I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHM MAI LINH
MốI QUAN Hệ GIữA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN
Và CƠ QUAN CảNH SáT ĐIềU TRA TRONG VIệC
KHởI Tố, ĐIềU TRA CáC Vụ áN Cố ý GÂY THƯƠNG TíCH
HOặC GÂY TổN HạI CHO SứC KHỏE CủA NGƯờI KHáC
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Bình)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHM MAI LINH
MốI QUAN Hệ GIữA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN
Và CƠ QUAN CảNH SáT ĐIềU TRA TRONG VIệC
KHởI Tố, ĐIềU TRA CáC Vụ áN Cố ý GÂY THƯƠNG TíCH
HOặC GÂY TổN HạI CHO SứC KHỏE CủA NGƯờI KHáC
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Bình)
Chuyờn ngnh: Lut Hỡnh s v T tng Hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
TRA TRONG VIỆC KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý
GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE
CỦA NGƢỜI KHÁC ....................................................................................................8
1.1.
1.1.1.
1.1.2.
1.1.3.
Khái niệm, đặc điểm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân
dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra
các vụ án Cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của ngƣời khác ......................................................................... 8
Khái niệm các tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác ..................................................................... 8
Khái niệm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ
quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ............. 12
Đặc điểm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan cảnh sát
điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác................................. 16
1.2.
Cơ sở của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ
quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý
gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác...... 22
1.3.
HIỆU QUẢ MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN VÀ CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TRONG VIỆC
KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƢƠNG
TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA
NGƢỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNHError! Bookmark not def
3.1.
Một số kết quả, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân tồn tại, hạn
chế trong mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ
quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án
cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
ngƣời khác ........................................ Error! Bookmark not defined.
3.1.1.
3.1.2.
3.1.3.
Những kết quả đạt được .................... Error! Bookmark not defined.
Những tồn tại, hạn chế ...................... Error! Bookmark not defined.
Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế ..... Error! Bookmark not defined.
3.2.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa Viện
kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc
khởi tố, điều tra các vụ án cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của ngƣời khác ... Error! Bookmark not defined.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật .......... Error! Bookmark not defined.
Tiếp tục kiện toàn, đổi mới cơ cấu tổ chức hoạt động của Cơ
quan điều tra và Viện kiểm sát .......... Error! Bookmark not defined.
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
CQCSĐT
Cơ quan cảnh sát điều tra
CQĐT
Cơ quan cảnh sát điều tra
CSĐT
Cảnh sát điều tra
ĐTV
Điều tra viên
KSV
Kiểm sát viên
TAND
Tòa án nhân dân
TNHS
Tố tụng hình sự một cách độc lập, không phụ thuộc vào nhau. Trong đó, Cơ
quan điều tra có chức năng, nhiệm vụ tiến hành các hoạt động theo quy định
để phát hiện tội phạm và người phạm tội, tiến hành các hoạt động điều tra, lập
hồ sơ đề nghị truy tố; Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan có chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự để
bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện nhanh chóng, kịp thời, đầy
đủ và xử lý công minh, đúng pháp luật. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự các cơ quan vẫn có mối quan hệ với nhau. Mối quan hệ thể hiện
sự phối hợp và chế ước lẫn nhau nhằm thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong
vụ án hình sự của mình.
Thực tế trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Ninh Bình tình hình tội
phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác vẫn
xảy ra nhiều, tính chất, mức độ, hành vi, hậu quả có chiều hướng nghiêm
trọng. Đã xuất hiện tình trạng một số nhóm thanh, thiếu niên đi chơi thường
mang theo hung khí nguy hiểm như: Dao, mã tấu, kiếm để sẵn sàng sử dụng
khi có mâu thuẫn xảy ra. Tình trạng xung đột, mâu thuẫn, xô xát trong tầng
lớp thanh thiếu niên ngày càng gia tăng, nảy sinh từ những mâu thuẫn rất đơn
giản phát sinh trong giao tiếp xã hội hàng ngày dẫn đến hành vi gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, dẫn đến những hậu quả
đau lòng cho cá nhân, gia đình và xã hội.
1
Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan cảnh sát điều tra
trong giai đoạn khởi tố và điều tra vụ án hình sự đã được pháp luật quy định,
tuy nhiên vẫn còn những thiếu sót. Bên cạnh đó, thực tế thực hiện mối quan hệ
phối hợp giữa VKSND với các Cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự nói chung, đặc biệt với Cơ quan cảnh sát điều tra nói riêng
vẫn còn có những tư tưởng ngại va chạm nên không sâu sát, kịp thời phát hiện
sau: “Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra
trong tố tụng hình sự”- Luận án tiến sỹ của Đào Hữu Dân; Luận văn Thạc sĩ
“Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự
Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tiến Sơn, hoàn thành năm 2006 tại Học viện
Cảnh sát nhân dân; “Vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án
hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị” - Đề tài
khoa học cấp Bộ của TS. Lê Hữu Thể, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao; Bài phát biểu của đồng chí Bộ trưởng Bộ Công an Lê Hồng Anh
đăng trên tạp chí kiểm sát số tháng 2/2003 “Tăng cường quan hệ phối hợp,
hiệp đồng công tác giữa Viện kiểm sát nhân dân và Công an nhân dân”; Các
bài nghiên cứu đăng trên số chuyên đề: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công
tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố” Tạp chí kiểm sát số 12 (tháng 6/2009) v.v...
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có nhiều chế định quy định về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng liên quan đến quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt
động TTHS. Nhìn chung, các công trình khoa học, các bài viết nêu trên ở
những góc độ, nhất định đã nghiên cứu tổng quát về mối quan hệ giữa Cơ
quan điều tra và Viện kiểm sát trong quá trình khởi tố, điều tra các vụ án hình
sự nói chung và các vụ án về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác nói riêng.
3
Các tác giả đã phân tích cơ sở pháp lý và mối quan hệ giữa Cơ quan điều
tra và Viện kiểm sát, cũng như mối quan hệ giữa CQĐT với các cơ quan, tổ
chức hỗ trợ tư pháp trong TTHS. Mối quan hệ phối hợp được thể hiện thông
qua việc định kỳ thông báo cho nhau về tình hình tội phạm và công tác của hai
bên bao gồm các hoạt động khởi tố, điều tra, kiểm sát khởi tố, điều tra; trao đổi
- Làm rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiến
hành tố tụng thông qua các quy định về Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát
trong Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật hiện hành.
- Phân tích, đánh giá một cách khoa học thực trạng quan hệ phối hợp và
chế ước giữa CQĐT và VKS trong việc khởi tố, điều tra các tội phạm cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình; làm rõ những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu
quả mối quan hệ giữa VKSND và Cơ quan CSĐT trong việc đấu tranh
phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác đang gia tăng như hiện nay. Trên cơ
sở đó đề xuất sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật cho phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành đáp ứng với tinh thần cải cách tư pháp
và hội nhập quốc tế.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối
quan hệ giữa VKSND và CQCSĐT trong việc khởi tố, điều tra vụ án cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình.
5
Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt không gian: Nghiên cứu mối quan hệ giữa VKSND với CQ
CSĐT thuộc lực lượng Công an nhân dân trong lĩnh vực đấu tranh phòng,
chống các tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
- Về thời gian: Nghiên cứu trong thời gian 05 năm gần đây (từ năm
2010 đến năm 2015).
quan hệ phối hợp trong việc khởi tố, điều tra các tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
- Đề xuất một số giải pháp mang tính khoa học nhằm nâng cao hiệu quả
mối quan hệ phối hợp giữa VKSND với CQCSĐT trong điều tra các tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình
7. Bố cục của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương, cụ thể.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát
nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Chương 2: Nội dung, hình thức và thực tiễn mối quan hệ giữa Viện
kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra vụ án
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Chương 3: Một số hạn chế và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả mối
quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong
khởi tố, điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
7
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ CƠ QUAN CẢNH SÁT
ĐIỀU TRA TRONG VIỆC KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý
GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE
CỦA NGƢỜI KHÁC
Đến năm 1999, Quốc hội đã ban hành BLHS năm 1999 (có hiệu lực từ
ngày 01/7/2000; sau đó đã được sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009) tội phạm
này được quy định thành 03 điều luật: Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều 109
của BLHS năm 1985 chuyển thành Điều 104, BLHS năm 1999 (Tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Khoản 4 Điều
109 BLHS năm 1985 chuyển thành Điều 105 BLHS năm 1999 (Tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh) và Điều 106 BLHS năm 1999 (Tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng). Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ, danh dự và nhân phẩm của con người được quy định trong Chương XIIBLHS năm 1999.
Đến năm 2015, Quốc hội đã ban hành BLHS năm 2015 (có hiệu lực từ
01/7/2016. Tuy nhiên, ngày 29 tháng 6 năm 2016 Quốc hội ban hành Nghị
quyết số: 144/2016/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số
100/2015/QH13, Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ
quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số
94/2015/QH13 từ ngày 1 tháng 7 năm 2016 đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành) tội
9
phạm này được quy định thành 03 điều luật mới: Điều 134, BLHS 2015 (Tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều
135 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh); Điều 136 (Tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm
tội). Tội phạm Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
như: đâm, chém, đấm đá, đốt cháy, đầu độc... Việc dùng sức mạnh vật chất có
thể bằng chân tay hoặc các công cụ phương tiện hỗ trợ khác như: dao, súng,
gậy gộc…làm cho nạn nhân mất đi một hay nhiều bộ phận trên thân thể [8].
- Do lỗi cố ý: nghĩa là người phạm tội nhận thức rõ hành vi dùng sức
mạnh vật chất tác động trực tiếp lên cơ thể người khác là hành vi có thể hoặc
nhất định gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và
mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại tới sức khỏe của nạn nhân, để
mặc cho hậu quả đó xảy ra [8].
Điều đó chứng tỏ việc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác là do ý thức chủ quan của người phạm tội và trái pháp luật
hình sự, Điều 2 BLHS quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ
luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Đối với hành vi cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong các
trường hợp khác nhau, người phạm tội thực hiện những hành vi mà luật hình
sự ngăn cấm cụ thể được quy định tại các Điều 134, Điều 135, Điều 136
BLHS 2015 [13].
Ngoài ra, phân tích dấu hiệu pháp lý của tội Cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định ở 3 tội danh cụ thể
nhưng đều có đặc trưng chung là:
11
Tội phạm đã xâm hại vào quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe
của con người; đều có hành vi gây thương tích, do lỗi cố ý. Tội phạm cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện bởi
người có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi nhất định. Trong đó, dấu hiệu bắt
buộc về mặt hậu quả của loại tội phạm này là để lại thương tích cho nạn nhân
với tỷ lệ % thương tật theo luật định. Cơ sở để xác nhận nạn nhân bị thương
tích là kết luận của Hội đồng giám định y khoa. Việc xác định tỷ lệ thương
thức của sự thống nhất của các đối tượng, các thuộc tính của chúng.
Quan hệ mang tính chất khách quan và phổ biến. Phạm trù quan hệ
liên hệ chặt chẽ với khái niệm quy luật, thể hiện mối liên hệ bản
chất của các sự vật, quy luật phát sinh và phát triển của chúng thông
qua quan hệ của chúng với các sự vật khác. Khi vạch ra mối quan
hệ giữa hai hoặc nhiều đối tượng, nhận thức khoa học dựa vào đặc
tính khách quan của các đối tượng đó và vào thông số khách quan
của đặc tính từng đối tượng. Nghiên cứu và phân loại những 11 vấn
đề quan hệ là đối tượng của logic quan hệ - một bộ phận của logic
hình thức hiện đại.
Theo Từ điển tiếng Việt năm 2006, NXB Đà Nẵng thì “mối quan hệ
nghĩa là sự gắn liền chặt chẽ, có tác động qua lại lẫn nhau về mặt nào đó
giữa hai hay nhiều sự vật với nhau” [34].
Từ đó có thể hiểu mối quan hệ giữa hai hay nhiều sự vật, hiện tượng thể
hiện ở sự tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau trong sự tồn tại và phát triển.
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đã khẳng định rằng các sự vật hiện tượng
tồn tại trong thế giới khách quan không thể tồn tại độc lập mà luôn là một thể
thống nhất, có sự tác động qua lại lẫn nhau. Vì vậy, không thể hiểu được bất kỳ
sự vật, hiện tượng nào nếu không đặt chúng trong mối quan hệ chặt chẽ với các
13
sự vật hiện tượng khác. Nói cách khác, các sự vật, hiện tượng trong thế giới
khách quan đều có mối quan hệ với nhau. Mối quan hệ này phản ánh tính toàn
diện và tính phát triển, quan hệ qua lại tác động qua lại lẫn nhau phản ánh sự
vận động và phát triển liên tục trong không gian và thời gian.
Xuất phát từ nguyên lý trên, trong cách thức tổ chức bộ máy nhà nước,
để đảm bảo sự vận hành và hoạt động có hiệu quả của toàn bộ hệ thống cơ
quan nhà nước thì mỗi cơ quan tuy được quy định chức năng, nhiệm vụ riêng
Chính vì vậy, BLTTHS đã có nhiều quy định mang tính chế ước giữa
hai CQĐT và VKS nhằm đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ mà pháp luật tố
tụng hình sự đã đặt ra.
Như vậy, quá trình giải quyết vụ án hình sự đã làm nảy sinh các mối
quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, mối quan hệ trong nội bộ các cơ
quan tiến hành tố tụng; mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với
những người tham gia tố tụng và các cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ tham gia
vào việc giải quyết vụ án hình sự. Trong tổng thể các mối quan hệ đó thì mối
quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng là mối quan hệ xuyên suốt và cơ
bản nhất của hoạt động TTHS. Đó là mối quan hệ phát sinh trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự, trên cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của từng cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật TTHS.
Từ những vấn đề trên cho thấy: Mối quan hệ giữa VKSND và CQĐT
trong việc khởi tố, điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác là mối quan hệ phối hợp và chế ước lẫn nhau,
phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi
cơ quan theo quy định của pháp luật để hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhau trong
quá trình điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác, bảo đảm mọi hành vi phạm tội được phát hiện và xử lý
kịp thời, công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phục vụ công tác
điều tra, truy xét xử tội phạm.
15
1.1.3. Đặc điểm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan cảnh sát
điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác
Mối quan hệ giữa VKSND và CQĐT được xác định cụ thể trong
BLTTHS, trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật tổ chức
luôn phối hợp để giải quyết ở từng khâu, mọi bước. Đối với các vụ án đơn
giản, rõ ràng thì cơ quan điều tra có thể tự mình quyết định việc ra quyết định
khởi tố vụ án; còn đối với những vụ án phức tạp, án trọng điểm, án được dư
luận xã hội quan tâm thì trước khi khởi tố, CQĐT và VKS cần có sự họp bàn
thống nhất, để vừa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm,
vừa phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị ở địa phương.
- Sự phối hợp giữa CQĐT và VKS phải được tiến hành thường xuyên,
liên tục và trong tất cả các khâu của quá trình điều tra đối với từng vụ án cụ
thể. Từng cơ quan tiến hành tố tụng không thể hoàn thành nhiệm vụ do pháp
luật quy định nếu không có sự phối hợp chặt chẽ để làm sáng tỏ sự thật khách
quan của vụ án. Sai sót của cơ quan tiến hành tố tụng này có thể dẫn đến một
loạt sai sót khác của cơ quan tiến hành tố tụng khác.
+ Phối hợp được hiểu là cùng hành động hoặc cùng hoạt động hỗ trợ
lẫn nhau để giải quyết một công việc nào đó. Sự phối hợp giữa các cơ quan
tiến hành tố tụng để cùng giải quyết vụ án hình sự là một trong các đặc trưng
điển hình phản ánh sự phân công, phân nhiệm bộ máy tư pháp của Nhà nước
ta. Sự phối hợp giữa hai cơ quan được thể hiện trên một số khía cạnh như sau.
- Mối quan hệ này được xác lập từ khi nhận được tin báo, tố giác tội
phạm về tính mạng, sức khỏe cho đến khi tiến hành các hoạt động khám
nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; áp dụng các biện pháp ngăn chặn,
khởi tố vụ án, khởi tố bị can... cho đến khi kết thúc điều tra.
17
- VKS có trách nhiệm phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết định,
đề nghị của CQĐT trong thời gian ngắn nhất để tạo điều kiện cho CQĐT tiến
hành các hoạt động điều tra đạt kết quả nhanh nhất, hiệu quả cao nhất. Không
được gây khó khăn cho CQĐT trong các thủ tục TTHS một cách trái pháp
luật. BLTTHS 2015 quy định những cơ quan và người tiến hành tố tụng (Điều