1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động kiểm sát điều tra (KSĐT), là một giai đoạn quan trọng
trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự. Theo quy định của Bộ luật hình
sự (BLHS) và Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam thì điều tra là một
trong những hoạt động tư pháp quan trọng của Nhà nước ta nhằm bảo đảm
mọi hành vi vi phạm pháp luật có tính chất nguy hiểm cho xã hội có dấu hiệu
tội phạm phải được điều tra làm rõ.
KSĐT các vụ án hình sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng
nói chung và trong lĩnh vực thực hành quyền công tố nói riêng; nhằm đảm
bảo cho hoạt động điều tra được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
KSĐT còn có vai trò đảm bảo mọi hành vi vi phạm và tội phạm phải được
phát hiện và xử lý chính xác kịp thời, tăng cường đấu tranh phòng, chống tội
phạm, ở nước ta hiện nay.
Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên và quan trọng của cả quá
trình tố tụng nhằm xác định rõ hành vi phạm tội của tội phạm. Công tác kiểm
sát được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật sẽ giúp cho cơ quan điều
tra, hoạt động đúng hướng, khởi tố vụ án, khởi tố bị can được đúng người
đúng tội; hoạt động điều tra được đầy đủ, chính xác và kịp thời. Kết quả điều
tra vụ án hình sự là điều kiện tiên quyết thiết thực, trực tiếp cho việc thực hiện
quyền công tố và công tác kiểm sát việc truy tố và công tác xét xử của tòa án
được đúng người, đúng tội và đúng chính sách, pháp luật; tránh làm oan
người vô tội và tránh bỏ lọt tội phạm.
Qua 30 năm đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong
nhiều thành tựu và kinh nghiệm cho thấy Nhà nước ta đang hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền của nhân dân, do dân và vì dân. Một trong những nội dung
3
sát thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong
hoạt động điều tra [12].
Như vậy, trong giai đoạn hiện nay ngành kiểm sát nhân dân cần tăng
cường thực hiện chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố nhà nước và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động tư pháp. Nói chung là
tăng cường công tác KSĐT đã đúng hướng, hoạt động kiểm sát điều tra là một
dạng hoạt động áp dụng pháp luật.
Về phương diện lý luận, áp dụng pháp luật nói chung đã được giới
khoa học pháp lý làm sáng tỏ. Song áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án
hình sự vẫn còn là một vấn đề cần được nghiên cứu cụ thể hơn từ khái niệm
đến đặc điểm các giai đoạn áp dụng pháp luật và những yêu cầu cụ thể mà
Viện kiểm sát (VKS) cũng như kiểm sát viên thực hiện. Áp dụng pháp luật
nói chung và áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra là mối quan hệ giữa
"cái chung" và "cái riêng". Chắc chắn "cái riêng" bao giờ cũng phong phú, đa
dạng và phức tạp hơn "cái chung". Nghiên cứu vấn đề này cũng là đáp ứng
yêu cầu đòi hỏi từ thực tiễn đặt ra của vấn đề áp dụng pháp luật trong KSĐT
các vụ án hình sự của ngành kiểm sát nhân dân giai đoạn hiện nay. Thực tiễn
áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án ở nước ta trong thời gian
qua đã đạt được nhiều kết quả. Sự phối hợp giữa cơ quan điều tra và VKS về
cơ bản đã đáp ứng được nhiệm vụ đấu tranh phòng chống vi phạm và tội
phạm.
Tuy nhiên, qua công tác tổng kết, đánh giá thực tế cho thấy, công tác
KSĐT của VKS vẫn còn bộc lộ một số yếu kém, hạn chế như: Nhiều kiểm
sát viên, nhiều đơn vị không thực hiện được công tác KSĐT ngay từ giai
đoạn đầu, còn thụ động trong việc điều tra của cơ quan điều tra. Hoặc là vì
sợ trách nhiệm nên làm thay một số thao tác của điều tra viên, không theo
dõi đề ra yêu cầu điều tra. Hoặc là bỏ mặc cho điều tra viên tiến hành điều
nhân dân tối cao, NXB Văn hóa dân tộc, 2006.
5
Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng hình sự, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2006.
Mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động điều tra trinh sát và hoạt
động điều tra tố tụng của Bộ Công an, NXB Công an nhân dân, 2006.
Đề tài cấp Bộ: "Cơ sở lý luận và thực tiễn của thu thập, đánh giá
chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự" - Phó viện trưởng Viện
Khoa học kiểm sát làm chủ biên, 2005.
Các sách chuyên khảo như: "Những điều cần hiểu về bắt người, tạm
giữ, tạm giam … đúng pháp luật" của Phạm Thanh Bình - Nguyễn Văn Yên,
Nxb Pháp lý, 1990.
Vũ Gia Lâm: "Bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam", Luận văn
thạc sĩ luật học, 2000.
Các bài viết, công trình nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí của
Trung ương như: "Hoàn thiện một số quy định của pháp luật có liên quan tới
phân loại tội phạm" của Phạm Mạnh Hùng, Tạp chí Kiểm sát, tháng 12/2002.
Thái Văn Đoàn: "Để nâng cao chất lượng công tác phê chuẩn tạm
giam", Tạp chí Kiểm sát, tháng 12/2002.
Trần Quang Tiệp: "Một số vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn
trong tố tụng hình sự", Tạp chí Kiểm sát, tháng 4/2005.
Nguyễn Văn Nhật: "Khám nghiệm hiện trường trong hoạt động điều
tra hình sự", Tạp chí Kiểm sát, tháng 4/2005.
Phạm Mạnh Hùng: "Những bất cập và hoàn thiện quy định pháp luật
TTHS về khởi tố theo yêu cầu người bị hại", Tạp chí Kiểm sát, tháng 01/2003.
Trần Văn Thuận: "Nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan khác được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra", Tạp chí Kiểm sát, tháng 9/2003.
7
Luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự của các cơ quan có thẩm
quyền. Thời điểm nghiên cứu lấy từ năm 2001 đến năm 2005.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Về mục đích:
Luận văn nghiên cứu, đề xuất, đưa ra các luận chứng, các quan điểm,
các giải pháp đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật đối với hoạt động của cơ
quan điều tra và VKSND được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân. Góp phần hoàn thiện các quy định về tố tụng hình
sự (TTHS) trong KSĐT các vụ án hình sự; thực hiện cải cách tư pháp theo
đúng tinh thần Nghị quyết số 49 NQ/TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa IX) về chất lượng cải cách tư pháp.
- Về nhiệm vụ:
Luận văn có các nhiệm vụ sau:
+ Phân tích cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật và áp dụng pháp luật
trong kiểm sát đối với hoạt động của cơ quan điều tra và VKSND.
+ Phân tích những ưu điểm và những tồn tại trong áp dụng pháp luật
của VKSND các cấp trong kiểm sát đối với hoạt động của cơ quan điều tra
trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự.
+ Đề xuất những giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật đúng đắn trong
kiểm sát đối với hoạt động của cơ quan điều tra và trong điều tra các vụ án hình
sự của cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TRONG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
1.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật
Khoa học pháp lý XHCN chỉ ra rằng, pháp luật XHCN là một hệ
thống bao gồm tổng thể các quy tắc xử sự chung, thể chế hóa đường lối chủ
trương của Đảng, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo một trình tự, hình thức,
thủ tục luật định, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng
XHCN.
Trong đời sống và trong xã hội, pháp luật XHCN chiếm giữ vai trò vị trí
đặc biệt quan trọng. Xét trong bình diện chung nhất, pháp luật là phương tiện để
thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng
được triển khai thực hiện có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội; là phương tiện để
Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội; là phương tiện để nhân dân phát
huy, thực hiện quyền dân chủ, các quyền và lợi ích hợp pháp, nghĩa vụ của công
dân.
Pháp luật với tư cách là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, luôn tác
động và ảnh hưởng tới các quan hệ xã hội, cũng như các yếu tố của thượng
tầng kiến trúc pháp lý; duy trì trật tự xã hội có lợi cho giai cấp thống trị.
Trong quan hệ với Nhà nước, vai trò của pháp luật luôn gắn liền với việc thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, phát huy được vai trò của Nhà
thành những hình thức thực hiện pháp luật như sau:
12
- Tuân thủ pháp luật (tuân theo pháp luật) là một hình thức thực hiện
pháp luật, (xử sự thụ động). Trong đó, các chủ thể pháp luật kiềm chế không
tiến hành những hành động mà pháp luật ngăn cấm.
- Thi hành pháp luật (chấp hành pháp luật); là hình thức thực hiện
pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nhiệm vụ pháp lý của
mình bằng hành động tích cực. Những quy phạm pháp luật bắt buộc được
thực hiện ở hình thức này.
- Sử dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các
chủ thể pháp luật thực hiện quyền năng pháp lý của mình để bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của mình, của Nhà nước và của các chủ thể khác. Những quy
phạm pháp luật quy định các quyền về tự do dân chủ của công dân được thực
hiện ở hình thức này. Hình thức này khác với các hình thức trên ở chỗ chủ thể
pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho
phép theo ý chí của mình, chứ không bị ép buộc phải thực hiện pháp luật. Đó
là quyền khiếu nại, tố cáo, đình công, kháng cáo …
- Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật; trong đó
Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức
cho các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật; hoặc tự mình
căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra những quy định làm phát
sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật. Trong trường
hợp này, các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật có sự can
thiệp của Nhà nước. Trong một số trường hợp đặc biệt được Nhà nước ủy
quyền theo quy định của pháp luật, cơ quan của một số tổ chức chính trị xã
hội cũng có thể thực hiện hoạt động này.
Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những
Nhà nước nhưng khi kinh doanh phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền hoặc trong quan hệ kinh tế liên quan đến việc ký kết thực hiện hợp
đồng kinh tế mà các bên không tự giải quyết được khi có tranh chấp xảy ra,
thì các bên phải nhờ đến Tòa án kinh tế giải quyết …
14
- Trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nước thấy cần thiết phải
tham gia để giám sát, kiểm tra hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ
đó; hoặc Nhà nước xác nhận sự tồn tại của một số vụ việc, sự kiện thực tế. Ví
dụ, ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận việc đăng ký kết hôn,
xác nhận di chúc, chứng thực thế chấp …
- Như vậy áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật đặc thù,
do cơ quan nhà nước, công chức nhà nước được trao quyền tiến hành theo
một thủ tục do pháp luật quy định; nhằm thực hiện các biện pháp cưỡng chế
khi có hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm; khi phải giải quyết các tranh
chấp về quyền chủ thể và các nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể trong một
quan hệ pháp luật nhất định; hoặc khi Nhà nước thấy cần phải can thiệp, cần
phải tham gia để bảo đảm việc thực thi trên thực tế của các chủ thể trên các
lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của áp dụng pháp luật
Thứ nhất, áp dụng pháp luật mang tính tổ chức, thực hiện quyền lực
của Nhà nước trong thực tế:
- Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quan nhà nước có
thẩm quyền hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành. Mỗi cơ quan nhà
nước hay nhà chức trách trong phạm vi thẩm quyền được giao thực hiện một
số hoạt động áp dụng pháp luật quyết định. Trong quá trình áp dụng pháp luật
cơ quan áp dụng pháp luật phải tính đến mọi khía cạnh, mọi chi tiết và phải
xem xét cẩn trọng, dựa trên cơ sở những quy định, yêu cầu của áp dụng pháp
Thứ hai, nếu quy phạm pháp luật là những khuôn mẫu chung, là
những tiêu chuẩn chung cho xử sự giữa người với người trong mối quan hệ xã
hội thì hoạt động áp dụng pháp luật luôn mang tính cụ thể.
Tính cụ thể của hoạt động áp dụng pháp luật thể hiện ở chỗ các địa chỉ
để áp dụng pháp luật là xác định, gồm cả sự việc, con người, tập thể, thời
gian, không gian; các quy định áp dụng pháp luật được ban hành luôn mang
16
tính cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội xác định. Ví dụ, trong một vụ
án hình sự được khởi tố thì các quyết định khởi tố của từng bị can có tính
riêng biệt, không thể sử dụng một quyết định khởi tố bị can cho các bị can
nếu vụ án có nhiều bị can bị khởi tố. Đối tượng của hoạt động áp dụng pháp
luật là những quan hệ xã hội cần đến sự điều chỉnh cá biệt, trên cơ sở những
mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật. Bằng hành động áp dụng pháp
luật những quy phạm pháp luật nhất định được cá biệt hóa một cách cụ thể và
chính xác.
Thứ ba, việc ban hành một quyết định áp dụng pháp luật phải được
thực hiện thông qua thủ tục nhất định. Các thủ tục để ban hành quyết định
trong hoạt động áp dụng pháp luật phải được pháp luật quy định rất chặt chẽ
và đòi hỏi các chủ thể phải tuân thủ nghiêm minh. Các thủ tục giúp cho các
chủ thể áp dụng pháp luật thể hiện được nguyện vọng, mong muốn của mình
một cách dân chủ, khách quan trong quá trình áp dụng pháp luật. Tính đơn
giản hay tính phức tạp của các thủ tục này phụ thuộc vào tính chất nội dung
sự việc cần phải áp dụng pháp luật. Để áp dụng các quy phạm pháp luật đơn
giản như việc xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ thì các thủ tục đặt ra phải
đơn giản, phải nhanh chóng. Ví dụ, cảnh sát giao thông phạt người điều khiển
xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm khi đang điều khiển xe gắn máy trên
đoạn đường bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm. Để áp dụng quy phạm pháp luật
án hình sự
Nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng, nhằm phát triển lý luận về áp dụng pháp
luật nói chung và áp dụng pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể nói riêng.
Áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự là một dạng của áp
dụng pháp luật nói chung. Áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự
thuộc trường hợp áp dụng pháp luật: Khi Nhà nước thấy cần thiết phải tham
gia bằng hình thức giám sát hoạt động của các chủ thể tham gia trong các
quan hệ điều tra, KSĐT các vụ án hình sự. Cơ sở phát sinh hoạt động áp dụng
18
pháp luật của VKSND đó là các quyết định của cơ quan điều tra, các hành vi
của những người tiến hành tố tụng trong hoạt động TTHS. Các quyết định và
các hành vi đó có thể được ban hành, thực hiện theo đúng hoặc không đúng
quy định của pháp luật. Khi đó Nhà nước thông qua hoạt động kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của VKSND, nhằm phát hiện những sai phạm, kịp thời đề
ra các yêu cầu, kiến nghị các chủ thể trong quá trình điều tra các vụ án hình
sự, khắc phục, sửa chữa; đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án hình sự được
tuân thủ theo các quy định của pháp luật.
Dưới góc độ lý luận chung về áp dụng pháp luật, áp dụng pháp luật là
một hình thức thực hiện pháp luật, là hoạt động mang tính tổ chức quyền lực
nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền nhằm cá biệt hóa những vi phạm
pháp luật vào từng trường hợp cụ thể đối với những cá nhân, đơn vị, tổ chức
cụ thể. Áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự có thể coi là hoạt
động mang tính quyền lực nhà nước của VKSND nhằm cá biệt hóa các quy
phạm pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật TTHS nói riêng đối với
các chủ thể trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự.
Từ khái niệm về áp dụng pháp luật nói chung, có thể hiểu áp dụng
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra;
trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật.
- Yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi điều tra viên theo quy
định của pháp luật; nếu hành vi của điều tra có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố
về hình sự.
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm
giam và các biện pháp ngăn chặn khác; phê chuẩn, không phê chuẩn các
quyết định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật.
- Hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra; tạm đình
chỉ điều tra; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
20
Với những quy định của pháp luật như trên thì VKSND có quyền áp
dụng mọi biện pháp cần thiết trong hoạt động kiểm sát điều tra nhằm đảm bảo
cho hoạt động điều tra các vụ án hình sự được tuân thủ đầy đủ các quy định
của pháp luật. Đảm bảo cho việc khởi tố điều tra các vụ án hình sự được tuân
theo quy định của pháp luật; bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội và
đúng chính sách pháp luật.
Thứ hai, áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
của VKSND phải tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục do pháp luật
quy định.
Trong hoạt động điều tra, khám phá các vụ án hình sự của cơ quan
điều tra, trong thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của
VKSND, đó là một quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của hai cơ quan:
Công an - VKS. Đây là những hoạt động rất quan trọng có tính quyết định
trong quá trình giải quyết những vụ án hình sự. Chính hoạt động kiểm sát điều
tra có vai trò quan trọng như vậy nên pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng
hiện hành nói riêng đã quy định rất chặt chẽ việc áp dụng pháp luật trong hoạt
- Nghiên cứu, xem xét, đánh giá các tình tiết, chứng cứ có liên quan đến
sự kiện pháp lý, đối tượng và quyết định xử lý do cơ quan điều tra cung cấp:
Đây là khâu đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng của áp dụng pháp luật
trong hoạt động KSĐT các vụ án hình sự. Việc VKS xem xét, đánh giá các tài
liệu, chứng cứ và thủ tục tố tụng do cơ quan điều tra tiến hành trong các vụ án
hình sự, nhằm xác định tính có căn cứ, qua đó xác định tính chất, mức độ
hành vi nguy hiểm cho xã hội của các đối tượng đã gây ra: có hay không có
hành vi phạm tội? Hành vi đó ở mức độ nào? xảy ra ở đâu? Khi nào? Ai là
người thực hiện? Công cụ phương tiện phạm tội? Nhân thân? năng lực chịu
trách nhiệm hình sự? Trình tự, thủ tục thu thập tài liệu chứng cứ …
Nếu trước đó cơ quan điều tra thu thập tài liệu chứng cứ không đúng
trình tự, thủ tục, không đầy đủ, không toàn diện thì việc xem xét đánh giá
(kiểm sát việc tuân theo pháp luật) của VKSND sẽ gặp khó khăn, dễ dẫn tới
22
sai lầm trong khi ra văn bản áp dụng pháp luật. Do đó phạm vi thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND phải được bắt
đầu từ khâu tiếp nhận, xử lý tin báo liên quan tới tội phạm.
Theo quy định của pháp luật TTHS thì VKSND tự mình thông qua các
nguồn tin báo hoặc từ các tài liệu chứng cứ của cơ quan điều tra gửi tới để
xem xét đánh giá sự kiện pháp lý đã xảy ra: Việc thu thập tài liệu chứng cứ có
hợp pháp hay không, hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đến lúc phải xử lý
bằng hình sự hay chỉ cần xử lý bằng biện pháp hành chính, người thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội là ai, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đối
tượng phạm tội có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn … tức là phải xem xét
đánh giá các yếu tố cấu thành tội phạm của đối tượng đã thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội. Trong quá trình xem xét đánh giá các tài liệu chứng cứ
ban đầu của vụ án hình sự, VKSND cần phải có sự phân công trách nhiệm cụ
định; quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Đây là giai đoạn trọng
tâm, quan trọng nhất của cả quá trình KSĐT các vụ án hình sự. Quyết định,
quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn của VKS trong lĩnh vực
này được ban hành sau khi đã xem xét, đối chiếu một cách thận trọng, khách
quan với toàn bộ những tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Vì quyết định của VKSND đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, đến
trật tự trị an trên địa bàn và đến quyền tự do thân thể của công dân … nên đòi
hỏi người có thẩm quyền ra văn bản áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm
ngặt theo các trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật tố tụng hiện hành. Đặc
biệt văn bản áp dụng pháp luật của VKSND phải có tính khả thi và hiện thực.
Tóm lại, để ban hành văn bản áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT các
vụ án hình sự, người có thẩm quyền áp dụng pháp luật của VKSND phải hiểu
biết về mặt pháp luật, biết tổng hợp, đánh giá các tình tiết vụ án, đồng thời
phải có kỹ năng soạn thảo văn bản, đảm bảo chất lượng kỹ thuật văn bản.
- Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật:
Việc tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật là giai đoạn cuối cùng
của quá trình áp dụng pháp luật. Khác với các văn bản áp dụng pháp luật của các
24
cơ quan nhà nước khác, văn bản áp dụng pháp luật của VKS trong KSĐT các vụ
án hình sự nó là lệnh, quyết định, quyết định không phê chuẩn, quyết định phê
chuẩn buộc cơ quan điều tra phải thi hành và tổ chức thực hiện nghiêm minh.
Giám sát việc thực hiện các văn bản áp dụng pháp luật của VKS đối với toàn bộ
hoạt động điều tra vừa là chức năng, vừa là nhiệm vụ của ngành kiểm sát đã
được pháp luật quy định chặt chẽ và đầy đủ. Đó là một trong những đảm bảo
quan trọng để quyết định của VKSND được thực hiện một cách nghiêm chỉnh.
1.2.2. Khái niệm điều tra các vụ án hình sự
Do tính chất hoạt động của các loại tội phạm đòi hỏi phải được các cơ
bắt được kẻ gây án, đến hôm sau mới phát hiện ra vụ việc, thì đây là tình
huống phức tạp hơn; cần phải làm rõ các yếu tố trên. Khác với trường hợp
trước đó ở trường hợp này cần phải khám phá tội phạm và hoạt động điều tra
cần phải phức tạp hơn. Nó cần sử dụng tới tất cả các biện pháp, chiến thuật,
thủ thuật điều tra để khám phá tội phạm.
Với cách tiếp cận như vậy, xét về mặt tổng thể dưới góc độ lý luận,
thấy rằng: Điều tra tội phạm là một quá trình nhận thức, thông qua các hoạt
động thu thập, nghiên cứu, phân tích, đánh giá tài liệu, tình hình phản ánh
thực tế khách quan về tội phạm, về vụ phạm tội, bằng các hình thức, biện
pháp, phương tiện chuyên môn của cơ quan chuyên trách để khám phá tội
phạm; vạch trần kẻ phạm tội; phòng ngừa ngăn chặn tất cả mọi thiệt hại do tội
phạm gây ra. Đây là quá trình thu thập những thông tin, tài liệu, số liệu …
phản ánh sự thật về một tổ chức, con người, việc, hiện tượng hoặc địa bàn.
Phục vụ cho công tác nắm, quản lý tình hình về an ninh trật tự.
Điều tra được tiến hành dưới nhiều hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp,
công khai hoặc bí mật, diện hoặc điểm và được tiến hành bằng hành động
điều tra trinh sát, điều tra TTHS.
Điều tra trinh sát là hoạt động nghiệp vụ đặc biệt của lực
lượng công an, được tổ chức tiến hành dưới hình thức bí mật, trên