NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐÒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
MỤC LỤC
LỜI NÓIĐẰU................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN CẤP HUYỆN.................................................................................................4
1.1 Khái quát chung về Viện kiểm sát nhân dân.....................................................4
1.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân
qua các bản Hiến pháp.............................................................................................4
1.1.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959....................................................4
1.1.1.2 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980....................................................6
1.1.1.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992....................................................6
1.1.1.4 Giai đoạn từ năm 1992 đến nay..............................................................7
1.1.2 Vị trí pháp lý và vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy
16
1.2.2.1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự........16
1.2.2.2 Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự...........17
2.4.5 Với cơ quan thi hành án huyện Ba Tri........................................................35
2.4.6 Với Hội đồng nhân dân huyện Ba Tri.........................................................36
2.4.7 Với Viện kiểm sát nhân dân cấp trên..........................................................36
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE TRONG NĂM 2008 - THÀNH
Tựu - HẠN CHÉ VÀ KIẾN NGHỊ HƯỚNG HOÀN THIỆN.........................37
3.1 Kết quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Trí, tỉnh
Bến Tre trong năm 2008........................................................................................37
3.1.1 Trong lĩnh vực hình sự...............................................................................37
3.2.2.3 về khiếu tố............................................................................................46
3.3 Những thành tựu đạt được của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri,
tỉnh Bến Tre trong thòi gian qua..............................................................................46
3.3.1 về vấn đề tổ chức cơ quan..........................................................................46
3.3.2....................................................................................................................... về vấn
đề thực hiện dân chủ trong hoạt động cơ quan......................................................47
3.3.3....................................................................................................................... về vấn
đề đào tạo kỹ năng cho cán bộ - kiểm sát viên......................................................47
3.3.4 về điều kiện làm việc và sinh hoạt.............................................................47
dẫn tới tình trạng oan sai cho người dân. Đe tìm hiểu rõ hơn công tác kiểm sát ở huyện
Ba Tri, tỉnh Bến Tre, từ đó phát hiện ra những ưu, nhược điểm và đề xuất những kiến
nghị góp nhàn nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện
hiện nay, người viết xin chọn đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 1
hiện nay. Có rất nhiều sách báo, tài liệu và các bài viết về vấn đề này, tuy nhiên các bài
viết này hàu hết đều đề cập đến một vấn đề nhất định về tổ chức và hoạt động của hệ
thống Viện kiểm sát nhân dân nói chung, còn vấn đề tổ chức và hoạt động của một Viện
kiểm sát cụ thể thì ít được đề cập đến. Để nghiên cứu về vấn đề này, chủ yếu người viết
dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, các tài liệu tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho
cán bộ - Kiếm sát viên Viện kiếm sát nhân dân cấp huyện, đồng thời dựa trên sự quan sát
những vấn đề thực tiễn phát sinh qua tìm hiểu về tình hình hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lý luận về Viện kiểm sát nhân dân của các nhà
nghiên cứu, các tài liệu về nghiệp vụ kiểm sát và qua thực tiễn, người viết đánh giá được
thực trạng tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện mà cụ thể là Viện
kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Ben Tre, nêu lên những thành tựu đạt được đồng
thời rút ra những hạn chế, vướng mắc từ đó kiến nghị phương hướng hoàn thiện nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiếm sát nhân dân.
4. Giói hạn nghiên cứu đề tài
Đề tài giới hạn trong việc phân tích cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật về
vấn đề tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, đồng thời tìm hiểu
tỉnh Bến Tre trong năm 2008 - Thành tựu - Hạn chế và kiến nghị phương hướng
hoàn thiện.
Do tính phức tạp của đề tài cùng với những hạn chế về khả năng, trình độ và điều
Trang 3
1 Trích bài viết Tổ chức và hoạt động cùa Viện kiểm sát nhân dân _ Phó Chủ nhiệm ủy ban Pháp luật
của Quốc
hội Trần Thế Vượng
CHƯƠNG1
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1.1 Stf lược về lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân qua
các bản hiến pháp1
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa ra đời. Từ đó đến nay, trong quá trình xây dựng bộ máy nhà nước, Đảng và Nhà
nước ta luôn luôn quan tâm đến việc thành lập và kiện toàn các cơ quan tư pháp, trong đó
có Viện kiểm sát nhân dân. Có thể nói tổ chức cơ quan Viện kiểm sát nhân dân của nước
ta đã trải qua những bước phát triển khác nhau phù hợp với nhận thức, mức độ phát triển
của xã hội và đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn đặt ra đối với từng giai đoạn lịch sử. Quá
trình hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân có thể được phân theo các giai
đoạn lịch sử khác nhau như sau:
l.l.l.l
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959
Ngày 14/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành sắc lệnh số 33A quy định
phương gồm có: Viện Kiếm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn
vị hành chính tương đương; Viện Kiếm sát nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã
hoặc đơn vị hành chính tương đương, Viện Kiểm sát nhân dân ở các khu vực tự trị.
Viện Kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ và quyền hạn:
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư,
chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan nhà nước địa
phương, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước và công dân;
- Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án nhân dân
những người phạm pháp về hình sự;
- Kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và của
cơ quan điều tra khác, trong việc xét xử của Toà án nhân dân và trong việc chấp hành các
bản án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của trại giam;
- Khởi tố hoặc tham gia tố tụng những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến
lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.
1.1.13 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp năm
1980. Hiến pháp năm 1980 quy định: “Viện Kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo.
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cẩp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện
Kiểm sát nhân dân cẩp trên, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự
lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng, các
Phó Viện trưởng vò Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân địa phương do Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân toi cao bo nhiệm VÀ bãi nhiệm”. Như vậy, Hiến pháp năm 1980
đã nhấn mạnh đến chức năng “thực hành quyền công tố” của Viện Kiểm sát, đồng thời đã
đề cao vai trò và trách nhiệm của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
Trong thời gian này, Quốc hội khoá VII đã thông qua Luật tổ chức Viện Kiểm sát
nhân dân năm 1981 và được sửa đổi, bổ sung vào năm 1989. Luật này đã quy định cụ thể,
Trang 6
2/4/2002 Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 thay thế
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992. Một nội dung quan trọng được đổi mới
đó là Viện kiểm sát nhân dân không còn thực hiện chức năng kiểm sát chung mà được
Trang 7
giới hạn lại ở chức năng kiếm sát các họat động tư pháp. Pháp lệnh kiếm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân năm 1992 cũng được thay thế bằng Pháp lệnh kiểm sát viên Viện kiếm
sát nhân dân năm 2002 quy định các tiêu chuẩn của kiểm sát viên.
Như vậy, về mặt cơ cấu tổ chức, sau khi ban hành Hiến pháp năm 1992, về cơ
bản, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã kiện toàn và đổi mới một bước quan trọng. Với
cơ cấu tổ chức như vậy, Viện kiểm sát nhân dân đã đạt được những kết quả nhất định, tạo
nên một số chuyển biến tích cực trong hoạt động tư pháp ở nước ta, cùng với các cơ quan
nhà nước khác thực hiện một cách có hiệu quả đường lối đối mới của Đảng và Nhà nước.
1.1.2 Vị trí pháp lý và vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà
nước
1.1.2.1 Vị trí pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân
Theo Hiến pháp năm 1992, Viện kiểm sát nhân dân là một bộ phận họp thành của
bộ máy nhà nước ta. Để tìm hiểu về vị trí pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân, ta có thể
tham khảo sơ đồ bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1992:
Bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1992
Trang 8
Theo sơ đồ trên, ta thấy Viện kiếm sát nhân dân được tố chức và họat động theo
chế độ tập trưng thống nhất, lãnh đạo trong ngành, không thuộc bất cứ cơ quan nào, tồn
tại như một hệ thống độc lập có vị trí đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nước do
Trang 9
- Đảm bảo cho việc phát hiện tội phạm và người phạm tội một cách chính xác,
khách quan, đày đủ trong tất cả các giai đọan tố tụng. Vai trò này được thể hiện trong
việc Viện kiểm sát được quyền phê chuẩn việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp như tạm
giam, tạm giữ, khám xét tang vật...
1.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà
nước
1.1.3.1 Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân
Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân
thực hiện các chức năng sau:
- Thực hành quyền công tố: chức năng này chỉ thể hiện trong tố tụng hình sự,
được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng
- Kiểm sát các họat động tư pháp: bao gồm kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trong việc xét xử các vụ án hình sự;
trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao
động và những việc khác theo quy định của pháp luật; trong việc thi hành bản án, quyết
định của Tòa án nhân dân; trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp
hành án phạt tù.
Khác với các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trước đây (Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 1960, 1981, 1992), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2002 đã đặt chức năng thực hành quyền công tố - đây là chức năng đặc thù chỉ có ở Viện
kiếm sát nhân dân - lên trên chức năng kiếm sát họat động tư pháp và coi đó là chức năng
cơ bản nhất nhân danh công quyền của Viện kiểm sát nhân dân. Theo Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân cũng không còn thực hiện chức
năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế xã
hội, các đơn vị lực lượng vũ trang và công dân trong lĩnh vực hành chính, kinh tế xã hội
(còn gọi là chức năng kiểm sát chung), mà thay vào đó là chức năng kiểm sát các họat
mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong từng thời kỳ.
1.1.4 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
Là một bộ phận họp thành của bộ máy nhà nước, hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân cũng tuân theo các nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước như: nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc pháp chế
xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc nhân dân lao động tổ chức nên bộ máy nhà nước và tham
gia quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, Viện kiểm sát nhân dân cũng hoạt động theo những
nguyên tắc riêng phù họp với tính chất đặc thù của ngành.
Theo Điều 13 Hiến pháp 1992 và Điều 8 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 2002 quy định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân gồm hai
nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc tập trung lãnh đạo thống nhất trong ngành;
Trang 11
- Nguyên tắc độc lập không lệ thuộc vào bất kỳ một cơ quan nào ở địa phương.
1.1.4.1 Nguyên tắc tập trung lãnh đạo thống nhất trong ngành
Theo nguyên tắc này thì toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói chung
phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiếm sát nhân dân tối cao và cơ quan này
phải chịu trách nhiệm về hoạt động của toàn ngành kiểm sát trước Quốc hội, Chủ tịch
nước, ủy ban thường vụ Quốc hội. Còn ở mỗi Viện kiểm sát nhân dân nói riêng phải đặt
dưới sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng. Chính Viện trưởng là người có quyền và
trách nhiệm quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân và
chịu trách nhiệm cá nhân về mọi công việc của mình trước Viện kiểm sát nhân dân tối
cao. Nhưng Viện trưởng không quyết định vấn đề một cách độc đoán mà trên cơ sở bàn
bạc tập thể thông qua ủy ban kiểm sát để thảo luận những vấn đề quan trọng như:
phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác...
Nguyên tắc này không có nghĩa là hệ thống Viện kiểm sát nhân dân hoạt động
theo nguyên tắc riêng biệt, không liên quan đến nguyên tắc tổ chức và hoạt động chung
chức Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên các Viện kiểm sát nhân dân địa
phương. Sự độc lập trong tổ chức tạo điều kiện thuận lợi để các Viện kiểm sát nhân dân
độc lập trong hoạt động.
Nguyên tắc này cũng có ý nghĩa đảm bảo tính độc lập, khách quan trong hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân. Như đã biết, Kiểm sát viên được bổ nhiệm theo từng
nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ là 5 năm. Giả sử Viện kiếm sát nhân dân là cơ quan trực thuộc
Hội đồng nhân dân địa phương và Hội đồng nhân dân địa phương có quyền bổ nhiệm, bãi
nhiệm Kiểm sát viên thì trong hoạt động của Kiểm sát viên luôn chịu sự chi phối của Hội
đồng nhân dân và như vậy sẽ không đảm bảo được chức năng mà pháp luật đặt ra cho cơ
quan kiểm sát.
1.1.5 Hệ thống viện kiểm sát nhân dân
Viện kiếm sát nhân dân được thành lập hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương
theo 3 cấp: trung ương, tỉnh và huyện, phù họp với mô hình tổ chức bộ máy nhà nước ta.
Theo Điều 30, 31 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định hệ
thống Viện kiếm sát nhân dân bao gồm:
- Viện kiếm sát nhân dân tối cao;
- Các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung
là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh);
- Các Viện kiểm sát nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện);
- Các Viện kiểm sát quân sự.
1.1.5.1 Viện kiểm sát nhân dãn tối cao
Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có: ủy ban kiểm sát, cục, vụ, viện, văn
phòng và Trường bồi dưỡng đào tạo nghiệp vụ kiểm sát.
Trang 13
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của các cơ quan tư pháp ở trung ương và địa phương và thực hành quyền công tố Nhà
121/2003/QĐ-VTC ngày 19/4/2003 quy định bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân
dân cấp huyện gồm có các bộ phận công tác sau đây:
- Bộ phận thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và kiểm
sát vịêc tạm giữ, tạm giam;
- Bộ phận giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh tế,
lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, kiểm sát thi hành án;
- Bộ phận văn phòng tổng họp, thống kê tội phạm và khiếu tố.
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện không có ủy ban kiểm sát như đối với cấp tỉnh
và trung ưomg mà chỉ có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc do Viện trưởng và
Phó Viện trưởng phân công.
1.2.1.2 Cơ cẩu nhân sự của Viện kiểm sát nhăn dân cấp huyện
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và
Kiểm sát viên.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện do Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức; có trách nhiệm lãnh đạo họat động
của Viện kiểm sát nhân dân cấp mình; chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao; đồng thời chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp;
chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân; trả lời chất vấn, kiến nghị,
yêu cầu của đại biểu Hội đồng nhân dân.
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện do Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng
làm nhiệm vụ theo sự phân công của Viện trưởng. Khi Viện trưởng vắng mặt, một Phó
Viện trưởng được Viện trưởng ủy nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Viện kiểm sát.
Phó Viện trưởng chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về nhiệm vụ được giao.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện cũng do Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao bổ nhiệm và miễn nhiệm. Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ thực
hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền Viện kiểm sát cấp
mình theo phân công của Viện trưởng và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng. Khi thực
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp
tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật;
- Yêu cầu Thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của
pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các
biện pháp ngăn chặn khác, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều
tra theo quy định của pháp luật;
- Hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra;
Trang 16
- Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra;
đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
Khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có những
nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Kiểm sát việc khởi tố; kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án
của cơ quan điều tra;
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng;
- Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra theo quy định của pháp luật;
- Yêu càu cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động
điều tra; yêu cầu Thủ trưởng cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi
phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra;
- Kiến nghị với cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp
phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
1.2.2.2 Thực hành quyển công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm
sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến việc giải
quyết vụ án tại phiên tòa;
- Khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật;
- Tham gia các phiên Tòa và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân
về việc giải quyết vụ án;
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân
dân;
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng;
- Kiểm sát các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân;
- Yêu cầu Tòa án nhân dân áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời theo
quy định của pháp luật;
- Yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án
dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy
định của pháp luật để xem xét, quyết định việc kháng nghị.
1.2.2.4 Kiểm sát việc thi hành án
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hiện việc kiểm sát thi hành án đối với
những bản án đã được Tòa án nhân dân huyện mình xét xử và đã ra quyết định thi hành.
Khi thực hiện công tác kiểm sát thi hành án, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ
và quyền hạn sau đây:
Trang 18
- Yêu cầu Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới, Chấp
hành viên, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án:
+ Ra quyết định thi hành án đúng quy định của pháp luật;
+ Tự kiểm tra việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và
những bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật và thông báo
kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân;
+Thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản án,
quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật;
+ Cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng có liên quan đến việc thi hành án;
và giáo dục người chấp hành án phạt tù kiểm tra những nơi đó và thông báo kết quả cho
Viện kiểm sát nhân dân;
- Yêu cầu cơ quan cùng cấp, cấp dưới và người có trách nhiệm thông báo tình
hình tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; trả lời về quyết
định, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý
và giáo dục người chấp hành án phạt tù;
- Kháng nghị với cơ quan cùng cấp và cấp dưới yêu cầu đình chỉ việc thi hành,
sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản
lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và yêu
cầu xử lý người vi phạm pháp luật.
Đồng thời, trong quá trình thực hiện công tác này, Viện kiểm sát nhân dân có trách
nhiệm:
- Phát hiện và xử lý kịp thời các trường họp oan, sai trong tạm giữ, tạm giam,
quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; quyết định trả tự do ngay cho người bị
tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù không có căn cứ và trái pháp luật;
- Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và
giáo dục người chấp hành án phạt tù thì khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố về
hình sự.
Trang 20