội nhập, giao lưu quốc tế của
nước ta. Và ngược lại, đó cũng là cơ sở lý luận vững chắc cho việc tiếp tục đổi
mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta hiện nay.
1.2. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Thời gian qua, khi nghiên cứu vấn đề hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng
cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đã có nhiều quan điểm khác
nhau của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lí, các chuyên gia trong lĩnh vực tổ
chức bộ máy nhà nước, các cán bộ làm công tác thực tiễn trong các cơ quan bảo vệ
pháp luật và nhân dân về vấn đề này. Có thể nêu ra ba quan điểm điển hình sau
đây:
1.2.1. Quan điểm thứ nhất
Theo quan điểm này, thực tiễn tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân ở nước ta hơn 45 năm qua đã khẳng định sự cần thiết khách quan tồn tại hệ
thống Viện kiểm sát nhân dân với hai chức năng không thể tách rời là chức năng
công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính,
kinh tế, xã hội (kiểm sát chung). Việc đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân hiện nay cần xuất phát từ những thành tựu đã đạt
được và theo hướng phân định rõ hoạt động kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân
dân với hoạt động thanh tra của cơ quan Thanh tra, từng bước nâng cao hơn nữa
hiệu quả của hoạt động công tố, bảo đảm cho thắng lợi của nhiệm vụ đấu tranh
phòng chống tội phạm. Những người theo quan điểm này cho rằng, so với thời gian
trước đây hơn 45 năm, ở nước ta hiện nay đã có nhiều thay đổi trong tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội theo xu hướng giữ vững ổn định và phát triển, đóng góp
vào thành tựu chung đó có vai trò quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân. Hiện
nay, với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,