Hoạt động của viện kiểm sát nhân dân qua thực tiễn tỉnh thừa thiên huế - Pdf 10

Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
Qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế

Đặng Trần Sơn

Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: GS.TS Phạm Hồng Thái
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Nghiên cứu cơ sở pháp lý về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo quy
định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 (sửa
đổi, bổ sung năm 2011). Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2011 (01/01/2007 đến
31/12/2011). Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của viện kiểm sát
nhân dân- qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế

Keywords: Viện kiểm sát nhân dân; Thừa Thiên Huế; Lịch sử nhà nước và pháp luật Content
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân, đánh dấu sự ra đời của một hệ thống cơ quan Nhà nước với chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân. Sự ra đời của ngành kiểm sát nhân dân nhằm góp phần bảo đảm
pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm. Trải

Những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định, đã đặt ra những yêu cầu mới đối với tổ chức và hoạt
động của các cơ quan tư pháp nói chung và Viện kiểm sát nhân dân nói riêng. Là một bộ phận cấu thành của hệ
thống Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế trong quá trình hình thành và phát
triển của mình đã có nhiều đóng góp vào thành tựu chung của ngành, đồng thời có vai trò, vị trí hết sức quan
trọng trong việc góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân ở địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được,
hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế
nói riêng cũng phát sinh những hạn chế, tồn tại cần phải có giải pháp để tháo gỡ, khắc phục kịp thời, góp phần
nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm sát.
Với những phân tích nêu trên, tôi xin chọn đề tài: "Hoạt động cm sát nhân dân - Qua
thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế" làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm của Đảng và Nhà nước; Quá trình hình thành và
phát triển của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế
nói riêng và các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Đề
tài đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân nói chung và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng. Đồng
thời kiến nghị, đề xuất sửa đổi bổ sung một số quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động
của Viện kiểm sát nhân dân.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và
thực trạng hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở pháp lý về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2002 và Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm
2011).
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên

6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng duy vật,
chủ nghĩa Mác - Lê Nin; các quan điểm của Đảng và Nhà nước và các quy định của pháp luật về
hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.
Trên cơ sở phương pháp luận đã nêu, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng
trong Luận văn bao gốm: Phương pháp phân tích; Phương pháp tổng hợp; Phương pháp thống kê
và Phương pháp so sánh.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đóng góp của đề tài về mặt khoa học pháp lý (lý luận chung về Nhà nước và pháp luật) là
góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chức năng, nhiệm vụ, vai trò, công tác của Viện kiểm sát nhân
dân. Kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động của
Viện kiểm sát nhân dân.
Đóng góp của đề tài về mặt thực tiễn là đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Thừa Thiên Huế nói riêng.
8. Bố cục của Luận văn
Luận văn được chia làm 3 phần, bao gồm:
Phần 1: Phần mở đầu.
Phần 2: Phần nội dung, gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.
Chương 2: Thực trạng hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân -
Qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phần 3: Phần kết luận.

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân ở
nước ta

quan công an và của các cơ quan điều tra khác; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét
xử của tòa án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc giam giữ của các trại giam; Khởi tố hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự
quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.
Kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1960 cho đến nay, Nhà nước ta đã tiếp tục ban hành các đạo luật về tổ chức và hoạt động của
Viện kiểm sát nhân dân. Các đạo luật này về cơ bản vẫn giữ nguyên mô hình tổ chức, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1960.
Đến năm 2002, trên cơ sở của Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001),
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hai chức
năng: thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp cho đến nay.
1.2 Những quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân.
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân
Theo quy định tại Điều 137 - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 của Quốc hội khóa X, thì chức năng
của Viện kiểm sát nhân dân được quy định như sau:
“Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định.”
Như vậy, theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp.
Thực hành quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho
một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực
hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác

những việc khác theo quy định của pháp luật. Quá trình đó, các cơ quan tư pháp được pháp luật trao thẩm
quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm giữ đồ
vật, tài liệu, kê biên tài sản, phong tỏa tài sản, cấm chuyển dịch quyền về tài sản v.v. và kết thúc quá trình giải
quyết, Tòa án có quyền ra các phán quyết ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền quan trọng nhất của con người
như quyền sống, quyền tự do, quyền sỡ hữu v.v. là các quyền được đặc biệt tôn trọng và bảo đảm thực hiện
trong Nhà nước pháp quyền. Do vậy, hoạt động tư pháp cần và phải chịu sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt
chẽ của nhiều cơ chế khác nhau, đặc biệt là phải thiết lập cho được cơ chế giám sát trực tiếp, thường xuyên, có
tính chuyên nghiệp cao. Trong điều kiện cụ thể của Nhà nước ta, cơ chế đó chính là Viện kiểm sát nhân dân.
Thông qua chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân đã phát hiện nhiều vi phạm
trong việc điều tra, bắt, tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, thi hành án để xem
xét kiến nghị, kháng nghị, góp phần quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
1.2.3 Những công tác của Viện kiểm sát nhân dân
1.2.3.1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc
điều tra các vụ án hình sự
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc điều tra các vụ án hình sự của các Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra nhằm bảo đảm cho mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều
tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Không để
người nào bị khởi tố, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; Bảo đảm những vi phạm
pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời, xử lý nghiêm minh và bảo
đảm cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật.
1.2.3.2 Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự
Trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm thực
hành quyền công tố, bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội
phạm và người phạm tội, nhằm đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời.
1.2.3.3 Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành
chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình,

Tóm lại, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta cũng như các quy định của pháp luật hiện hành
đều khẳng định Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp, đồng thời đảm bảo các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện có hiệu quả
hai chức năng này.
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 Tóm tắt điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là một tỉnh ở miền Trung Việt Nam, chiều dài địa bàn tỉnh là 127 km,
chiều rộng trung bình 60 km, diện tích 5,065,3 km
2
. Dân số Thừa Thiên Huế là 1.150.900 người.
Mật độ dân số bình quân toàn tỉnh là 200 người/km
2
.
Hiện nay, tỉnh Thừa Thiên Huế có 9 đơn vị hành chính, gồm thành phố Huế, 6 huyện đồng
bằng là Hương Thuỷ, Hương Trà, Quảng Điền, Phong Điền, Phú Vang, Phú Lộc và 2 huyện miền
núi là Nam Đông, A Lưới.
2.2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Thừa Thiên Huế
Cùng với sự hình thành hệ thống chính quyền và tổ chức đoàn thể, sau ngày quê hương
hoàn toàn giải phóng (26-3-1975), ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cũng nhanh
chóng được hình thành. Tháng 9-1975, lực lượng cán bộ Kiểm sát đầu tiên của Thừa Thiên Huế
do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cử vào để thành lập Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên
Huế gồm 9 đồng chí. Trải qua hơn 35 năm xây dựng và phát triển, đến nay Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Thừa Thiên Huế có 9 phòng nghiệp vụ và 9 Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. Tổng số
cán bộ toàn ngành là 178 đồng chí, trong đó kiểm sát viên cấp tỉnh có 31 đồng chí, kiểm sát viên
cấp huyện có 59 đồng chí. Số cán bộ có trình độ Cử nhân Luật trở lên là 158 đồng chí, chiếm tỷ
lệ 88,7 %.
2.3 Kết quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm
2007 đến năm 2011 (từ 01/01/2007 đến 31/12/2011)

2.238 vụ / 3.127 bị cáo, trong đó có 332 vụ tham gia xét xử lưu động tại địa bàn các bị cáo đã
thực hiện hành vi phạm tội. Kết quả xét xử, Tòa án nhân dân hai cấp đã tuyên các hình phạt
chính gồm: phạt tiền 35 bị cáo, cải tạo không giam giữ 87 bị cáo, từ 3 năm tù trở xuống 2464 bị
cáo trong đó cho hưởng án treo 1266 bị cáo (chiếm tỷ lệ 40,5 % so với tổng số bị cáo Toà án đã
đưa ra xét xử), từ trên 3 năm tù đến 7 năm tù 327 bị cáo, từ trên 7 năm tù đến 15 năm tù 159 bị
cáo, trên 15 năm tù 46 bị cáo, tù chung thân 9 bị cáo.
Trong các quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân
dân hai cấp đã chú trọng nâng cao chất lượng xét hỏi, tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Nhìn
chung, về cơ bản các vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm đều đảm bảo tính khách quan, chính xác và
đúng quy định của pháp luật. Tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị hầu hết phù hợp với
kết quả xét xử của Hội đồng xét xử. Không có trường hợp nào Viện kiểm sát phải đình chỉ vì hành vi
không cấu thành tội phạm; Kiểm sát viên rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn. Điểm
đáng lưu ý, là không có trường hợp nào Viện kiểm sát truy tố mà Toà án xét xử tuyên không phạm tội.
Về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự. Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh đã thụ lý kiểm sát xét xử phúc thẩm 1019 vụ / 1089 bị cáo. Tòa án nhân
dân tỉnh đã đưa ra xét xử phúc thẩm 821 vụ / 864 bị cáo, đình chỉ xét xử 156 vụ / 166 bị cáo.
Hiện còn chưa xét xử 42 vụ / 59 bị cáo, đang trong hạn luật định.
Qua công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã ban hành 108 kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh đã đưa ra xét xử 98 vụ, hiện còn 10 vụ chưa xét xử.
Trong số các vụ án đã đưa ra xét xử, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã chấp nhận kháng nghị 48
vụ.
2.3.3 Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành
chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật
- Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình
Vụ, việc sơ thẩm: Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã kiểm sát việc thụ lý 4217 vụ, việc.
Tòa án nhân dân hai cấp đã giải quyết 3981 vụ, việc. Trong đó: tạm đình chỉ giải quyết 253 vụ,
việc; đình chỉ giải quyết 257 vụ, việc; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 1801 vụ, việc;
đưa ra xét xử sơ thẩm 1670 vụ, việc. Hiện còn 236 vụ, việc đang tiếp tục giải quyết.
Vụ, việc phúc thẩm: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã thụ lý giải quyết 253 vụ, việc
(trong đó Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã kháng nghị phúc thẩm 51 vụ). Tòa án nhân dân tỉnh

dụng đất khi thu hồi đất, giải phóng mặt bằng không thỏa đáng nên phát sinh việc khiếu kiện
hành chính. Tòa án nhân dân hai cấp đã đưa ra xét xử 80 vụ, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã
tham gia xét xử 80 vụ, đạt tỷ lệ 100 %.
Về án kinh tế: Án sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã kiểm sát việc thụ lý 229 vụ,
đã giải quyết 202 vụ, trong đó đình chỉ giải quyết 20 vụ, xét xử 69 vụ, công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự 75 vụ, tạm đình chỉ giải quyết 38 vụ, còn lại 27 vụ. Án phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh thụ lý giải quyết 20 vụ, đã giải quyết 19 vụ, hiện còn 1 vụ đang tiếp tục nghiên cứu, giải quyết.
Về án lao động: Nội dung tranh chấp chủ yếu là người lao động không đồng ý với quyết
định kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc không đồng ý với quyết định chấm dứt hợp đồng
lao động của người sử dụng lao động. Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã kiểm sát việc thụ lý 28 vụ
(19 vụ sơ thẩm, 9 vụ phúc thẩm). Đã giải quyết 27 vụ, trong đó công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự 20 vụ, xét xử 7 vụ.
Về yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh kiểm sát việc
thụ lý 05 vụ từ năm 2007 đến nay. Quá trình giải quyết, Tòa án nhân dân tỉnh đã ra quyết định
thanh lý tài sản; bán đấu giá thu hồi giá trị tài sản còn lại; mở Hội nghị các chủ nợ khách hàng và
phân chia tỷ lệ trả nợ cho các chủ nợ theo qui định của Luật phá sản. Tuy nhiên, đến nay vẫn
chưa có trường hợp nào được Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
2.3.4 Công tác kiểm sát việc thi hành án
- Công tác kiểm sát việc thi hành án hình sự
Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã tập trung kiểm sát chặt chẽ việc ra quyết định thi
hành án hình sự của cơ quan Tòa án cùng cấp; việc đưa người bị kết án phạt tù đi chấp hành án;
việc hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Đã lập hồ sơ kiểm sát 2550 người bị kết án phạt tù
có thời hạn, đã thi hành 2454 người, tạm đình chỉ 61 người, còn lại chưa thi hành án 35 người,
trong đó số hoãn thi hành án 23 người, công an chưa áp giải 2 người, trốn đã ra lệnh truy nã 8
người, đang làm thủ tục xét hoãn 1 người, 1 bị án phạt tù tại ngoại còn trong thời gian tự nguyện
thi hành án.
Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã tiến hành kiểm sát 805 quyết định thi hành án phạt tù
cho hưởng án treo, 42 quyết định cải tạo không giam giữ. Qua công tác kiểm sát, phát hiện 130
quyết định có vi phạm, đã ban hành 3 kháng nghị về 03 trường hợp tạm giam quá hạn của Tòa án
nhân dân tỉnh; 15 kháng nghị về quyết định thi hành án hình sự không đúng với nội dung bản án;

trường hợp; hủy bỏ quyết định tạm giữ 16 trường hợp; không phê chuẩn lệnh bắt tạm giam 26 bị
can; hủy bỏ biện pháp tạm giam 7 bị can.
Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã thường kỳ tiến hành kiểm sát Nhà tạm giữ, Trại tạm
giam 150 lần, đều có văn bản kết luận. Đã ban hành kiến nghị, yêu cầu khắc phục sửa chữa một
số vi phạm trong công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành
án phạt tù.
2.4 Đánh giá chung về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên
Huế
2.4.1 Những thành tựu đã đạt được trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Thừa Thiên Huế
Nhìn chung, giai đoạn từ 2007 đến 2011, cùng với các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa
phương, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Thừa Thiên Huế đã tập trung giải quyết một khối
lượng lớn án hình sự. Điểm nổi bật nhất là trong số các vụ án đã giải quyết, không có vụ án nào
quá hạn điều tra, truy tố, xét xử, không có vụ án nào Viện kiểm sát truy tố mà Toà án tuyên
không phạm tội, không có các trường hợp hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế và ngược lại.
Không có vụ án nào phải đình chỉ điều tra do hành vi không cấu thành tội phạm. Tỷ lệ tạm giữ
theo thủ tục tố tụng hình sự sau đó phải trả tự do chuyển xử lý hành chính từ chỗ chiếm tỷ lệ đến
30,9 % vào năm 2000 đến nay đã không còn xảy ra trường hợp nào. Không có trường hợp nào
quá hạn tạm giữ, tạm giam, không có trường hợp nào bắt giữ oan sai người vô tội. Có thể nói,
đây là thành tựu cơ bản nhất đã đạt được trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa
Thiên Huế.
Nguyên nhân của những thành tựu đã đạt được trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Thừa Thiên Huế
Đạt được những kết quả trên đây là do Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã thường xuyên
quan tâm thực hiện tốt công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành. Các phòng nghiệp vụ Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra, tự kiểm tra, có kế hoạch kiểm tra thường xuyên các
đơn vị cấp huyện mỗi quý một lần, xây dựng nhiều chuyên đề nghiệp vụ để các đơn vị rút kinh
nghiê
̣
m th ực hiện. Tổ chức cho cán bộ, kiểm sát viên ở Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tham dự các

năng tranh luận tại phiên toà của đa số Kiểm sát viên chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu của cải cách
tư pháp. Chất lượng công tác kiểm sát việc xét xử của Tòa án nhân dân hai cấp chưa cao nên không
phát hiện được nhiều vi phạm để kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục, sữa chữa. Thực trạng xét xử sơ
thẩm án hình sự vẫn còn nhiều thiếu sót, tồn tại, vi phạm pháp luật cần phải được khắc phục sửa chữa
kịp thời, đảm bảo việc xét xử hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên hiện nay chất
lượng kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Thừa Thiên Huế còn thấp, số
lượng án bị kháng nghị chưa nhiều, cá biệt có đơn vị trong thời gian khảo sát chưa kháng nghị được vụ
nào.
- Về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động và những việc
khác theo quy định của pháp luật: Nhìn chung, chất lượng và hiệu quả của khâu công tác này là
khá thấp, thông thường chỉ phát hiện được các vi phạm về mặt hình thức của bản án và quyết
định của Tòa án, còn nội dung vụ án thì không phát hiện được để ban hành kiến nghị, kháng
nghị.
- Về công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án
phạt tù, công tác kiểm sát thi hành án: Một số bộ phận kiểm sát viên chưa thường xuyên theo sát
việc ra quyết định của các cơ quan Tòa án, thi hành án nên chậm phát hiện các vi phạm để kịp
thời kiến nghị, kháng nghị nên chất lượng và hiệu quả của khâu công tác này chưa được nâng
cao. Cá biệt có Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện còn có tình trạng nể nang, né tránh không đưa
vào kết luận kiểm sát những vi phạm đã được phát hiện để kháng nghị.
Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Thừa Thiên Huế
Để xảy ra những hạn chế nêu trên, có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất vẫn
xuất phát từ đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên. Bên cạnh những mặt tích cực, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp
tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn đang thiếu nhiều cán bộ chuyên môn giỏi ở từng lĩnh vực công tác kiểm sát,
thiếu những đồng chí nhanh nhạy giải quyết các vấn đề khó khăn mà thực tiễn đang đặt ra, mặt khác ý
thức trách nhiệm, tính tổ chức kỷ luật chưa được phát huy tốt, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng công tác.
Tư tưởng hữu khuynh, né tránh, ngại va chạm, ý thức tự giác, tự rèn luyện của một số cán bộ còn yếu như
ngại học, ngại nghiên cứu, làm việc cầm chừng, hiệu quả chưa cao vẫn còn tồn tại. Trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của một số cán bộ, Kiểm sát viên thật sự không thể đáp ứng được yêu cầu công việc.
Nguyên nhân tiếp theo là việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán

- Giải pháp thứ ba là phải tăng cường trách nhiệm của Kiểm sát viên trong các hoạt động
thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
- Giải pháp thứ tư là Viện kiểm sát nhân dân các cấp phải thường xuyên xây dựng các chuyên
đề nghiệp vụ, tổ chức các hội nghị, hội thảo, tập huấn về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp để toàn thể cán bộ, công chức học tập, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất
lượng công tác kiểm sát. Tuy nhiên các hoạt động nêu trên phải được đầu tư kỹ càng, có chất lượng,
tránh tình trạng tổ chức tràn lan, cán bộ tập huấn chưa có nhiều kinh nghiệm hoặc không có kỹ năng
truyền đạt, tài liệu phổ biến sơ sài, hiệu quả thấp.
- Giải pháp thứ năm là phải xây dựng cơ chế bắt buộc thực hiện các kiến nghị của Viện
kiểm sát nhân dân.
- Giải pháp thứ sáu là cải cách chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công
chức ngành Kiểm sát. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện làm việc cho Viện kiểm
sát nhân dân địa phương.
- Giải pháp thứ bảy là Viện kiểm sát nhân dân phải xác lập tốt mối quan hệ công tác với
các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan Nhà nước khác trong quá trình thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
3.2 Một số giải pháp cụ thể:
3.2.1 Về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân
dân có trách nhiệm bảo đảm mọi hành vi phạm tội và người phạm tội đều phải được phát hiện và
xử lý kịp thời, có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Không để lọt tội phạm nhưng đồng thời
không để làm oan người vô tội. Tuy nhiên, qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế, chúng tôi thấy
rằng do chưa có cơ chế tiếp nhận, quản lý tin báo, tố giác tội phạm nên có dấu hiệu bỏ lọt tội
phạm. Vì vậy, để nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự, chúng tôi kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân Tối cao cần thành lập “Vụ kiểm sát
việc giải quyết các tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố”, ở Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh cần thành lập “Phòng kiểm sát việc giải quyết các tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi
tố”, ở Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thì tổ chức bộ phận chuyên trách thực hiện khâu công
tác này, nhằm tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm.
Ngoài ra, để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ

Đối với bài phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên
tòa phúc thẩm, có Kiểm sát viên chỉ nêu chung chung về quan điểm giải quyết án của Viện kiểm
sát mà không viện dẫn được các điều luật hoặc các văn bản pháp luật có liên quan để chứng minh
cho lập luận của mình. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp phải
thường xuyên bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng viết các văn bản tố tụng nêu trên cho Kiểm sát viên,
trong đó chú trọng đến việc phân biệt các nhóm tội phạm trong các lĩnh vực an ninh, trật tự an
toàn xã hội, kinh tế và chức vụ, môi trường, ma túy thì yêu cầu xây dựng các văn bản tố tụng nêu
trên cũng có sự khác nhau.
Giải pháp tiếp theo để nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm
sát xét xử các vụ án hình sự là phải nâng cao chất lượng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên
tòa.
Tranh luận tại phiên tòa là một hoạt động tố tụng, theo đó các bên tham gia phiên tòa,
trong đó Viện kiểm sát là một bên bắt buộc đối đáp với nhau nhằm xác định sự thật khách quan
của vụ án để giúp Hội đồng xét xử đưa ra phán quyết. Trong tranh luận, Kiểm sát viên có vị trí,
vai trò rất quan trọng, là bên buộc tội, đại diện cho Nhà nước giữ quyền công tố trước Tòa để đối
đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.
Khi tranh luận, kiểm sát viên có trách nhiệm chứng minh sự thật khách quan của vụ án,
vừa bảo vệ quan điểm truy tố nhưng đồng thời phải tôn trọng kết quả thẩm vấn công khai tại
phiên tòa, bảo đảm tính hợp pháp, có căn cứ và dân chủ trong tranh luận, không chủ quan, áp đặt,
suy diễn về tội phạm và người phạm tội. Để làm được các nhiệm vụ nêu trên, Kiểm sát viên phải
thực sự có bản lĩnh, tự tin, sắc sảo và có kỹ năng tranh luận tại phiên tòa. Tuy nhiên, qua thực
tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế, chúng tôi thấy rằng khả năng tranh luận tại phiên toà của đa số Kiểm
sát viên còn thấp, chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp. Vì vậy, phải thường
xuyên tập huấn, nâng cao kỹ năng tranh luận tại phiên tòa cho Kiểm sát viên. Hướng dẫn cho
Kiểm sát viên phương pháp tranh luận trong từng trường hợp cụ thể, đúc rút kinh nghiệm để xây
dựng hướng dẫn tranh luận cho Kiểm sát viên. Bên cạnh đó, Kiểm sát viên được phân công thực
hành quyền công tố tại phiên toà phải nghiên cứu kỹ và nắm chắc hồ sơ vụ án, chuẩn bị tốt nội
dung xét hỏi, tranh luận với bị cáo, luật sư, người bào chữa v.v để có thể thực hiện tốt việc tranh
luận tại phiên tòa.
3.2.3 Về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành

sát viên chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ
khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Tương tự như vậy, đối với công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, Luật
tố tụng hành chính 2010 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2011) cũng quy định Kiểm sát viên chỉ phát
biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán,
Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng hành chính ở phiên tòa sơ
thẩm.
Qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế, chúng tôi thấy rằng do Kiểm sát viên chỉ phát biểu
ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng mà không phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về
việc giải quyết toàn bộ vụ án (tức không phát biểu quan điểm về nội dung vụ án) nên Kiểm sát
viên chỉ nghiên cứu về mặt pháp luật tố tụng mà không nghiên cứu về mặt pháp luật nội dung
của vụ án nên không thể ban hành kháng nghị về mặt nội dung của vụ án được. Vì vậy, chất
lượng và hiệu quả của công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình,
kinh tế, hành chính còn khá thấp.
Để góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn
nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, chúng
tôi cho rằng cần sửa đổi các quy định của pháp luật theo hướng tại các phiên tòa, phiên họp sơ thẩm các
vụ án dân sự, hành chính Kiểm sát viên phải phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, có như vậy
Viện kiểm sát mới có thể ban hành được các kiến nghị, kháng nghị, cùng Tòa án giải quyết các loại án
này một cách kịp thời, đúng quy định của pháp luật.
3.2.4 Về công tác kiểm sát việc thi hành án
Trong lĩnh vực thi hành án hình sự, để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát, Viện kiểm sát
nhân dân phải tăng cường phối hợp với các ngành Công an, Toà án để quản lý và nắm chắc các trường
hợp người bị kết án phạt tù đã có quyết định thi hành án nhưng chưa thi hành để tổ chức đưa đi thi hành
theo quy định của pháp luật. Đồng thời phải chú ý, tập trung kiểm sát những trường hợp được hoãn,
tạm đình chỉ thi hành án phạt tù để yêu cầu cơ quan có trách nhiệm đưa ra thi hành đối với những
trường hợp không còn đủ điều kiện nữa. Chú trọng kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi
hành các hình phạt bổ sung theo quy định của Bộ luật hình sự. Ngoài thực hiện nhiệm vụ kiểm sát thi
hành án phạt tù, Viện kiểm sát nhân dân các cấp phải tăng cường hơn nữa công tác kiểm sát việc thi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status