Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương - qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 25

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
LỜI MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA
NGƯỜI QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI 5
1.1. Khái niệm người quản lý đất đai 5
1.1.1. Khái niệm công vụ 5
1.1.2. Khái niệm công chức 5
1.2. Trách nhiệm pháp lý 6
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm pháp lý 6
1.3. Mục đích việc truy cứu trách nhiệm pháp lý 9
1.4. Căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý 10
1.5. Các loại trách nhiệm pháp lý 13
1.6. Những yêu cầu cơ bản đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý 13
1.7. Các hành thức trách nhiệm pháp lý trong việc xử lý các hành vi
vi phạm pháp luật đất đai 15
2.1. Trách nhiệm hành chính 16
2.2. Trách nhiệm kỷ luật 17
2.3. Trách nhiệm hình sự 18
2.4. Trách nhiệm dân sự 19
3.1. Trách nhiệm pháp lý của cán bộ công chức 20
3.1.1. Trách nhiệm hình sự 20
3.1.2. Trách nhiệm dân sự 20
3.1.3. Trách nhiệm hành chính 20
3.1.4. Trách nhiệm kỷ luật của cán bộ công chức 20
3.2. Khái niệm, phân loại vi phạm pháp luật 25

2.3. Nguyên nhân chủ yếu của những mặt tích cực và hạn chế trong
việc thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của công chức 63
2.3.1. Nguyên nhân chủ yếu của những mặt tích cực 63
2.3.2. Nguyên nhân chủ yếu của những mặt hạn chế 64
2.4. Tình hình quản lý về đất đai tại tỉnh Thừa Thiên Huế 65
2.5. Những kết quả đạt được trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất
đai thể hiện trong các nội dung sau 66
2.6. Thực trạng vi phạm hành chính về đất đai ở tỉnh Thừa Thiên Huế 79
2.6.1. Tình hình vi phạm 81
2.6.2. Đánh giá tình hình vi phạm hành chính về đất đai ở Thừa Thiên Huế 88
2.7. Thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người quản lý
đất đai ở tỉnh Thừa Thiên Huế 91
2.7.1. Quan điểm, chủ trương và các văn bản của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân
dân tỉnh Thừa Thiên Huế trong xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
nói chung và vi phạm hành chính về đất đai nói riêng 91
2.7.2. Kết quả xử lý vi phạm pháp luật đất đai và vi phạm hành chính
về đất đai ở Thừa Thiên Huế 94
2.7.3. Nhận xét đánh giá về tình hình xử lý vi phạm hành chính về đất
đai ở Thừa Thiên Huế 96
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN VỀ
HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA
NGƯỜI QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI 99
3.1. Yêu cầu khách quan, cấp bách và quan điểm tăng cường trách nhiệm
pháp lý của người quản lý đất đai ở tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay. 99
3.1.1. Yêu cầu khách quan, cấp bách của việc tăng cường Trách nhiệm
pháp lý về đất đai ở Thừa Thiên Huế 99
3.1.2. Quan điểm về nâng cao Trách nhiệm pháp lý của người quản lý
đất đai ở Thừa Thiên Huế hiện nay 103
3.2. Các giải pháp kiến nghị góp phần áp dụng có hiệu quả và hoàn
thiện các quy định của pháp luật về Trách nhiệm pháp lý của người

QPPL: Quy phạm pháp luật
QSDĐ: Quyền sử dụng đất
SDĐ: Sử dụng đất
TNPL: Trách nhiệm pháp lý
UBND: Ủy ban Nhân dân
VPHC: Vi phạm hành chính
VPPL: Vi phạm pháp luật
XHCN: Xã hội chủ nghĩa

1
LỜI MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tặng vật của
thiên nhiên dành cho con người nhưng đất đai không phải là vô tận và nếu
việc quản lý, sử dụng không hợp lý thì con người sẽ phải trả giá cho những
hành động của mình. Việc quản lý đất đai ở nước ta trong những năm qua còn
tồn tại rất nhiều vấn đề bất hợp lý gây nhiều phản ứng gay gắt trong nhân dân
và là nỗi trăn trở của các nhà lãnh đạo. Hiện tượng vi phạm pháp luật của
người quản lý đất đai ở Việt Nam hiện nay còn khá phổ biến, nhất là tham
nhũng, tiêu cực, suy thoái về phẩm chất đạo đức là tương đối nghiêm trọng.
Các vi phạm pháp luật không giới hạn ở một lĩnh vực, một ngành, một địa
phương mà xảy ra trên phạm vi rộng, xảy ra ngay trong bộ máy các cơ quan
bảo vệ pháp luật.
Trong bảy năm qua, kể từ khi luật đất đai năm 2003 có hiệu lực từ ngày
01/07/2004 có rất nhiều cán bộ, công chức các cấp đã bị xử lý và khởi tố do
liên quan đến vi phạm về quản lý pháp luật đất đai. Tiêu cực đất đai là “địa
chỉ nóng” cần đánh mạnh. Vừa qua hàng loạt các vụ án lớn liên quan đến
quản lý đất đai như vụ Đồ Sơn, Phú Quốc, Bình Phước, Tiên Lãng-Hải

đóng góp được những giải pháp hay để tháo gỡ phần nào những vướng mắc
trong việc xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1.Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu hạn chế vi phạm pháp luật đất đai
của những người quản lý đất đai, nâng cao trách nhiệm pháp lý của họ để
mang lại hiệu lực và hiệu quả tốt nhất của nhà nước trong quản lý đất đai và
quyền và lơi ích chính đáng của người sử dụng đất nói.

3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận về trách
nhiệm pháp lý của người quản lý đất đai, nhằm nắm được thực trạng của việc
vi phạm pháp luật đất đai của người quản lý tại địa phương. Tìm ra nguyên
nhân vi phạm, từ đó rút ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của
pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người quản lý đất đai, đảm bảo thực
hiện tốt chế định này trong thực tiễn.
1.3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Liên quan đến lĩnh vực đất đai có rất nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều
góc độ khác nhau như: Quy hoạch đất đai, sử dụng đất đai, quản lý đất đai, vi
phạm của người sử dụng đất chứ chưa có đề tài nào nghiên cứu về vi phạm
của người quản lý. Vì vậy đây là đề tài hoàn toàn mới tại địa phương và chưa
có ai đặt vấn đề nghiên cứu. Khi chọn đề tài này tác giả biết rằng sẽ gặp rất
nhiều khó khăn vì tính phức tạp của vấn đề, nhưng với công tác chuyên môn
hiện tại, tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ của mình về mặt khoa học
và thực tiễn tại địa phương để góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền trong
giai đoạn hiện nay. Điểm mới của luận án thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
- Kiến giải một cách có cơ sở khái niệm trách nhiệm pháp lý của người
quản lý đất đai ở khía cạnh tiêu cực. Trong giới hạn nghiên cứu, đã làm sáng
tỏ khái niệm, đặc điểm trách nhiệm pháp lý của người quản lý đất đai, các

và tình trạng xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai chưa triệt để và
nghiêm minh.
- Qua các vấn đề nghiên cứu trên, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị
nhằm ngăn ngừa và xử lý vi phạm nghiêm minh, triệt để đối với người quản lý
đất đai. 5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

1.1. Khái niệm người quản lý đất đai
Người quản lý đất đai rất phong phú và đa dạng, bao gồm: Cán bộ,
công chức, viên chức, những người hợp đồng để giao nhiệm vụ quản lý đất
đai Luận văn này chủ yếu nghiên cứu người quản lý đất đai là công chức.
Công vụ và công chức có mối liên hệ mật thiết với nhau, khi quan niệm
về công vụ ra sao thì sẽ có một quan niệm về công chức tương ứng. Do đó,
cần thiết phải tìm hiểu khái niệm công vụ, làm cơ sở cho việc nghiên cứu về
công chức và trách nhiệm pháp lý của công chức.
1.1.1. Khái niệm công vụ
Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, chế độ nhà nước khác nhau nền
công vụ được quy định khác nhau. Vì thế mà có những cách hiểu khác
nhau về công vụ.
Xuất phát từ đặc thù của hệ thống chính trị nước ta, công vụ được hiểu là
một loại lao động mang tính phục vụ, tính quyền lực và pháp lý, được thực thi
bởi đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhằm thực hiện các chức năng của Nhà
nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xã hội.
1.1.2. Khái niệm công chức
Tùy theo phạm vi công vụ rộng hay hẹp, khái niệm công chức cũng có

truyền, phổ biến một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể nào đó hay cơ quan
A chịu trách nhiệm trước cơ quan B, nghĩa thứ hai, là hậu quả bất lợi. Trách
nhiệm theo nghĩa thứ hai là phải gánh chịu những hậu quả bất lợi vì đã vi
phạm pháp luật. Đó là sự phản ứng, lên án của nhà nước và xã hội đối với

7
những chủ thể vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội. Sau đây chúng
ta nghiên cứu sâu về trách nhiệm pháp lý theo nghĩa hậu quả bất lợi.
Sở dĩ nhà nước quy định TNPL đối với những chủ thể vi phạm pháp luật
là vì: thứ nhất, trong quy phạm pháp luật nhà nước đã đưa ra trước những cách
xử sự có tính khuôn mẫu mà chủ thể được phép hoặc buộc phải lựa chọn khi ở
vào hoàn cảnh, điều kiện đã được dự liệu. Vì chủ thể khi ở vào hoàn cảnh, điều
kiện đã được nhà nước dự liệu thì chỉ được phép hoặc buộc phải lựa chọn cho
mình cách xử sự phù hợp từ những cách xử sự mà trong quy phạm pháp luật đã
dự liệu cho trường hợp đó, thứ hai, các chủ thể pháp luật (trong trạng thái bình
thường) luôn hoạt động có lý trí (họ ý thức được việc làm của mình, nghĩa là, họ
có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi của mình và hậu quả do nó gây
ra cho xã hội) và có tự do ý chí (họ có khả năng và điều kiện để có thể tự lựa
chọn cho mình cách xử sự có thể có trong hoàn cảnh, điều kiện nhất định). Vì
vậy họ có đủ khả năng và phải chịu trách nhiệm về cách xử sự (hành vi) đã lựa
chọn của mình. Nếu chủ thể chọn cách xử sự trái với ý chí của nhà nước đã thể
hiện trong quy phạm pháp luật (không lựa chọn cách xử sự mà nhà nước cho
phép hoặc buộc phải thực hiện trong trường hợp đó), thì chủ thể phải chịu trách
nhiệm về việc làm của mình, phải chịu trách nhiệm pháp lý. Như vậy, trách
nhiệm pháp lý chỉ đặt ra đối với những chủ thể có lý trí và có tự do ý chí.
Cơ sơ của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật, TNPL chỉ xuất
hiện khi trong thực tế xảy ra vi phạm pháp luật. Nếu trong thực tế không có vi
phạm pháp luật thì không được truy cứu TNPL. TNPL chỉ được phép áp dụng
đối với các chủ thể vi phạm pháp luật. Không truy cứu TNPL đối với các
hành vi trái pháp luật được thực hiện trong trường hợp:

nhiễm, nhà nước có thể áp dụng biện pháp trưng thu, trưng dụng hay trưng
mua một số tài sản nào đó khi thấy cần thiết…
Truy cứu trách nhiệm pháp lý là một quá trình hoạt động phức tạp và

9
rất khó khăn của các cơ quan nhà nước, các nhà chức trách có thẩm quyền
trong việc nhận xét, tìm hiểu sự việc bị coi là vi phạm pháp luật, ra quyết định
giải quyết vụ việc và tổ chức thực hiện quyết định đó.
Như vậy, TNPL lý là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi
phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước với chủ thể vi
phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó
chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp
cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật.
1.3. Mục đích việc truy cứu trách nhiệm pháp lý
Mọi hiện tượng vi phạm pháp luật đều có hại cho xã hội vì nó phá vỡ
trật tự pháp luật, nó trực tiếp hoặc có nguy cơ gây ra những thiệt hại nhất định
về vật chất và tinh thần cho cá nhân, tổ chức, xâm hại đến các quan hệ xã hội
mà pháp luật bảo vệ. Vì thế, việc truy cứu TNPL đối với các hành vi vi phạm
pháp luật là nhằm bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền,
lợi ích của nhân dân, của tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, tạo điều kiện cho
những quan hệ xã hội phát triển đúng hướng, đảm bảo cho quá trình điều
chỉnh pháp luật được tiến hành bình thường và có hiệu quả.
Truy cứu trách nhiệm pháp lý trước hết là nhằm mục đích trừng phạt đối
với chủ thể vi phạm pháp luật, buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi,
những biện pháp cưỡng chế được quy định trong chế tài các quy phạm pháp luật.
Ngoài mục đích trừng phạt, truy cứu TNPL còn có ý nghĩa rất lớn trong việc
phòng ngừa, cải tạo và giáo dục những chủ thể vi phạm pháp luật (ngăn ngừa sự
tiếp tục vi phạm pháp luật của chủ thể và cải tạo, giáo dục chủ thể ý thức tôn
trọng, thực hiện nghiêm minh pháp luật và các quy tắc của cuộc sống cộng đồng)
Truy cứu TNPL còn có tác dụng răn đe tất cả những chủ thể khác khiến

đó trực tiếp gây ra. Không thể bắt chủ thể chịu trách nhiệm về những thiệt hại

11
mà hành vi trái pháp luật của họ không trực tiếp gây ra (giữa hành vi trái pháp
luật của họ và sự thiệt hại của xã hội không có mối quan hệ nhân quả)
Để cải tạo, giáo dục chủ thể vi phạm pháp luật có hiệu quả khi truy cứu
trách nhiệm pháp lý trong một số trường hợp cần phải xác định cả thời gian,
địa điểm và cách thức… mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Khi
xác định được những điều nói trên thì việc lựa chọn biện pháp cưỡng chế mới
chính xác, phù hợp với mục đích cần truy cứu TNPL và đạt được hiệu quả cao
trong việc cải tạo, giáo dục chủ thể vi phạm pháp luật
Việc xác định lỗi, động cơ và mục đích vi phạm trong nhiều trường hợp
khi truy cứu trách nhiệm pháp lý là rất cần thiết, nó cho phép lựa chọn được
biện pháp cưỡng chế thích hợp.
Về nguyên tắc, trách nhiệm pháp lý chỉ áp dụng đối với các chủ thể có
năng lực TNPL khi họ thực hiện hành vi trái pháp luật có lỗi, tức là chủ thể
hành vi đó có khả năng nhận thức được những hậu quả nguy hiểm cho xã hội
do hành vi của mình gây ra nhưng cố ý hoặc vô ý gây ra. Tuy nhiên, trong
một số trường hợp pháp luật còn cho phép truy cứu TNPL đối với cả những
hành vi trái pháp luật được thực hiện do những nguyên nhân khách quan
hoặc trường hợp thiệt do những nguồn nguy hiểm cao độ như phương tiện
giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt
động, vũ khí, chất nỏ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ… gây ra và
một số trường hợp khác trong quan hệ dân sự mặc dù không có lỗi chủ thể
vẫn phải chịu TNPL. Chẳng hạn, cha mẹ hay người giám hộ phải bồi thường
thiệt hại do con mình (dưới mười lăm tuổi) hoặc người mất năng lực hành vi
dân sự gây ra. Trong những trường hợp trên chỉ áp dụng những biện pháp
tác động mang tính chất khôi phục thiệt hại, không áp dụng các biện pháp
trách nhiệm hình sự.
Khi xác định chủ thể vi phạm pháp luật cần chú ý tới năng lực trách

13
Pháp luật cũng có thể quy định miễn trách nhiệm pháp lý cho một số
chủ thể trong những trường hợp nhất định.
Trách nhiệm pháp lý sẽ chấm dứt khi xảy ra sự kiện pháp lý thích ứng
như có quyết định ân xá, thời hạn trừng phạt đã kết thục, nộp phạt xong…
1.5. Các loại trách nhiệm pháp lý
TNPL có nhiều loại, thông thường chúng được chia thành: Trách nhiệm
hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự và
trách nhiệm vật chất
- Trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất do
tòa án áp dụng đối với những chủ thể có hành vi phạm tội
- Trách nhiệm hành chính là loại TNPL do các cơ quan nhà nước hay nhà
chức trách có thẩm quyền áp dụng đối với các thủ thể vi phạm hành chính
- Trách nhiệm kỷ luật là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan, xí
nghiệp, trường học… áp dụng đối với cán bộ, công chức, nhân viên, sinh
viên, của cơ quan, xí nghiệp, trường học… của mình khi họ vi phạm pháp luật
- Trách nhiệm dân sự là loại trách nhiệm pháp lý do tòa án hoặc các chủ
thể khác được phép áp dụng đối với các chủ thể vi phạm dân sự
- Trách nhiệm vật chất là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan, xí
nghiệp… áp dụng đối với cán bộ, công chức, công nhân… của cơ quan, xí
nghiệp trong trường hợp họ gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan, xí nghiệp
Để đảm bảo sự công bằng và tính hiệu quả trong việc truy cứu trách
nhiệm pháp lý đối với mỗi trường hợp vi phạm pháp luật cụ thể có thể áp
dụng một hoặc cùng đồng thời nhiều loại trách nhiệm pháp lý
1.6. Những yêu cầu cơ bản đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý
Việc truy cứu TNPL đòi hỏi phải bảo đảm một số những yêu cầu cơ
bản sau:
+ Chỉ truy cứu TNPL đối với những hành vi trái pháp luật, có lỗi do
chủ thể có năng lực TNPL thực hiện


+ Việc truy cứu TNPL phải được tiến hành kịp thời, nhanh chóng, công
minh, chính xác theo đúng pháp luật và phải đạt hiệu quả cao. Truy cứu trách
nhiệm pháp lý trước hết phải kịp thời, nhanh chóng, công minh và chính xác thì
tác dụng phòng ngừa và giáo dục mới cao. Trong hoạt động truy cứu TNPL
điều quan trọng không phải là trừng phạt nặng, mà là mọi vi phạm pháp luật,
đặc biệt là tội phạm đều bị phát hiện kịp thời, mọi tổ chức và cá nhân vi phạm
pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật. Việc truy cứu TNPL
đối với mỗi trường hợp cụ thể cần phải lựa chọn biện pháp cưỡng chế cho phù
hợp (nên phạt cảnh cáo, phạt tù hay phạt tiền…) mức độ cưỡng chế bao nhiêu
thì phù hợp (bao nhiêu năm tù? Bao nhiêu tiền? v.v ). Ngoài ra còn phải tính
đến khả năng thực hiện trên thực tế biện pháp cưỡng chế đã lựa chọn, ảnh
hưởng của việc truy cứu TNPL cụ thể đó đối với chính bản thân chủ thể vi
phạm, đối với gia đình họ hoặc những người có liên quan, tác dụng đối với
công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật trong xã hội như thế
nào…Chẳng hạn, việc truy cứu TNPL ngoài mục đích trừng phạt có cải tạo,
giáo dục được người vi phạm pháp luật hay không? Có tìm ra được những
nguyên nhân, những điều kiện dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật trong xã
hội hay không? Có đưa ra được những giải pháp gì cho việc phòng ngừa, đấu
tranh chống lại hiện tượng vi phạm pháp luật trong tương lai hay không? Có tác
dụng răn đe đối với những người chưa vi phạm pháp luật hay không…
Hiệu quả của hoạt động truy cứu TNPL còn thể hiện ở mức độ, tốc độ
và phạm vi xóa bỏ được các hiện tượng vi phạm pháp luật trong xã hội, những
chi phí về sức người, về vật chất, về thời gian và những chi phí khác cho hoạt
động này.
1.7. Các hành thức trách nhiệm pháp lý trong việc xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật đất đai
Xử lý vi phạm pháp luật đất đai là việc áp dụng các hình thức trách

16
nhiệm pháp lý đối với người vi phạm nhằm mục đích buộc họ phải gánh chịu

- Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính: người có thẩm quyền áp dụng
các biện pháp chế tài đối với những hành vi vi phạm nói trên là ủy ban nhân
dân các cấp và các cơ quan thanh tra chuyên ngành về đất đai
- Hình thức xử phạt vi phạm hành chính: ngoài việc áp dụng hai hình
thức phạt chính như là cảnh cáo, phạt tiền tùy theo từng trường hợp ngươi vi
phạm có thể bị áp dụng hình thức phạt bổ sung và các biện pháp hành chính
khác như: thu hồi đất, buộc khôi phục lại tình trạng đất như trước khi bị thay
đổi do vi phạm hành chính gây ra
2.2. Trách nhiệm kỷ luật
Đối tượng chịu trách nhiệm kỷ luật là những người thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về đất đai có hành vi vi phạm như: lợi dụng chức vụ, quyền
hạn, làm trái với quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê đất, thu hồi
đất, thực hiện kế hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định nghĩa vụ tài chính về
đất đai, quản lý hồ sơ địa chính, ra quyết định hành chính trong quản lý đất
đai, thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về đất đai
hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và nghĩa vụ
của người sử dụng đất. Đó là những hành vi vi phạm nhưng ở mức độ nhẹ,
chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Việc xử lý các cán bộ, công chức có hành vi vi phạm trong khi thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai. Do người đứng đầu cơ quan quản
lý công chức có hành vi vi phạm ra quyết định kỷ luật
Nếu người đứng đầu cơ quan, đơn vị vi phạm kỷ luật thì người đứng
đầu cơ quan đơn vị quản lý cấp trên trực tiếp ra quyết định kỷ luật.
Về hình thức kỷ luật: Người quản lý đất đai vi phạm kỷ luật thì tùy theo
mức độ mà bị xử lý bằng một trong các hình thức kỷ luật như: Khiển trách,
cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc.

18
- Khiển trách: Là hình thức kỷ luật áp dụng với người quản lý đất đai
có hành vi vi phạm lần đầu, ở mức độ nhẹ.

theo Điều 174 Bộ luật hình sự
Đối với người quản lý có hành vi vi phạm pháp luật đất đai đã bị xử lý
kỷ luật mà còn vi phạm hoặc vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng thì bị xử lý
theo Điều 174 Bộ luật hình sự
2.4. Trách nhiệm dân sự
Đối tượng chịu trách nhiệm dân sự là người sử dụng đất, người có trách
nhiệm quản lý đất đai hoặc những người khác có hành vi vi phạm pháp luật
đất đai hoặc những người khác có hành vi vi phạm pháp luật đất đai mà gây
thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác thì ngoài việc bị áp dụng một trong
những biện pháp trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm
hình sự còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc
cho người bị thiệt hại
Việc bồi thường thiệt hại trong trách nhiệm dân sự được áp dụng theo
nguyên tắc ngang giá, toàn bộ và kịp thời. Nghĩa là người gây thiệt hại đến
đâu thì phải bồi thường đến đó, việc bồi thường phải đầy đủ và thực hiện
nhanh chóng. Khác với các hình thức trách nhiệm khác, trong trách nhiệm dân
sự có một đặc điểm nổi bật là các bên có thể tự thỏa thuận với nhau về việc
bồi thường thiệt hại. Nếu không thỏa thuận được về mức bồi thường thiệt bại
thì bên thị thiệt hại có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết.
Tóm tại: Xử lý vi phạm pháp luật đất đai là nhằm ngăn ngừa và trừng
phạt những hành vi vi phạm đồng thời giáo dục ý thức chấp hành pháp luật,
bảo vệ những quan hệ, những giá trị được pháp luật ghi nhận. Đó cũng là vấn
đề có tính quyết định để duy trì trật tự kỷ cương và nâng cao hiệu quả trong
hoạt động quản lý đất đai ở nước ta hiện nay.

20
3.1. Trách nhiệm pháp lý của cán bộ công chức
3.1.1. Trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi cán bộ,
công chức thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự coi là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status