Viện Kiểm sát nhân dân trong điều kiện cải cách tư pháp hiện nay - Pdf 25


1

2

MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1 9
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆN KIỂM SÁT/CƠ QUAN
CÔNG TỐ 9
1. 1. VIỆN KIỂM SÁT TRONG BỘ MÁY NHÀ NƢỚC 9
1.1.1. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong bộ máy nhà nước 9
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát 11
1.2. TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN CÔNG TỐ CÁC NƢỚC
TRÊN THỂ GIỚI 25
1.2.1. Cơ quan công tố của một số quốc gia theo truyền thống luật án lệ 25
1.2.2. Cơ quan công tố ở một số nước theo truyền thống pháp luật Châu
Âu lục địa 34
1.2.3. Viện kiểm sát của một số quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi 42
Kết luận chƣơng 1 54
Chƣơng 2 56
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG VỀ
VIỆN KIỂM SÁT/VIỆN CÔNG TỐ Ở VIỆT NAM 56
2.1. KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN/ VIỆN CÔNG TỐ QUA CÁC THỜI KỲ Ở VIỆT NAM 56
2.1.1. Trong thời kỳ phong kiến 56
2.1.2. Trong thời kỳ Pháp thuộc 59
2.1.3. Viện kiểm sát của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – tiền thân của
Viện kiểm sát nhân dân ngày nay (giai đoạn từ năm 1945 – 1960) 63
2.1.4. Viện kiểm sát của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau hòa bình
lập lại (giai đoạn từ năm 1954-1958) 69
2.1.5. Viện kiểm sát nhân dân giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980 74
2.1.6. Viện kiểm sát nhân dân giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992 76

nói riêng trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu đặt ra trong tình hình mới 123 3.3.3. Đổi mới Viện kiểm sát phải được tiến hành khẩn trương, đồng bộ, có trọng
tâm và trọng điểm 124
3.3.4. Tăng cường sự giám sát của các cơ quan dân cử, tổ chức và nhân dân 124
3.3.5. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị 125
Kết luận chƣơng 4 127
KẾT LUẬN 128
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 130

MỞ ĐẦU

1. Lý do nghiên cứu đề tài
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã làm cuộc cách mạng thành
công, Cách mạng Tháng Tám năm 1945, từ đó Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà, một Nhà nước kiểu mới, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông
Nam Á ra đời. Trong hơn 60 năm xây dựng và không ngừng hoàn thiện bộ

NQ/TW thì chức năng của Viện kiểm sát trong thời gian tới vẫn được tiếp tục
xác định chắc chắn đó là: “Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp như hiện nay”. Theo đó, vấn
đề cải cách tư pháp đã được quán triệt và trở thành nhiệm vụ quan trọng, cấp
bách của toàn Đảng, toàn dân, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận
thức cũng như hành động, đồng thời phù hợp với quá trình đổi mới công tác
lập pháp và chương trình cải cách hành chính.
Trong hơn 60 năm qua, tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân ở
nước ta đã đạt được nhiều kết quả, góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, bảo vệ pháp chế XHCN, đồng thời tạo môi trường ổn định
cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Bên
cạnh những kết quả đạt được như đã nêu thì tổ chức và hoạt động Viện kiểm
sát nhân dân đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế, bất cập như: chất lượng và hiệu
quả trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm chưa cao, tình trạng bỏ lọt
tội phạm và người phạm tội vẫn còn xảy ra nhiều, tình trạng oan, sai trong
điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn xảy ra… đòi hỏi phải nhanh chóng cải cách
mạnh mẽ, toàn diện về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra trong tình hình mới. Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: Viện kiểm sát nhân dân trong
điều kiện cải cách tư pháp hiện nay làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Trong những năm gần đây đã có một số công trình khoa học, các bài viết
trên các tạp chí liên quan đến nội dung về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm
sát nhân dân trong điều kiện cải cách tư pháp. Có thể chia các công trình theo
các nhóm sau:
- Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về tổ chức bộ máy nhà nước
và hệ thống cơ quan tư pháp có liên quan đến Viện kiểm sát nhân dân và nổi

toàn diện, sâu sắc về yếu tố tình thế cấp thiết. Vì vậy đề tài “Viện kiểm sát
nhân dân trong điều kiện cải cách tư pháp hiện nay” không trùng lắp với
bất kỳ đề tài khoa học, Luận văn, Luận án nào.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
3.1. Mục tiêu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là dưới góc độ lý luận và lịch sử Nhà
nước và pháp luật làm rõ cơ sở lý luận đồng thời nghiên cứu một cách có hệ
thống về quá trình hình thành và phát triển của tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát/Cơ quan công tố ở nước qua tất cả các thời kỳ cho đến nay, đặc biệt
là đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động từ năm 2002 đến nay; nghiên cứu
các tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố một số nước trên thế giới, từ đó
rút ra một số kinh nghiệm; nghiên cứu và làm rõ các nội dung cải cách tư
pháp có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, đồng thời phân
tích những quan điểm, những ý kiến khác nhau về chế định Viện kiểm sát. Từ
việc nghiên cứu này, cùng với quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư
pháp trong đó có Viện kiểm sát nhân dân để xây dựng phương hướng, giải
pháp và mô hình thực hiện đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đạt hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc cải cách tư
pháp ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ về mặt lý luận về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức
và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.
- Phân tích, đánh giá quá trình hình thành, phát triển của cơ quan công tố
trên thế giới cũng như ở Việt Nam, từ đó rút ra những kinh nghiệm nhằm làm
luận cứ khoa học trong việc xây dựng phương hướng cải cách Viện kiểm sát
nhân dân trong thời gian tới.
- Xem xét một cách toàn diện cơ quan công tố của các nước trên thế giới và

5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng về từng bước
hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo yêu cầu
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân. Luận văn cũng được trình bày trên cơ sở nghiên cứu Hiến
pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát, Pháp lệnh Kiểm sát viên và các văn bản
pháp luật khác quy định về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp kết hợp
lý luận với thực tiễn; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp hệ
thống; phương pháp luật học so sánh để làm sáng tỏ những nội dung cần
nghiên cứu của luận văn. 6. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và luận cứ khoa
học về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát
đồng thời trên cơ sở này luận văn làm rõ khái niệm, đối tượng, phạm vi của
quyền công tố và thực hành quyền công tố; mối quan hệ giữa quyền công tố
và thực hành quyền công tố; hoạt động tư pháp và kiểm sát các hoạt động tư
pháp.
- Khái quát quá trình hình thành, phát triển, tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát các nước trên thế giới, trong khu vực và ở nước ta để từ đó rút ra
những bài học kinh nghiệm nhằm vận dụng trong việc đổi mới Viện kiểm sát
theo yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
- Trên cơ sở tổng hợp số liệu qua nhiều nguồn xác thực, luận văn đánh giá
đúng thực trạng tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát trong những năm qua
để rút ra những mặt mạnh, những mặt yếu, nguyên nhân để làm cơ sở thực
tiễn cho việc đổi mới Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp.
- Trên cơ sở lý luận, thực tiễn, những yêu cầu đổi mới, những quan điểm

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ VIỆN KIỂM SÁT/CƠ QUAN CÔNG TỐ

1. 1. VIỆN KIỂM SÁT TRONG BỘ MÁY NHÀ NƢỚC
1.1.1. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong bộ máy nhà nƣớc
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước kiểu mới, nhà
nước của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân. Với bản chất nhà nước xã
hội chủ nghĩa, nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động là quyền lực nhà
nước là thống nhất và tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Từ bản chất của
nhà nước ta, tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, khác với nguyên tắc phân
quyền trong nhà nước tư bản. Do vậy, nhân dân thực hiện quyền lực của mình
thông qua cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, do nhân dân bầu ra, do vậy
Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất. Song, Quốc hội không thể nắm giữ
và làm tất cả các quyền lực đó mà có sự phân công, phân nhiệm rạch rồi giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp. Tất cả những vấn đề nêu trên đều được ghi nhận trong tất cả Hiến
pháp, mà cụ thể tại Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

nhằm đặt ra trong tình hình mới. Do vậy, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân là
một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập, thống nhất từ trung ương đến địa
phương. Viện kiểm sát nhân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
cấp trên, đồng thời Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện
trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao do Quốc hội bầu, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Với vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước thì
Viện kiểm sát là một trong những cơ quan thể hiện trực tiếp bản chất của Nhà
nước ta, là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong bộ máy Nhà
nước. Điều 126 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định
nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là: “Bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản tập
thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân”.
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát
Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 1 Luật
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định chức năng Viện kiểm sát
nhân dân: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp theo Hiến pháp và pháp luật”. Như vậy, so với trước đây
thì chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân năm 2002 có sự điều chỉnh theo hướng xác định chức năng thực
hành quyền công tố là trọng tâm đồng thời thu hẹp phạm vi chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật. Theo quy định, Viện kiểm sát nhân dân không
thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành
chính, kinh tế, xã hội nữa mà tập trung kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đối
với kiểm sát các hoạt động tư pháp, các cơ quan, đơn vị và cá nhân có liên
quan trong lĩnh vực tư pháp.

từ quan điểm xem tất cả hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật là thực
hành quyền công tố và thực hành quyền công tố giống nhau. Theo chúng tôi,
nếu hiểu quyền công tố như trên là quá rộng và chưa chính xác. Bởi vì đối
tượng và phạm vi của kiểm sát việc tuân theo pháp luật hầu hết tất cả các lĩnh
vực nên rất rộng, trong khi đó đối tượng, phạm vi của quyền công tố chỉ thực
hiện trong lĩnh vực hình sự. Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố là quyền của Nhà nước giao
cho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc
tội tại phiên tòa sơ thẩm [23, tr 75 - 76]. Quan điểm này cho rằng chỉ có Viện
kiểm sát mới có quyền này và chỉ diễn ra trong tố tụng hình sự (cũng chỉ có ở
một giai đoạn xét xử sơ thẩm). Quan điểm này còn đồng nhất quyền công tố
với quyền buộc tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm. Theo chúng tôi,
truy tố và buộc tội chỉ là một trong số quyền năng của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố chứ không nói lên được bản chất của quyền này. Buộc tội
và sự bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa chỉ là những hoạt động cụ thể trong hệ
thống các hoạt động của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố. Mặt
khác, chúng ta biết rằng quyền công tố là quyền của nhà nước không chỉ giao
cho Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố mà ngay khi khởi tố vụ án. Do vậy,
nếu hiểu quyền công tố quan điểm này dẫn đến phạm vi của quyền công tố
quá hẹp, đồng thời tạo nên nhầm lẫn giữa quyền công tố và thực hành quyền
công tố.
Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước
đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, bảo vệ lợi ích chung, bảo vệ lợi ích cá nhân [15, tr.62 – 67].
Quan điểm này cho rằng quyền công tố xuất hiện từ khi có nhà nước và pháp
luật được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực tố tụng hình sự, song cùng với sự
phát triển của thời gian và xã hội cho nên quyền công tố mở rộng sang các
lĩnh vực khác như tố tụng dân sự, tố tụng lao động, tố tụng hành chính Mặt

hiện chức năng này, cho nên chỉ có Viện kiểm sát mới có chức năng thực
hành quyền công tố mà không cơ quan nào có được. Thực tế cho thấy, có rất
nhiều người nhầm lẫn hoặc nhận thức sai lầm giữa quyền công tố và thực
hành quyền công tố, giữa thẩm quyền của Viện kiểm sát với các quyền năng pháp lý để thực hiện thẩm quyền đó, hay hành vi nào là thực hành quyền công
tố hay hành vi nào là thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Như vậy, vấn đề đặt ra là các Cơ quan điều tra và Tòa án cũng có quyền khởi
tố vụ án hình sự hoặc bắt người phạm tội để điều tra, thu thập chứng cứ, thì
các cơ quan này có phải là thực hành quyền công tố hay không? [18, tr.75-
80]. Chúng tôi cho rằng, các Cơ quan điều tra, Tòa án hay một số cơ quan
khác có chức năng khởi tố vụ án, điều tra, thu thập chứng cứ nhưng không
nhân danh công quyền truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và
bảo vệ việc truy tố trước Tòa cho nên các cơ quan nay không có chức năng
thực hành quyền công tố. Mặt khác, phạm vi quyền công tố là từ khi tội phạm
xảy ra và kết thúc bản án có hiệu lực pháp luật. Để đảm bảo việc thực hiện
quyền đó, nhà nước quy định các quyền năng pháp lý mà cơ quan có thẩm
quyền đưa vụ án ra tòa để xét xử và bảo vệ buộc tội đó goi là cơ quan thực
hành quyền công tố.
Như vậy, từ lý luận cũng như thực tiễn có thể khẳng định rằng, chỉ có Viện
kiểm sát mới có chức năng thực hành quyền công tố. Chúng tôi cho rằng, thực
hành quyền công tố là: Việc cơ quan Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các biện
pháp do luật định để truy cứu trách nhiệm hình sự (buộc tội) đối với người
phạm tội trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.
*Nội dung thực hành quyền công tố:
Hiện nay, trong lý luận cũng như thực tiễn nhận thấy thường có sự nhầm
lẫn giữa chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt
động tư pháp của Viện kiểm sát.
- Trong giai đoạn điều tra:

bảo vệ tính có căn cứ và tính hợp pháp của cáo trạng, làm rõ thêm các tình tiết
khác có liên quan đến vụ án và tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Qua đó, giúp Hội đồng xét xử đánh giá chứng cứ một cách khách quan để ra những
bản án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
+ Kháng nghị bản án của Tòa án khi có vi phạm về nội dung như: chứng cứ
buộc tội, kết tội không đúng với quy định pháp luật, áp dụng không đúng các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức hình phạt, xuất hiện những tình tiết mới
của vụ án. Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên phúc thẩm, giám
đốc thẩm và tái thẩm…
Do vậy, nội dung thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng
tổng hợp các quyền năng tố tụng độc lập để truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người phạm tội nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng
quy định pháp luật và thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án đến khi bản án có
hiệu lực pháp luật.
b, Hoạt động tƣ pháp và kiểm sát hoạt động tƣ pháp
- Hoạt động tư pháp
Để thực hiện quyền tư pháp, các nhà nước đều không ngừng xây dựng và
hoàn thiện cơ quan tư pháp để thực hiện quyền tư pháp. Ở nước ta, khi đề cập
đến cơ quan tư pháp cũng có nhiều quan điểm khác nhau: Có quan điểm cho
rằng cơ quan tư pháp chỉ là những cơ quan tài phán; có quan điểm cho rằng
cơ quan tư pháp bao gồm cơ quan tài phán và cơ quan công tố; quan điểm
khác cho rằng cơ quan tư pháp là bao gồm tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật
như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Thanh tra, các cơ quan bổ trợ tư
pháp như: Luật sư, giám định, công chứng. Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa
đổi, bổ sung năm 2001) quy định hệ thống cơ quan tư pháp gồm có: Tòa án,
Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức
hỗ trợ cho hoạt động xét xử như: Tổ chức luật sư, tổ chức giám định tư pháp,
cơ quan công chứng; trong các cơ quan tư pháp nói trên thì Tòa án là nơi biểu
chức năng thay mặt nhà nước ra các phán quyết, còn có sự tham gia của nhiều
cơ quan, thậm chí tổ chức và cá nhân. Không có quyết định khởi tố vụ án của
cơ quan điều tra, không có quyết định truy tố của Viện kiểm sát thì không có
xét xử vụ án hình sự; không có khởi kiện của nguyên đơn dân sự thì không có
vụ án dân sự… Theo quan niệm này, hoạt động tư pháp có một số đặc trưng
sau: Thứ nhất, hoạt động tư pháp gắn liền với xung đột pháp lý, tranh chấp
hoặc vi phạm pháp luật. Hoạt động tư pháp cụ thể chỉ phát sinh khi có xung
đột pháp lý hay vi phạm pháp luật; Thứ hai, hoạt động tư pháp có tính độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật; Thứ ba, hoạt động tư pháp phải được điều chỉnh
bằng thủ tục tố tụng công khai, rõ ràng, minh bạch [9, tr.28-29].
Qua nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các quy định của pháp luật và thực
tiễn hoạt động cho thấy khái niệm tư pháp, cơ quan tư pháp được hiểu theo
nghĩa rộng nên hoạt động tư pháp cũng được xác định theo nghĩa rộng. Thật
vậy, Nghị quyết 49 – NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị là nghị quyết
đầu tiên về cải cách tư pháp ở nước ta nhằm củng cố, sắp xếp, kiện toàn bộ
máy cơ quan tư pháp và công tác tư pháp trong tình hình mới. Trong nghị
quyết này, các hình thức hoạt động tư pháp cũng thể hiện rất rõ: Thứ nhất: các
hoạt động tư pháp – hoạt động tố tụng tư pháp gồm: hoạt động điều tra, hoạt
động công tố, hoạt động xét xử và hoạt động thi hành án; Thứ hai: các hoạt
động bổ trợ tư pháp gồm: hoạt động của luật sư, hoạt động giám định tư pháp,
hoạt động công chứng, hoạt động của lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp.
- Kiểm sát hoạt động tư pháp:
Trong những năm gần đây, một số công trình, bài viết của nhiều tập thể,
của nhiều tác giả về kiểm sát hoạt động tư pháp có nhiều quan điểm khác
nhau nhưng tựu trung có một quan điểm sau:
Một là, kiểm sát hoạt động tư pháp chỉ bao gồm nội dung kiểm sát các hoạt
động tố tụng như điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Như vậy là phù hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status