Tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HOÀNG THỊ HOA TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH TƢ PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


HÀ NỘI - 2009

MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
1
MỤC LỤC
Trang

Trang bìa phụ Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU

1


Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân từ năm 2002
đến nay
12
1.5.
Khái quát một số Viện kiểm sát (Viện công tố) trên thế giới
26
1.5.1.
Viện kiểm sát nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
26
1.5.2.
Viện kiểm sát Liên bang Nga
32
1.5.3.
Viện công tố Hoàng gia Anh
37 2
1.5.4.
Cơ quan công tố Hoa Kỳ
40

Chương 2: thùc tr¹ng tæ chøc vµ ho¹t ®éng cña hÖ
thèng viÖn kiÓm s¸t nh©n d©n
46
2.1.
Tổ chức của Viện kiểm sát
46
2.2.
Hoạt động của Viện kiểm sát

3.8.
Vấn đề bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của Hội
đồng nhân dân các cấp đối với Viện kiểm sát
68
3.9.
Các giải pháp thức hiện
71
3.10.
Những vấn đề đặt ra khi đổi mới tổ chức và hoạt động của
Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp
78

KẾT LUẬN
94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
96 3
MỞ ĐẦU

1. Tớnh cấp thiết của đề tài
Cải cỏch Viện kiểm sỏt nhõn dõn là một trong những nội dung quan
trọng của cải cỏch bộ mỏy nhà nước núi chung và cải cỏch tư phỏp núi riờng
nhằm mục tiờu xõy dựng Nhà nước phỏp quyền Việt Nam xó hội chủ nghĩa.
Trong những năm gần đõy, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tõm đến việc

được thể hiện trong các văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX
và X. Đặc biệt Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp như Nghị quyết số 49-
NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến
2020; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng
đến năm 2020 là những nghị quyết đã xác định nhiều định hướng quan trọng,
toàn diện cho việc xây dựng hệ thống pháp luật và chương trình cải cách tư
pháp. Bên cạnh đó nhiều công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo
như của TS. Khuất Văn Nga với cuốn Viện kiểm sát nhân dân đã và đang
vững bước trên con đường cải cách tư pháp, hoặc Vị trí, vai trò Viện kiểm sát
trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội,
2008. Các tạp chí kiểm sát năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009 cũng đã phần
nào đề cập đến những nội dung đổi mới tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân.
3. Nhiệm vụ, mục đích, phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu, tìm hiểu về Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp là hết sức cần thiết nhằm thực hiện
một cách kịp thời, đầy đủ, nghiêm túc các chủ trương của Đảng về cải cách tư
pháp nói chung và cải cách cơ quan Viện kiểm sát nhân dân nói riêng theo
tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, góp phần hoàn thiện bộ
máy nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 5
Trong khuôn khổ đề tài luận văn của mình, tác giả tập trung nghiên cứu
về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát giai đoạn từ 1945 đến nay. Trải
qua hơn 60 năm tồn tại trưởng thành và phát triển đã thực hiện được nhiều nội
dung cải cách tư pháp. Từ đó đưa ra đề xuất kiến nghị những nội dung đổi mới
vị trí, vai trò, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư
pháp.

SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT

1.1. TỔ CHỨC CƠ QUAN CÔNG TỐ - TIỀN THÂN CỦA VIỆN KIỂM
SÁT TỪ NĂM 1945 ĐẾN 1960
Với cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, nước ta giành được độc lập.
Tuy nhiên, chúng ta phải đối phó với các thế lực thù địch, thù trong giặc
ngoài chống phá quyết liệt, reo rắc tư tưởng hoài nghi kích động bạo lực.
Chưa thời kỳ nào cách mạng Việt Nam phải đối phó với nhiều thế lực, đảng
phái chính trị như giai đoạn 1945 - 1946. Đứng trước diễn biến phức tạp của
tình hình cách mạng hệ thống cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan được
giao thực hiện quyền công tố nhà nước nói riêng được tổ chức rất đa dạng,
linh hoạt phục vụ nhiệm vụ của cách mạng, trong đó sự phát triển của ngành
công tố từ năm 1945 đến trước 1958 chủ yếu gắn liền với quá trình xây dựng
và phát triển của ngành Tòa án.
Ngày 13/9/1945 Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 33c về việc thành
lập Tòa án quân sự - đây là cơ sở pháp lý đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân
dân đánh dấu sự ra đời của hệ thống Tòa án, đồng thời cũng là văn bản pháp
lý đầu tiên quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố trong bộ
máy nhà nước ta.
Tòa án quân sự được tổ chức ở khắp ba miền Bắc - Trung - Nam là sự
hiện diện đầu tiên của tổ chức công tố và quyền công tố. Về chức năng công
tố, Điều V Sắc lệnh 33C quy định rõ: "Đứng buộc là một ủy viên quân sự hay
một ủy viên của Ban trinh sát". Một công cáo ủy viên quyết định truy tố một
người ra xét xử tại Tòa án và thực hiện sự buộc tội trước Tòa án. Như vậy lần
đầu tiên chức năng công tố nhà nước được quy định bằng một văn bản pháp
lý do người đứng đầu Nhà nước Việt Nam dân chủ ban hành. Nội dung của 8
quyền công tố theo quy định tại Sắc lệnh này là đưa một người phạm tội ra

1.1.1. Về thẩm quyền của cơ quan công tố giai đoạn 1945 đến 1958
Trong lĩnh vực tố tụng hình sự: Có quyền điều khiển và giám sát hoạt
động của Ban tư pháp cảnh sát trong quản hạt của mình; có quyền nhận đơn
khởi tố của tư nhân, biên bản do ban tư pháp cảnh sát thành lập.
Có quyền kháng cáo mệnh lệnh của Dự thẩm.
Tại phiên tòa, Biện lý thay mặt xã hội buộc tội bị can; có trách nhiệm
tổ chức thi hành cấp tốc những mệnh lệnh của Chánh án tại phiên tòa.
Có quyền kháng cáo bản án hình sự của Tòa án; có trách nhiệm thi
hành những bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Trong lĩnh vực tố tụng dân sự: Có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của các
vị thành niên, của các pháp nhân hành chính bắt buộc phải có mặt trong
những phiên tòa xử án dân sự và có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng mọi biện
pháp cần thiết để chứng tỏ sự thật của vụ án
Trong thời kỳ này, phạm vi thẩm quyền của cơ quan công tố không
chỉ bó hẹp trong lĩnh vực hình sự mà cơ quan công tố còn tham gia vào quá
trình giải quyết các việc dân sự, có trách nhiệm bảo vệ pháp luật, trông nom
việc thi hành các đạo luật của nhà nước.
1.1.2. Về mối quan hệ giữa cơ quan công tố với các cơ quan tố
tụng khác giai đoạn 1945 đến 1958
Quan hệ với thẩm phán xét xử: Các thẩm phán buộc tội do chưởng lý
đứng đầu. Các thẩm phán buộc tội của Tòa thượng thẩm hợp thành một đoàn
thể độc lập đối với các Thẩm phán xử án và duy nhất đặt dưới quyền quản lý
của Chưởng lý. Chưởng lý giữ toàn quyền truy tố và hành động.
Như vậy trong thời kỳ này mặc dù cơ quan công tố được tổ chức trong
hệ thống Tòa án thường nhưng hoạt động của cơ quan công tố hoàn toàn độc
lập với hoạt động xét xử của Tòa án. Việc quyết định truy tố hay không truy
tố cũng như việc quản lý các Thẩm phán buộc tội hoàn toàn thuộc thẩm quyền 10

khỏi tổ chức của Tòa án và sự quản lý của Bộ Tư pháp, đặt Viện công tố trung
ương trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm, quyền hạn ngang một Bộ.
1.2.2. Về chức năng của Viện công tố
- Điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự.
- Giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc xét xử của các Tòa án.
- Giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc thi hành các bản án về
hình sự, dân sự và trong hoạt động của cơ quan tư pháp.
- Khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng có
liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.
Ngoài nhiệm vụ điều tra, truy tố trước Tòa án, Viện công tố còn được
giao nhiệm vụ quan trọng là giám sát chấp hành pháp luật trong lĩnh vực tư
pháp (giám sát hoạt động xét xử của Tòa án, hoạt động giam giữ cải tạo, thi
hành các bản án dân sự ).
1.2.3. Về tổ chức bộ máy của Viện công tố
- Viện Công tố trung ương có Văn phòng; Vụ giám sát điều tra; Vụ
giám sát xét xử; Vụ giám sát giam giữ cải tạo.
- Viện Công tố địa phương các cấp gồm: Viện công tố Hà Nội; Hải
Phòng; Công tố khu Hồng Quảng; Viện công tố các tỉnh và khu vực Vĩnh
Linh, công tố huyện và đơn vị tương đương cấp huyện.
- Viện công tố quân sự các cấp.
Ngành Công tố tách khỏi hệ thống Bộ Tư pháp, được tổ chức từ trung
ương xuống địa phương. Ở địa phương Viện công tố chịu sự lãnh đạo trực
tiếp của Ủy ban hành chính cùng cấp, đồng thời chịu sự lãnh đạo của Viện
công tố trung ương. Viện Công tố các cấp đều được tổ chức gắn liền với hệ
thống hành chính cấp trung ương, tỉnh, huyện. 12
Ủy ban công tố được làm việc theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách. Những việc quan trọng đều phải được đưa ra Ủy ban thảo

1959 của Nhà nước ta đã dành bốn điều quy định các nguyên tắc cơ bản về tổ
chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, có chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật và chức năng công tố.
Sau khi thống nhất nước nhà tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp 1980, so với Hiến pháp 1959
thì Hiến pháp 1980 đã có những bổ sung hết sức quan trọng khi quy định về
Viện kiểm sát nhân dân. Đặc biệt nhấn mạnh chức năng thực hành quyền
công tố. Khẳng định rõ hơn vai trò và trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân các cấp đặc biệt là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Viện kiểm sát có hai chức năng là chức năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Ngày 15/4/1992 tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá VIII của Nhà nước
ta đã thông qua Hiến pháp 1992 thể chế đường lối đổi mới của Đảng Cộng
sản Việt Nam. So với Hiến pháp 1980 các quy định về Viện kiểm sát nhân
dân trong Hiến pháp 1992 có hai điểm mới mang tính điển hình nhìn từ góc
độ nguyên tắc tổ chức và hoạt động:
Một là, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách
nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa
phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 140). Như
vậy có nghĩa Hội đồng nhân dân có quyền giám sát hoạt động của Viện kiểm
sát nhân dân (Điều 7 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân).
Hai là, Ủy ban kiểm sát không còn cơ quan tư vấn cho Viện trưởng
nữa mà có quyền thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng
(Điều 38). Như vậy Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng 14
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu không còn được quyền tự quyết định mọi
vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.
Mặc dù có những quy định mới rất quan trọng so với Hiến pháp 1980

về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân
từ ngày thành lập (1960) đến nay.
1.4. TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỪ
NĂM 2002 ĐẾN NAY
Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta được quy
định bởi nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam được xác lập trong Hiến pháp 1992. Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề
nghị của Chủ tịch nước. Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
chịu sự giám sát của của Quốc hội; Phó Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao và
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao.
Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân tối cao là một hệ thống thống nhất,
bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa
phương, các Viện kiểm sát quân sự. Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng
lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của
Viện trưởng cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương,
Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Theo Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Điều 1 Luật Tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Bảo đảm cho pháp 16
luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân
địa phương kiểm sát các hoạt động tư pháp ở địa phương mình. Căn cứ Điều 3
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định chức năng, nhiệm

trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật.
- Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giam và các
biện pháp ngăn chặn khác, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ
quan điều tra theo quy định của pháp luật.
- Huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra.
- Quyết định truy tố bị can, quyết định đình chỉ, hoặc tạm đình chỉ
điều tra, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự.
Điều 17 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định Viện kiểm
sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến
việc giải quyết vụ án tại phiên tòa.
- Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phát
biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm; tranh luận với
người bào chữa và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm, phúc
thẩm.
- Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về vịêc giải quyết
vụ án tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm.
Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi) và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân chỉ thực hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt
tư pháp. Được thực hiện cụ thể qua các hoạt động sau:
Thứ nhất, công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra và các 18
cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Công
tác kiểm sát điều tra nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động điều tra phải
được tiến hành khách quan, đầy đủ, toàn diện, chính xác và phải đúng pháp
luật. Hoạt động điều tra nhằm xác định một cá nhân có tội hay không có tội,

kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
các bản án, quýêt định của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, công tác kiểm sát thi hành án là hoạt động kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân đối với Tòa án nhân dân, cơ quan
thi hành án, cơ quan tổ chức và cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định được thi
hành ngay theo quy định của pháp luật.
Thi hành án là một giai đoạn có vai trò cực kỳ quan trọng, bảo đảm
cho sự chấp hành nghiêm chỉnh, kịp thời và đúng pháp luật bản án, quyết định
của Tòa án. Nó góp phần khẳng định uy tín của Tòa án nhân dân, bảo vệ lợi
ích của nhà nước, của tập thể, quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Trong
hoạt động thi hành án, Viện kiểm sát nhân dân có quyền yêu cầu Tòa án nhân
dân, các cơ quan hữu quan ra quyết định thi hành án đúng quy định của pháp
luật, tự kiểm tra việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và
những bản án quyết định được thi hành ngay; Viện kiểm sát nhân dân có
quyền tham gia việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá án tích, đề
nghị miễn chấp hành hình phạt theo quy định của pháp luật; yêu cầu đình chỉ
việc thi hành án, sửa đổi hoặc huỷ bỏ quy định có vi phạm pháp luật trong
việc thi hành án, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật trong việc thi hành án,
nếu có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự.
Thứ tư, công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục
người chấp hành án phạt tù là hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật đối với
cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản
lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ và quyền hạn như thường kỳ hoặc bất 20
thường trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam; tiếp
nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và

thấy nó bắt nguồn từ nguyên tắc tập trung dân chủ và nhằm bảo đảm tính
thống nhất của pháp chế.
Tìm hiểu tổ chức bộ máy nhà nước ta, dễ dàng nhận thấy rằng, các cơ
quan nhà nước ở địa phương một mặt trực thuộc Chính phủ hoặc Bộ chủ
quản, mặt khác lại trực thuộc Hội đồng nhân dân hoặc Ủy ban nhân dân địa
phương. Nguyên tắc này được gọi là nguyên tắc phụ thuộc hai chiều.
Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta (cũng như các nước xã hội chủ
nghĩa trước đây) không được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phụ thuộc
hai chiều nêu trên, mà theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong
ngành. Có thể thấy cách tổ chức và hoạt động này được thực hiện theo tư
tưởng của V.I. Lênin. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân không được tổ chức
và hoạt động theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều, mà nó phải và chỉ trực
thuộc vào một cơ quan trung ương duy nhất.
Theo nguyên tắc này, Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh
đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới phải chịu sự lãnh đạo của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp phải chịu sự lãnh
đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 138
Hiến pháp 1992 sửa đổi và Điều 8 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2002). Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
các địa phương, Phó viện trưởng Viện kiểm sát quân sự quân khu và khu vực,
Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân đều do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức (Điều 9 Luật Tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 2002). Như vậy, tất cả các Viện kiểm sát từ trên
xuống dưới tạo thành một hệ thống thống nhất. Mọi hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân, dù ở cấp nào, đều đặt dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng. Viện 22
trưởng Viện kiểm sát nhân dân phải chịu trách nhiệm cá nhân về toàn bộ hoạt

+ Nguyên tắc không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa
phương.
Trong tổ chức và hoạt động của mình, Viện kiểm sát nhân dân không
hoàn toàn lệ thuộc vào bất cứ một cơ quan nhà nước nào ở địa phương. Nguyên
tắc này có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh
đạo trong ngành. Để bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và hạn chế, ngăn
chặn, loại trừ tình trạng "phép vua thua lệ làng", một yêu cầu khách quan
được đặt ra là hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân phải được tổ chức và
hoạt động theo nguyên tắc không lệ thuộc vào bất kỳ một cơ quan nhà nước
nào ở địa phương. Có quan điểm cho rằng, nguyên tắc này biện Viện kiểm sát
nhân dân thành một hệ thống cơ quan nhà nước có những quyền hạn quá lớn,
đứng ngoài mọi sự giám sát. Suy nghĩ như vậy biểu hiện một cách nhìn nhận
chưa toàn diện về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân
dân. Nguyên tắc này nhằm tạo ra điều kiện để ngành kiểm sát nhân dân thực
hiện tốt nhiệm vụ của mình là bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách
nghiêm chỉnh và thống nhất. Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi) và Luật Tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân được đặt dưới sự giám sát toàn diện, thường xuyên và chặt chẽ của Quốc
hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội,
trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy
ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước (Điều 139 Hiến pháp 1992 sửa đổi
và Điều 9 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002).
Nội dung nguyên tắc Viện kiểm sát nhân dân không lệ thuộc vào bất
kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa phương thể hiện ở chỗ: Các Viện kiểm sát
nhân dan thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách độc lập, không
chịu sự chi phối bởi các cơ quan nhà nước ở địa phương, mà chỉ chịu sự lãnh
đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Khi hoạt động, các Viện

Trích đoạn Viện kiểm sỏt nƣớc Cộng hoà nhõn dõn Trung Hoa Viện kiểm sỏt Liờn bang Nga CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT THEO YấU CẦU CẢI CÁCH TƢ PHÁP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status