4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, công cuộc đổi mới của đất nước trong
những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều mặt về kinh tế,
chính trị, văn hóa xã hội, đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao, đất nước ta
ngày càng vững bước đi trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với
những thành tựu đã đạt được, nhiều vấn đề tiêu cực trong xã hội cũng nảy sinh,
trong đó tình hình tội phạm nói chung, tội phạm cố ý gây thương tích nói riêng
cũng nhiều diễn biến phức tạp và có hướng gia tăng. Trong bối cảnh chung đó,
tình hình tội phạm cố ý gây thương tích xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Tây cũng có
nhiều diễn biến phức tạp. Số vụ cố ý gây thương tích xảy ra ở hầu hết các địa
phương trên địa bàn tỉnh, các vụ đánh nhau đông người tham gia và gây thương
tích cho nhiều người có xu hướng gia tăng với tính chất ngày càng nghiêm trọng.
Trước tình hình trên, các cơ quan pháp luật tỉnh Hà Tây đã tập trung thực hiện
tốt công tác đấu tranh và phòng ngừa, nên tình hình tội phạm này đã từng bước
được ổn định.
Do đặc điểm của loại tội phạm cố ý gây thương tích mang tính bạo
lực, xâm phạm trực tiếp đến khách thể quan trọng là quyền bất khả xâm phạm
về thân thể của công dân. Hậu quả của tội phạm này gây ra không chỉ là
thương tích, làm tổn hại sức khỏe của người khác, mà còn làm ảnh hưởng đến
tình hình an ninh, trật tự ở địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Bên cạnh
đó, hung thủ thực hiện tội phạm cố ý gây thương tích thường có mối quan hệ
quen biết từ trước với nạn nhân, nhân chứng và những người liên quan nên họ
sợ bị trả thù hoặc ngại cung cấp thông tin. Đây là nguyên nhân làm cho việc
điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng nói
chung, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong giai đoạn điều
tra đối với loại án này gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng
hiệu quả hoạt động điều tra và xử lý của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với
nhau. Trong đó, nguyên nhân cơ bản là nhận thức về công tác THQCT - KSĐT
6
của VKSND còn thiếu đầy đủ và chưa thống nhất. Lý luận về hoạt động kiểm
sát trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự chưa được xem xét, nghiên cứu
có tính hệ thống, đầy đủ và toàn diện. Thực tiễn hoạt động của VKSND trong
giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung và các vụ án cố ý gây thương
tích nói riêng chưa được quan tâm nghiên cứu, tổng kết thường xuyên.
Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra và xử lý các loại tội
phạm hình sự nói chung, tội phạm cố ý gây thương tích nói riêng. Đồng thời,
góp phần tổng kết kinh nghiệm thực tiễn hoạt động THQCT - KSĐT tội phạm
này trên địa bàn tỉnh Hà Tây, làm nền tảng để xây dựng cơ sở lý luận cho việc
nhận thức và nâng cao chất lượng công tác THQCT - KSĐT các vụ án hình
sự, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: "Hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân trong giai đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thương tích trên địa bàn
tỉnh Hà Tây" làm luận văn Thạc sĩ Luật học là rất cần thiết, nhằm đáp ứng cả
về phương diện lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến nay chưa có một công trình khoa học nghiên cứu về hoạt động
của VKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà
Tây. Chỉ có một số một số bài báo khoa học đề cập tới một số khía cạnh và ở
những mức độ khác nhau về hoạt động của VKSND trong giai đoạn điều tra
tội phạm hoặc có một số công trình khoa học nghiên cứu về hoạt động của
VKSND. Trong đó, có sự đóng góp đáng kể của một số đề tài khoa học sau:
Đề tài: "Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát trong
việc đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Hà Tây" do
VKSND tỉnh Hà Tây thực hiện năm 2002; Đề tài: "Nghiên cứu giải pháp đấu
tranh, phòng ngừa tội phạm cớp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Tây" do
VKSND tỉnh Hà Tây thực hiện năm 2003; Chuyên đề: "Kinh nghiệm giải
quyết những điểm phức tạp liên quan đến lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai
nhân tồn tại và những vướng mắc trong hoạt động của VKSND trong giai
đoạn điều tra đối với loại án này.
8
+ Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác THQCT
và KSĐT của VKSND đối với hoạt động điều tra vụ án hình sự cố ý gây
thương tích trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Hoạt động của VKSND trong giai
đoạn điều tra án cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Hà Tây. Trong đó, nội
dung cơ bản là hoạt động THQCT và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp
luật đối với Cơ quan CSĐT trong quá trình thực hiện việc thu thập, xử lý tố giác,
tin báo về tội phạm; khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; việc áp dụng, thay đổi
hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động điều tra. Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi,
khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, vật chứng; việc tiến hành thu thập lời
khai người làm chứng, người bị hại, hỏi cung bị can và những người có liên
quan; hoạt động đối chất và nhận dạng, thực nghiệm điều tra và trưng cầu
giám định; việc chấp hành thời hạn điều tra; phục hồi điều tra, điều tra bổ
sung; việc phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điều kiện tội phạm; việc ra
các quyết định tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, phục hồi điều tra và kết
thúc điều tra. Nghiên cứu các quyết định của VKSND sau khi vụ án được kết
thúc điều tra.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Hoạt động THQCT và kiểm sát hoạt
động tư pháp của VKSND rất rộng. Nhưng trong đề tài này, tác giả chỉ tập
trung nghiên cứu công tác THQCT - KSĐT của VKSND đối với các vụ án
hình sự cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự (BLHS)
xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Tây từ năm 2000 đến 6/2005 của Cơ quan CSĐT -
Công an các huyện, thị xã và Cơ quan CSĐT tỉnh Hà Tây.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thương
10
tích trên địa bàn tỉnh Hà Tây.
11
Chơng 1
nhận thức chung về hoạt động
của viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra
các vụ án cố ý gây thơng tích
1.1. Nhận thức chung về tội phạm cố ý gây thơng tích
1.1.1. Khái niệm tội phạm cố ý gây thơng tích
Bộ luật hình sự nớc Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1985 quy định
tội phạm cố ý gây thơng tích, với tội danh "Tội cố ý gây thơng tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác" đợc qui định tại Điều 109. Đến
năm 1999, nhằm mục đích cá thể hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa tội
phạm, Quốc hội đã ban hành BLHS năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2000)
quy định tội phạm này thành ba điều luật: Khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 109
BLHS năm 1985 chuyển thành Điều 104 BLHS năm 1999 (tội cố ý gây thơng
tích); khoản 4, Điều 109 BLHS năm 1985 chuyển thành các Điều 105 BLHS
năm 1999 (tội cố ý gây thơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời
khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh) và Điều 106 BLHS năm
1999 (tội cố ý gây thơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác
do vợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng). Tội phạm cố ý gây thơng tích
thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của
con ngời đợc qui định trong Chơng 12 BLHS.
Điều 8 BLHS năm 1999 đa ra khái niệm về tội phạm nh sau:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc qui định trong BLHS,
Tính phải chịu hình phạt: BLHS quy định tính chịu hình phạt là đặc
điểm cơ bản của tội phạm, tính chịu hình phạt là thuộc tính bên ngoài của tội
phạm nó thể hiện đã có tội thì phải chịu hình phạt, không áp dụng hình phạt
đối với ngời vô tội hoặc ngời có hành vi vi phạm pháp luật khác. Tuy nhiên,
13
trên thực tiễn có nhiều trờng hợp ngời phạm tội đợc miễn trách nhiệm hình
sự, miễn hình phạt theo quy định tại Điều 25, Điều 57 BLHS.
Từ việc nghiên cứu lý luận trên chúng ta có thể khái niệm:
Tội phạm gây thơng tích là loại tội phạm do ngời phạm tội đã cố ý
hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (sức mạnh bạo lực) gây
thơng tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho ngời khác, một cách trái quy định
của pháp luật hình sự và đến mức đáng phải xử lý bằng hình phạt. Hành vi gây
thơng tích đợc thực hiện bằng phơng pháp hành động nh dùng chân tay,
hung khí tác động lên cơ thể ngời khác làm họ bị thơng tích hoặc bị tổn hại
sức khỏe, hoặc có thể thực hiện bằng phơng pháp không hành động nh buộc
nạn nhân phải gây thơng tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho mình hoặc giúp
sức cho đồng phạm thực hiện phạm tội hành vi gây thơng tích
Tội phạm cố ý gây thơng tích có những dấu hiệu đặc trng của tội
phạm gây thơng tích đó là: Ngời phạm tội cũng thực hiện sức mạnh vật chất
tác động trực tiếp lên cơ thể ngời khác bằng các hình thức khác nhau làm cho
họ bị thơng tích hoặc bị tổn hại sức khỏe và tính nguy hiểm của sự tổn hại
thơng tích hoặc sức khỏe đó đến mức bị coi là tội phạm. Nhng có đặc điểm
riêng là hành vi phạm tội gây thơng tích đó phải thực hiện do lỗi cố ý và
không phải trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm cố ý gây thơng tích theo
quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự
Về mặt lý luận tội phạm cố ý gây thơng tích cũng có đầy đủ các dấu
hiệu pháp lý về cấu thành tội phạm nh tội phạm nói chung đó là: Yếu tố
khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, yếu tố chủ thể của tội
nhiều ngời.
Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân.
Phạm tội nhiều lần đối với cùng một ngời hoặc đối với nhiều ngời.
Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, ngời già yếu, ốm đau hoặc
ngời khác không có khả năng tự vệ.
15
Đối với ông, bà, cha, mẹ, ngời nuôi dỡng, thầy giáo, cô giáo của mình.
Có tổ chức.
Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện
pháp đa vào cơ sở giáo dục.
Thuê gây thơng tích hoặc gây thơng tích thuê.
Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm.
Để cản trở ngời thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
+ Đối với tội phạm cố ý gây thơng tích trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh (Điều 105) và tội cố ý gây thơng tích do vợt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng (Điều 106), tỉ lệ thơng tật của nạn nhân phải từ 31% trở
lên mới cấu thành tội phạm.
- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm cố ý gây thơng tích đợc
thực hiện do lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp), ngời phạm tội ý thức đợc
tính chất nguy hiểm của hành vi mà mình sẽ thực hiện, thấy trớc đợc hậu
quả do hành vi mình thực hiện nhất định có thể sẽ gây ra thơng tích hoặc tổn
hại sức khỏe cho ngời khác hoặc mong muốn, hoặc là để mặc cho hậu quả
xảy ra làm cho nạn nhân bị thơng tích, hay bị tổn hại sức khỏe.
Trong mặt chủ quan của tội phạm cố ý gây thơng tích thì động cơ và
mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tuy
nhiên, trong một số trờng hợp, việc chứng minh động cơ, mục đích của ngời
phạm tội lại có ý nghĩa quyết định đối với việc định tội và định khung.
Hành vi phạm tội gây thơng tích thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp hoặc
gián tiếp. Nếu lỗi cố ý trong trờng hợp gây thơng tích có mức độ nguy hiểm
giai đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích
Hoạt động của VKSND trong giai đoạn điều tra chính là hoạt động
THQCT và kiểm sát điều tra đối với hoạt động điều tra các vụ án hình sự. Đây
17
cũng là một trong những hoạt động chủ yếu của VKSND. Tuy nhiên, trải qua
hơn 45 năm hình thành và phát triển, việc nhận thức về chức năng, nhiệm vụ
của VKSND vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định. Do vậy, việc làm sáng
tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn để nhận thức đúng đắn, đầy đủ về chức
năng, nhiệm vụ THQCT và kiểm sát các hoạt động t pháp trong giai đoạn
điều tra các vụ án hình sự, trong đó có các vụ án hình sự cố ý gây thơng tích
là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng để nâng cao chất lợng, hiệu quả công tác
của VKSND trong giai đoạn hiện nay.
Hiến pháp 1992 (đã đợc sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết 51/2001-QH10
ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10) và Luật tổ
chức VKSND năm 2002 quy định: VKSND có chức năng, nhiệm vụ THQCT,
kiểm sát các hoạt động t pháp. Nhng đến nay, việc nhận thức cũng nh
phân biệt THQCT và kiểm sát các hoạt động t pháp, trong đó có hoạt động
KSĐT là một vấn đề phức tạp. Nhiều hoạt động của VKSND chỉ đợc đánh
giá là kết quả chung của công tác kiểm sát, mà cha phân biệt cụ thể và xác
định rõ hai hình thức hoạt động chủ yếu của VKSND, nên cha đánh giá đợc
chất lợng, hiệu quả công tác THQCT (trong việc chống bỏ lọt tội phạm,
chống làm oan ngời vô tội) và công tác KSĐT (trong việc phát hiện và khắc
phục những vi phạm, thiếu sót của các cơ quan t pháp). Trong khoa học đã có
nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, nhng vẫn cha có quan
điểm mang tính thống nhất và cha đợc triển khai thực hiện đồng bộ. Mặc
dù, Luật tổ chức VKSND năm 2002 bớc đầu đã phân định THQCT và kiểm
sát các hoạt động t pháp trong đó có giai đoạn điều tra, nhng một số vấn đề
mà pháp luật đã quy định cũng cần phải đợc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.
Do vậy, việc nhận thức đúng đắn hoạt động nào của VKSND là THQCT, hoạt
quan khác đợc thực hiện các hoạt động liên quan đến quyền công tố của
VKS, nh: Hoạt động khởi tố vụ án hình sự của CQĐT và Tòa án. Tuy nhiên,
các hoạt động này chỉ là giai đoạn ban đầu nhằm khởi động quyền công tố của
19
VKS và không quyết định việc buộc tội tại Tòa án. Do vậy, một số hoạt động
của các cơ quan trên chỉ là bổ trợ cho quyền công tố của VKS, chứ không phải
là hoạt động THQCT.
+ Về phạm vi quyền công tố, đến nay vẫn tồn tại nhiều quan điểm
khác nhau. Chúng tôi xin nêu một số quan điểm phổ biến hiện nay nh sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền công tố của VKS có phạm vi rất
rộng, bao gồm trong các lĩnh vực: Hình sự, dân sự, kinh tế... Chúng tôi cho
rằng, bản chất của quyền công tố là việc truy tố ngời phạm tội. Do vậy,
quyền công tố chỉ xuất hiện trong lĩnh vực hình sự.
Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố có phạm vi rất hẹp, chỉ
xuất hiện khi VKS truy tố ngời phạm tội và duy trì quyền công tố tại Tòa án.
Quan điểm này cha đầy đủ, bởi lẽ việc truy tố ngời phạm tội và duy trì
quyền công tố tại Tòa án là hình thức cao nhất, là "hạt nhân" của THQCT, còn
trớc đó VKS đã có các hoạt động khởi động quyền công tố, nh: Quyết định
khởi tố vụ án hình sự...
Quan điểm thứ ba khẳng định rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi có
tội phạm xảy ra đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. Theo quan điểm này,
quyền công tố của VKSND đợc thực hiện trong quá trình TTHS, từ giai đoạn
phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm). Còn
thi hành án hình sự không có việc tiến hành tố tụng, cũng nh không có việc
chứng minh và buộc tội trớc Tòa án, nên không thuộc phạm vi THQCT.
Theo nhận thức của chúng tôi thì quan điểm thứ ba quan niệm về phạm
vi THQCT là có cơ sở. Bởi lẽ quan điểm này thỏa mãn đầy đủ các các dấu hiệu
của quyền công tố nhà nớc theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002,
phù hợp với thực tế hoạt động của VKSND trong những năm qua và đáp ứng
VKS có quyết định truy tố ngời phạm tội ra Tòa án nhân dân hoặc ra quyết
định đình chỉ điều tra vụ án đã có hiệu lực pháp luật.
21
Mục đích của kiểm sát các hoạt động điều tra là bảo đảm cho các hoạt
động điều tra phải chấp hành đúng các trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn
đã đợc pháp luật quy định. Do vậy, khái niệm kiểm sát các hoạt động điều tra
đợc hiểu là: Hoạt động của VKSND trong việc bảo đảm cho các hoạt động
điều tra đợc thực hiện theo quy định pháp luật.
Từ phân tích nêu trên, chúng tôi rút ra nhận thức về hoạt động KSĐT
các vụ án hình sự cố ý gây thơng tích là: Hoạt động kiểm sát các hoạt động
điều tra của Cơ quan CSĐT trong giai đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng
tích nhằm bảo đảm cho các hoạt động điều tra đợc tuân thủ theo trình tự
đúng quy định của BLTTHS và đúng pháp luật.
- Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và hoạt động KSĐT
trong TTHS
Mục đích của THQCT và KSĐT đều nhằm phát hiện nhanh chóng, xử
lý nghiêm minh, đúng pháp luật các hành vi phạm tội, bảo đảm việc điều tra, truy
tố, xét xử đúng ngời, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan ngời vô tội,
không bỏ lọt tội phạm. THQCT và kiểm sát các hoạt động điều tra có mối quan
hệ trong lĩnh vực hình sự và trong phạm vi THQCT đợc tiến hành từ khi có tội
phạm xảy ra đến khi vụ án đợc đa ra xét xử. Nếu nh hoạt động THQCT là bảo
đảm mọi tội phạm phải đợc xử lý, thì kiểm sát các hoạt động điều tra bảo đảm
việc xử lý tội phạm phải đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Do vậy,
giữa THQCT và KSĐT có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong TTHS. Mối
quan hệ giữa THQCT và KSĐT là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức.
Về tổ chức hoạt động, THQCT - KSĐT đều do VKSND thực hiện.
Trong các khâu công tác kiểm sát, Kiểm sát viên vừa THQCT, vừa thực hiện
KSĐT. Thực hành quyền công tố và KSĐT có mối quan hệ tơng hỗ, tác động
qua lại lẫn nhau. Nếu thực hiện tốt công tác THQCT sẽ là điều kiện thuận lợi
THQCT và KSĐT đối với Cơ quan CSĐT trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích.
23
1.2.2. Đặc điểm hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong giai
đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích
Từ việc nhận thức chung chức năng, nhiệm vụ của VKSND theo quy
định của pháp luật về hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự nói
chung, các vụ án cố ý gây thơng tích nói riêng, theo quan điểm của chúng tôi
hoạt động của VKSND trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thơng tích có
một số đặc điểm cụ thể nh sau:
- Hoạt động của VKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự cố
ý gây thơng tích là hoạt động THQCT - KSĐT các hoạt động điều tra của Cơ
quan CSĐT từ thời điểm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố điều tra
và kết thúc khi vụ án đợc kết thúc điều tra chuyển sang giai đoạn truy tố và
xét xử. Hoạt động này của VKSND đợc tiến hành công khai theo đúng trình
tự, thủ tục do BLTTHS và các văn bản hớng dẫn thực hiện BLTTHS.
- Chủ thể thực hiện hoạt động THQCT-KSĐT chỉ có thể là Kiểm sát
viên và Viện trởng, Phó Viện trởng VKSND có thẩm quyền và có sự phối
hợp với các chủ thể khác có liên quan theo quy định của BLTTHS, Luật tổ
chức VKSND.
- Quá trình THQCT - KSĐT các vụ án cố ý gây thơng tích, Kiểm sát
viên chỉ đợc áp dụng các biện pháp và phơng tiện theo qui định của pháp
luật và theo chức năng, quyền hạn của ngành Kiểm sát nhân dân và của Kiểm
sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án.
- Hoạt động THQCT - KSĐT của VKSND trong giai đoạn điều tra các
vụ án cố ý gây thơng tích đợc diễn ra trực tiếp, đồng thời và đề cập một
cách toàn diện mọi hành vi tố tụng của giai đoạn điều tra; hoạt động này chịu
sự chi phối bởi đặc điểm của hoạt động điều tra của CQĐT, nhằm mục đích
bảo đảm tuân thủ pháp luật trong giai đoạn điều tra, tạo điều kiện cho giai
25
biện pháp cỡng chế nh bắt, tạm giữ, tạm giam ngời phạm tội. VKS phải
giám sát chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đó và các hoạt động
điều tra của CQĐT có liên quan đến quyền con ngời để kịp thời thay đổi
hoặc hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân.
1.3.3. Nguyên tắc đảm bảo việc xác định sự thật của vụ án
Theo quy định tại Điều 10 BLTTHS thì CQĐT, VKS và Tòa án phải áp
dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách
quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định sự thật của vụ án
một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có
tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Trách nhiệm chứng minh tội
phạm thuộc về các cơ quan THTT. Bị can, bị cáo có quyền nhng không buộc
phải chứng minh là mình vô tội.
Mục đích của hoạt động phát hiện, khởi tố và điều tra làm rõ tội phạm
là nhằm xác định sự thật của vụ án, xác định có tội phạm hay không, có đồng
phạm không để áp dụng chế tài hình sự một cách chính xác. Mặc dù chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐT và VKS là khác nhau nhng khi tiến
hành các hoạt động TTHS thì hai cơ quan này đều có mục đích chung là tìm ra
sự thật của vụ án. Việc CQĐT và VKS thực hiện các hoạt động TTHS cũng
nhằm xác định sự thật của vụ án. Để nguyên tắc này đợc tuân thủ nghiêm
chỉnh, CQĐT và VKS phải thu thập đầy đủ các chứng cứ tài liệu và đánh giá
chứng cứ một cách khách quan nhằm làm rõ sự thật của vụ án.
1.3.4. Nguyên tắc cấp dới chịu sự chỉ đạo của cấp trên trong hoạt
động tố tụng hình sự
Cấp dới chịu sự chỉ đạo của cấp trên là nguyên tắc chung trong hệ thống
các cơ quan nhà nớc ở nớc ta. Nguyên tắc này đảm bảo tính tập trung thống
27
trong hoạt động TTHS là một trong những nội dung của nguyên tắc cấp dới
chịu sự chỉ đạo của cấp trên trong mối quan hệ giữa hai cơ quan. Đồng thời,
cũng là một đặc trng của mối quan hệ tố tụng giữa CQĐT và VKS.
1.3.5. Nguyên tắc Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra cùng phối hợp
hoạt động trong tố tụng hình sự
Đây vừa là nguyên tắc là sự thể hiện nội dung mối quan hệ phối hợp
giữa CQĐT và VKS trong TTHS. Nguyên tắc này thể hiện bản chất Nhà nớc ta;
đảm bảo cho công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm hình sự đạt
đợc hiệu quả cao trên thực tế.
Nội dung nguyên tắc này đòi hỏi CQĐT tiến hành điều tra các vụ án hình
sự đúng pháp luật, có hiệu quả, đồng thời có trách nhiệm, nghĩa vụ cung cấp, phối
hợp để VKS thực hiện chức năng giám sát. Đối với VKS, đòi hỏi vừa thực hiện
chức năng kiểm sát hoạt động điều tra của CQĐT đúng pháp luật, đồng thời phải
tạo điều kiện để CQĐT phát huy hiệu quả điều tra trên thực tế. Sự phối hợp giữa
CQĐT và VKS trong TTHS không mất đi t cách tiến hành tố tụng độc lập của từng
cơ quan, mà hoạt động của hai cơ quan này có tác động tơng hỗ, biện chứng để
cùng đạt đợc mục đích cao nhất là điều tra vụ án đúng pháp luật và có hiệu quả.
Đây là một nguyên tắc quan trọng, nhng đồng thời chứa đựng những
yếu tố phức tạp trong mối quan hệ tố tụng giữa VKS và CQĐT. Bởi vì, có tồn
tại hai mặt trong một nội dung. CQĐT vừa có chức năng điều tra tội phạm
nhng đồng thời có trách nhiệm thể hiện công khai những hoạt động điều tra
của mình trớc VKS để VKS nắm đợc và giám sát. Trong một số hoạt động
điều tra nhất định, CQĐT phải chủ động thông báo để VKS biết và thực hiện
chức năng giám sát. Nếu trên thực tế, CQĐT không thực hiện nghiêm chỉnh
nguyên tắc này sẽ dẫn đến CQĐT chỉ điều tra tội phạm, còn VKS lại điều tra
hoạt động điều tra của CQĐT. Trong trờng hợp này cả hai cơ quan đều
không những không đạt đợc hiệu quả trên thực tế mà còn phát sinh những
vấn đề phức tạp khác trong nội bộ hai cơ quan.