Quan hệ giữa CQĐT và Viện Kiểm sát nhân dân trong điều tra các tội XPSH trên địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Theo qui định của pháp luật TTHS, CQĐT và Viện KSND là hai cơ
quan tiến hành tố tụng, có chức năng, nhiệm vụ khác nhau. CQĐT có chức
năng, nhiệm vụ tiến hành các hoạt động theo qui định của Bộ luật TTHS để
phát hiện tội phạm và người phạm tội, tiến hành các hoạt động điều tra, lập hồ
sơ đề nghị truy tố. Viện KSND là cơ quan có chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong TTHS để bảo đảm mọi hành vi
phạm tội phải được phát hiện nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ và xử lý công
minh, đúng pháp luật. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình, các CQĐT
và Viện KSND vừa chế ước lẫn nhau, vừa có trách nhiệm phối hợp với nhau
để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động TTHS.
Từ Liêm là một huyện ngoại thành nằm ở phía Tây - Nam thành phố
Hà Nội. Trong những năm qua tình hình các loại tội phạm XPSH như trộm
cắp tài sản, cướp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản... trên địa bàn huyện diễn ra hết sức phức tạp và là tội
phạm xảy ra chủ yếu, gây mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Với chức
năng, nhiệm vụ của mình, CQĐT Công an huyện Từ Liêm đã có sự nỗ lực
trong phát hiện, điều tra các vụ án về tội phạm XPSH và đã thu được những
kết quả khả quan. Thực tế cho thấy kết quả công tác điều tra các vụ án XPSH
của CQĐT đạt được, có vai trò thực sự quan trọng của Viện KSND huyện Từ
Liêm. Ngoài những hoạt động theo chức năng của mỗi cơ quan, giữa CQĐT
với Viện KSND huyện Từ Liêm trong nhiều năm qua, đã có sự quan hệ phối
hợp chặt chẽ, tạo nên sự đồng bộ nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm
XPSH trên địa bàn huyện. Mối quan hệ này đã được thể hiện trên từng nội
dung trong điều tra các vụ án về tội phạm XPSH. Tuy nhiên do những nguyên
nhân khách quan và chủ quan, trong quan hệ giữa CQĐT và Viện KSND
6
huyện Từ Liêm trong điều tra các tội phạm XPSH vẫn còn bộc lộ những tồn
tại, hạn chế nhất định, nên quan hệ phối hợp gặp không ít những khó khăn,
vướng mắc. Từ thực tiễn công tác, chúng tôi cũng nhận thấy việc tìm hiểu

pháp nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa hai cơ quan này trong đấu
tranh phòng, chống tội phạm.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Khái quát lý luận về các tội phạm XPSH;
- Luận giải những vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý về quan hệ giữa
CQĐT và Viện KSND cấp huyện trong điều tra các tội phạm XPSH;
- Khảo sát, thống kê số liệu phản ánh thực trạng tình hình mối quan hệ
giữa CQĐT và Viện KSND trong điều tra các tội XPSH trên địa bàn huyện
Từ Liêm, đánh giá những ưu điểm và tồn tại của mối quan hệ này;
- Đề xuất một số giải pháp chung và những kiến nghị để nâng cao chất
lượng, hiệu quả của mối quan hệ giữa CQĐT và Viện KSND huyện Từ Liêm
trong điều tra tội phạm XPSH để nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với tư cách là một đề tài khoa học thuộc lĩnh vực khoa học pháp lý ứng
dụng, đề tài có đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và hoạt động thực
tiễn trong quan hệ giữa CQĐT và Viện KSND trong điều tra các tội XPSH
trên địa bàn huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội.
Về phạm vi nội dung nghiên cứu: theo qui định của Bộ luật TTHS cũng
như Pháp lệnh tổ chức ĐTHS, việc điều tra các tội XPSH thuộc thẩm quyền
của Cơ quan CSĐT, do vậy đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề trong mối
quan hệ phối hợp giữa Cơ quan CSĐT và Viện KSND trong điều tra các tội
XPSH. Nếu theo qui định của BLHS thì các tội XPSH được qui định ở
8
Chương XIV và có một số tội XPSH được qui định ở chương khác, đề tài chỉ
tập trung nghiên cứu các tội XPSH được qui định ở Chương XIV BLHS năm
1999.
Về phạm vi thời gian: đề tài giới hạn nghiên cứu vấn đề trong giai đoạn
từ năm 2000 đến nay và trên địa bàn huyện Từ Liêm, Hà Nội.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa

Chương 3. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quan hệ giữa
CQĐT và Viện KSND trong điều tra các tội XPSH trên địa bàn huyện Từ
Liêm, thành phố Hà Nội.
10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ
GIỮA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
1.1. Những đặc trưng cơ bản trong điều tra các tội XPSH
1.1.1. Đặc điểm pháp lí của các tội phạm XPSH
Trong điều tra và kiểm sát hoạt động điều tra các tội phạm nói chung,
việc nhận thức đúng các đặc điểm pháp lí của tội phạm có ý nghĩa hết sức
quan trọng. Có hiểu đúng các qui định về các tội phạm XPSH, các cơ quan
tiến hành tố tụng mới xác định đúng phương hướng điều tra, xử lí đảm bảo
đúng yêu cầu của pháp luật.
Các tội phạm XPSH được qui định tại Chương XIV - Các tội phạm
XPSH của BLHS năm 1999, với 13 điều, từ Điều 133 đến Điều 145. Các tội
phạm XPSH có những dấu hiệu đặc trưng sau đây:
- Các dấu hiệu về khách thể của tội phạm
Các tội phạm XPSH có khách thể là quan hệ sở hữu về tài sản. Điều đó
có nghĩa là các tội phạm XPSH là những hành vi xâm hại hoặc đe doạ xâm
hại, gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu thuộc các hình thức sở hữu toàn dân; sở
hữu của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội; sở hữu tập thể; sở hữu tư
nhân; sở hữu của các tổ chức xã hội; tổ chức xã hội - nghề nghiệp; sở hữu hỗn
hợp; sở hữu chung [19, từ Điều 205 đến Điều 240].
Quyền sở hữu về tài sản là khách thể của các tội phạm XPSH nhưng
một tội phạm XPSH có thể không xâm phạm vào tất cả ba quyền năng (quyền
chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) của chủ sở hữu. Một hành vi chỉ
cần gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến một trong ba quyền năng đó
cũng cấu thành tội XPSH như tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142) chẳng

thể. Tài sản không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu đã tự nguyện từ
bỏ trước khi xảy ra hành vi chiếm đoạt không phải là đối tượng của các tội
phạm XPSH.
+ Tài sản là đối tượng của các tội XPSH có thể có nhiều dạng khác
nhau như những vật thể cụ thể song cũng có thể là các giấy tờ mà thông qua
đó người phạm tội có thể nhận được một số tiền hoặc tài sản như: phiếu gửi
xe; giấy tờ kí gửi, cầm đồ tài sản; thẻ thanh toán...
+ Tài sản là đối tượng của các tội phạm XPSH là những tài sản thông
thường, có thể trao đổi, mua bán một cách hợp pháp. Những tài sản có tính
chất đặc biệt như vũ khí, phương tiện quân sự, chất độc, chất nổ, chất phóng
xạ, ma tuý... là đối tượng của các tội phạm được định tại các điều luật ngoài
các tội phạm qui định tại Chương XIV không coi là đối tượng của các tội
phạm XPSH. Những vật có thực nhưng theo phong tục, tập quán chưa từng
được coi là tài sản thì hành vi chiếm đoạt cũng không cấu thành tội phạm
XPSH. Chẳng hạn: hành vi chiếm đoạt hài cốt lính Mĩ chết trận tại Việt
Nam...
Như vậy, khách thể của các tội phạm XPSH là quyền sở hữu tài sản.
Tài sản là đối tượng tác động của các tội phạm XPSH phải thoả mãn các đặc
điểm vốn có của tài sản thông thường, đồng thời thoả mãn các yếu tố về sự
tác động của hành vi, ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi XPSH.
- Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan
Trước hết, về hành vi khách quan. Các tội phạm XPSH đều có hành vi
khách quan xâm hại đến các quyền năng của chủ sở hữu tài sản. Đó là các
hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến các quyền chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản của chủ sở hữu tài sản. Có thể phân loại các hành vi
XPSH thành hai loại như sau:
13
+ Hành vi XPSH có tính chất chiếm đoạt tài sản. Chiếm đoạt tài sản là
hành vi cố ý chuyển giao một cách bất hợp pháp tài sản thuộc sở hữu người
khác thành tài sản của mình hoặc một nhóm người hay người khác mà chủ thể

còn vi phạm. Riêng với các tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thì
thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng trở lên mới bị truy cứu TNHS.
- Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm
Các tội phạm XPSH có chủ thể là những người thoả mãn các điều kiện
chung của chủ thể tội phạm và tuỳ theo từng tội phạm mà độ tuối chịu TNHS
được xác định không giống nhau. Riêng đối với tội thiếu trách nhiệm gây
thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144 BLHS), chủ thể
của tội phạm phải là người có trách nhiệm quản lí tài sản của Nhà nước.
- Các dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm
Các tội phạm XPSH chủ yếu có cấu thành lỗi cố ý, bao gồm tất cả các
tội phạm có tính chất chiếm đoạt và một số tội không có tính chất chiếm đoạt
là: tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141); tội sử dụng trái phép tài sản
(Điều 142); tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143 BLHS). Chỉ
có hai tội qui định tại Điều 144 và Điều 145 được qui định bởi lỗi vô ý.
Về động cơ, mục đích phạm tội, có thể các tội phạm XPSH thành hai
loại:
+ Các tội phạm có tính chất tư lợi, bao gồm: tất cả các tội phạm có tính
chất chiếm đoạt; tội chiếm giữa trái phép tài sản và tội sử dụng trái phép tài
sản;
+ Các tội phạm không có tính chất tư lợi, bao gồm: tội cố ý huỷ hoại
hoặc làm hư hỏng tài sản; tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đến
tài sản của Nhà nước; tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.
15
Như vậy, từ những phân tích trên đây có thể hiểu: Các tội phạm XPSH
là hành vi của người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động điều tra các tội phạm XPSH
Dưới góc độ của luật TTHS thì điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn
hoạt động TTHS bắt đầu từ khi có có quyết định khởi tố vụ án hình sự đến khi
lập kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra khi có đủ căn cứ

- Thứ nhất, điều tra vụ án hình sự về các tội phạm XPSH là quá trình
chứng minh sự thật vụ án XPSH đã xảy ra. Quá trình điều tra, CQĐT có trách
nhiệm làm rõ các nội dung thuộc đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự
về các tội phạm XPSH. Xét về bản chất, hoạt động chứng minh trong điều tra
các vụ án XPSH là hoạt động kết hợp chặt chẽ giữa hai mặt tư duy và thực
tiễn được qui định bằng các chế định pháp luật TTHS. Sự kết hợp đó luôn
xoay quanh những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án. Trên cơ sở qui
định tại Điều 63 Bộ luật TTHS và đặc điểm của các tội phạm XPSH có thể
xác định những vấn đề cần chứng minh trong vụ án XPSH bao gồm:
+ Có hành vi phạm tội XPSH xảy ra hay không, hành vi XPSH cụ thể
nào, tội danh và điều khoản áp dụng đối với hành vi đó, thời gian, địa điểm
xảy ra tội phạm, thủ đoạn thực hiện, công cụ, phương tiện thực hiện hành vi
XPSH;
+ Ai là người thực hiện hành vi phạm tội? Có đồng phạm hay không?
Vai trò, vị trí của từng người trong quá trình thực hiện tội phạm? Họ có năng
lực TNHS hay không? Có lỗi không? Động cơ, mục đích phạm tội là gì?
17
+ Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với từng đối tượng
theo quy định của Bộ luật hình sự (Điều 46, Điều 48); đặc điểm về nhân thân
của các đối tượng đang được điều tra.
+ Loại tài sản và giá trị tài sản bị chiếm đoạt và những thiệt hại khác về
tài sản, tính mạng, sức khoẻ con người, tác hại về chính trị, văn hoá, tư
tưởng... do hành vi phạm tội XPSH gây ra.
Một vụ án XPSH chỉ được thừa nhận đã được chứng minh trong khuôn
khổ điều tra khi chủ thể hoạt động điều tra đã thu thập được đầy đủ chứng cứ
chứng minh đầy đủ những vấn đề cần phải chứng minh nêu trên. Trong
trường hợp, chứng minh được tội phạm và người thực hiện tội phạm XPSH,
chủ thể điều tra mới lập hồ sơ đề nghị truy tố người đã có chứng cứ chứng
minh họ thực hiện tội phạm, những người không có chứng cứ chứng minh họ
thực hiện tội phạm thì không được đề nghị truy tố. Như vậy, hiệu quả của

TNHS (gây hậu quả nghiêm trọng; đã bị xử phạt hành chính; đã bị kết án
nhưng chưa được xoá án tích...), đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó
chưa có lần nào bị xử phạt hành chính, nếu tổng giá trị tài sản của các lần bị
xâm hại bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu TNHS theo qui định của
BLHS thì người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi XPSH phải bị truy
cứu TNHS về tội phạm tương ứng theo tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm
phạm, nếu: Các hành vi XPSH được thực hiện một cách liên tục; Việc thực
hiện hành vi XPSH có tính chất chuyên nghiệp (lấy tài sản do việc XPSH làm
nguồn sống chính); Với mục đích XPSH, nhưng do điều kiện, hoàn cảnh
khách quan nên việc XPSH phải được thực hiện nhiều lần mà mỗi lần xâm
phạm tài sản có giá trị dưới 500.000 đồng. Trong những trường hợp này,
không áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” theo điểm g khoản 1
19
Điều 48 BLHS và không áp dụng tình tiết tăng nặng định khung “có tính chất
chuyên nghiệp” qui định tại Khoản 2 của các điều luật tương ứng...
Ngoài việc xác định giá trị tài sản như trên, trong điều tra các vụ án
hình sự về các tội phạm XPSH còn phải làm rõ chủ sở hữu, người quản lí các
tài sản bị chiếm đoạt tức là xác định người bị hại trong vụ án. Như đã phân
tích về đặc điểm của các tội phạm XPSH, tài sản là đối tượng của các tội
phạm XPSH phải có chủ sở hữu cụ thể. Vì vậy xác định người bị hại (tổ chức
hoặc cá nhân) trong vụ án là một yêu cầu trong điều tra các vụ án XPSH. Việc
làm rõ người bị hại trong các vụ án XPSH không chỉ giúp cho việc làm rõ sự
thật của vụ án mà còn giúp truy tìm tài sản trả lại cho người bị chiếm đoạt,
giải quyết bồi thường vật chất...
- Trong điều tra các tội phạm XPSH, chủ thể điều tra phải sử dụng
đồng bộ nhiều biện pháp trong đó chủ yếu là các hoạt động theo trình tự, thủ
tục của luật TTHS. Điều tra vụ án XPSH trước hết là hoạt động ĐTHS, được
tiến hành một cách công khai theo qui định của luật TTHS. Chính vì vậy, quá
trình điều tra chủ thể điều tra phải sử dụng các biện pháp ngăn chặn, các biện
pháp điều tra theo qui định của Bộ luật TTHS. Tuy nhiên, do tính chất các tội

có thể tác động đến sự vật kia” [29, trang 956]. Như vậy, khi nói đến mối
quan hệ là nói đến hai hay nhiều sự vật trong mối liên hệ, tác động qua lại lẫn
nhau, có ảnh hưởng chi phối lẫn nhau. Sự vận động, biến đổi của sự vật này
có tác động đến sự thay đổi, vận động của sự vật kia.
Mối quan hệ tất yếu, khách quan của các sự vật được lí giải thấu đáo
bởi lí thuyết hệ thống. Lí thuyết hệ thống cho rằng “Hệ thống là tập hợp các
phần tử có mối liên hệ và quan hệ với nhau, có sự tác động, chi phối lên nhau
theo các qui luật nhất định để trở thành một chỉnh thể; từ đó làm xuất hiện
21
những thuộc tính mới (còn gọi là “tính trồi” của hệ thống) mà từng phần tử
riêng lẻ không có hoặc có không đáng kể” [15, trang 33]. Bộ máy các cơ quan
nhà nước là một hệ thống mà các cơ quan, tổ chức của nó gắn kết với nhau
theo qui định pháp luật về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và tính trồi của nó là
hiệu quả thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chung của Nhà nước lớn hơn
hiệu quả hoạt động của từng cơ quan, tổ chức trong bộ máy. Cũng có thể hình
dung trong hệ thống bộ máy nhà nước có nhiều tiểu hệ thống thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ khác nhau của Nhà nước mà các cơ quan tiến hành tố
tụng là một trong các tiểu hệ thống đó.
Từ đó chúng ta có thể hiểu các cơ quan tiến hành tố tụng là một hệ
thống - hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng - trong đó mỗi cơ quan tiến
hành tố tụng là một phần tử có mối liên hệ và quan hệ với nhau, có sự tác
động chi phối lẫn nhau thành một chỉnh thể vì mục tiêu chung là đấu tranh
phòng, chống các loại tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an
toàn xã hội. Điều đó có nghĩa là, các cơ quan tiến hành tố tụng với tư cách là
những phần tử trong hệ thống tiến hành tố tụng nhất thiết phải có sự gắn kết
với nhau, chi phối, hỗ trợ lẫn nhau nhằm thực hiện mục tiêu chung của hệ
thống. Một phần tử nào đó không có mối liên hệ với các phần tử trong hệ
thống TTHS vì mục tiêu của hệ thống này thì cũng sẽ nằm ngoài hệ thống
này. Nói cách khác, các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ tồn tại như một hệ
thống chỉnh thể khi mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có mối

tại sự hỗ trợ lẫn nhau mà lí luận TTHS gọi là quan hệ phối hợp. Sự phối hợp
này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cả hai bên hoàn thành tốt nhiệm vụ của
mình. Hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát ngoài mang tính chế ước, nó còn
có ý nghĩa tác động đảm bảo giá trị pháp lí cho kết quả hoạt động điều tra của
CQĐT. Kết quả hoạt động điều tra tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Viện
kiểm sát thực hiện chức năng công tố của mình... Tất nhiên, mối quan hệ phối
23
hợp giữa CQĐT và Viện KSND luôn được thực hiện trên cơ sở pháp lí và
nhằm đến mục tiêu chung của hoạt động TTHS. Như vậy, giữa CQĐT và
Viện KSND luôn tồn tại mối quan hệ chế ước lẫn nhau và phối hợp với nhau
trên cơ sở qui định của pháp luật về chức năng nhiệm vụ của mỗi cơ quan và
vì mục tiêu tố tụng nói chung.
Mối quan hệ chế ước và phối hợp giữa CQĐT và Viện KSND xuất hiện
và được cụ thể hoá trong quá trình giải quyết các vụ án cụ thể mà cụ thể là
trong quá trình điều tra các vụ án hình sự. Trong điều tra vụ án hình sự nói
chung và điều tra các tội phạm XPSH nói riêng mối quan hệ này thể hiện qua
quan hệ giữa thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT với viện trưởng, phó viện
trưởng Viện KSND; giữa các điều tra viên được phân công thụ lí vụ án với
kiểm sát viên được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Với những trình bày ở trên, có thể hiểu: Quan hệ giữa CQĐT và Viện
KSND trong điều tra các tội XPSH là sự liên kết pháp lí các hoạt động chế ước
và phối hợp giữa thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT, điều tra viên tiến hành
điều tra các vụ án XPSH với viện trưởng, phó viện trưởng Viện KSND, kiểm
sát viên trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra các
vụ án đó nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự về các tội phạm XPSH theo
yêu cầu pháp luật.
Định nghĩa trên khái quát những vấn đề cơ bản nhất của quan hệ giữa
CQĐT và Viện KSND trong điều tra các tội phạm XPSH trên các mặt sau
đây:
- Chủ thể của mối quan hệ là CQĐT và Viện KSND, trong đó các mối

XPSH cũng chỉ ra rằng, kết quả đạt được cũng như những sai lầm trong giải
quyết vụ án hình sự về các tội phạm XPSH thường bắt nguồn chủ yếu từ giai
25
đoạn điều tra. Trong quá trình điều tra các tội phạm XPSH, CQĐT thường
phải tiến hành đột xuất, khó định liệu từ trước do các tội phạm XPSH thường
diễn ra nhanh, bất ngờ và hấu hết được tiến hành bởi phương thức bí mật, thủ
đoạn tinh vi. Mặt khác, khi tiến hành điều tra, ngoài các biện pháp tố tụng
CQĐT có thể còn áp dụng các biện pháp nghiệp vụ khác trên cơ sở tuân thủ
các nguyên tắc tố tụng nhưng phải bảo đảm bí mật nghiệp vụ. Do vậy, khi
thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra, sự phối hợp, hỗ trợ
tạo điều kiện từ phía Viện kiểm sát là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, việc hỗ
trợ, tạo điều kiện của Viện kiểm sát đối với CQĐT không phải là sự chấp
thuận tất cả những gì CQĐT đưa ra mà sự chấp thuận, hỗ trợ vẫn phải nhằm
đến sự việc giải quyết đúng đắn vụ án. Chính vì vậy, nhiệm vụ này đòi hỏi
không chỉ sự hỗ trợ, tạo điều kiện từ phía Viện kiểm sát đối với hoạt động
điều tra của CQĐT mà chính CQĐT phải tạo điều kiện thuận lợi để Viện
kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát trong điều tra các vụ án hình sự
về các tội phạm XPSH. Như vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
điều tra các vụ án XPSH đòi hỏi sự tích cực từ cả hai phía Viện KSND và
CQĐT.
- Bảo đảm thực hiện đúng đắn quyền năng của Viện KSND trong thực
hiện nhiệm vụ công tố và kiểm sát hoạt động điều tra đối với các vụ án hình
sự về các tội phạm XPSH của CQĐT. Quyền công tố và quyền kiểm sát hoạt
động điều tra các vụ án hình sự là quyền tự thân, xuất phát từ chức năng, vai
trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng. Viện
KSND thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm XPSH là nhằm đảm bảo mọi hành
vi phạm tội XPSH đều được khởi tố, điều tra và xử lí kịp thời; bảo đảm quyền
và lợi ích của công dân, người bị bắt, tạm giữ, bị khởi tố, tạm giam; bảo đảm
sự khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật của các hoạt

27
về quan hệ pháp lý đơn thuần và đặc biệt tránh được hiện tượng móc nối “lách
luật” làm trái ý nghĩa đích thực của mối quan hệ giữa CQĐT và Viện KSND.
Bên cạnh một cơ chế phối hợp rõ ràng thì sự chặt chẽ, nghiêm túc trong thực
hiện cơ chế trên thực tiễn điều tra các vụ án XPSH là quan trọng. Ở đây, vai
trò của lãnh đạo các CQĐT và Viện KSND trong tổ chức, duy trì, kiểm tra
mối quan hệ giữa hai cơ quan là hết sức quan trọng bên cạnh ý thức tự giác
tuân thủ của các điều tra viên và kiểm sát viên. Nói cho cùng, có duy trì được
sự thống nhất thường xuyên giữa CQĐT và Viện KSND trên cơ sở giải quyết
đúng đắn các vụ án hình sự về tội phạm XPSH hay không phụ thuộc vào
những con người cụ thể với cơ sở một cơ chế phối hợp thống nhất và đồng bộ.
1.3. Cơ sở pháp lý của mối quan hệ giữa CQĐT và Viện Kiểm sát
nhân dân cấp huyện trong điều tra các tội XPSH
Khi nói đến cơ sở pháp lí của mối quan hệ giữa các chủ thể phải xuất
phát từ chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủ thể, sau nữa là những ràng buộc
pháp lí các chủ thể vào mối quan hệ chung. Do đó, nghiên cứu cơ sở pháp lí
của mối quan hệ giữa CQĐT và Viện KSND cấp huyện trong điều tra các tội
phạm XPSH cần quan tâm đến hệ thống các qui định về tổ chức, chức năng,
nhiệm vụ của CQĐT cấp huyện; các qui định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ
của Viện KSND cấp huyện và các qui định về mối quan hệ giữa CQĐT và
Viện KSND cấp huyện.
- Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐT cấp huyện trong điều tra các
tội XPSH
Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐT được qui định trực tiếp và cụ
thể trong Pháp lệnh Tổ chức ĐTHS và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong
thời gian từ năm 2000 đến 2004, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐT
được thay đổi theo bởi sự ra đời của Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 2004 thay
thế cho Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 1989.
28
Trước khi Bộ luật TTHS năm 2004 ra đời và có hiệu lực, tổ chức,

lực lượng CSND cấp huyện được giao nhiệm vụ điều tra các vụ án hình sự về
các tội phạm XPSH thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện. Ngoài
Đội điều tra, trong cơ cấu của lực lượng CSND cấp huyện còn có một số đơn
vị được giao tiến hành một số hoạt động điều tra đối với các vụ án XPSH đó
là Đội CSHS và Đội CSKT. Theo các văn bản về chức năng, nhiệm vụ của
hai lực lượng này thì Đội CSHS được tiến hành các hoạt động điều tra ban
đầu đối với các tội phạm XPSH của công dân còn Đội CSKT tiến hành các
hoạt động điều tra ban đầu với các tội phạm XPSH của Nhà nước, tổ chức
kinh tế, chính trị, xã hội. Trong thời hạn luật định (7 ngày) các đơn vị này
chuyển hồ sơ sang Đội CSĐT để tiếp tục điều tra.
Ngày 20 tháng 8 năm 2004, Pháp lệnh tổ chức ĐTHS được Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội khoá XI thông qua và bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 01 tháng 10 năm 2004 thay thế cho Pháp lệnh tổ chức ĐTHS ngày 04
tháng 04 năm 1989. Bộ Công an cũng đã ban hành Thông tư số 12/2004/TT-
BCA ngày 23 tháng 9 năm 2004 hướng dẫn thi hành một số qui định của Pháp
lệnh Tổ chức ĐTHS năm 2004 trong CAND. Theo các qui định của các văn
bản nói trên thì tổ chức của CQĐT Công an cấp huyện gồm có Đội CSĐT tội
phạm về TTXH, Đội CSĐT tội phạm về TTQLKT và chức vụ, Đội CSĐT tội
phạm về ma tuý và bộ máy giúp việc CQĐT. Trong đó, Đội CSĐT tội phạm
về TTXH được phân công điều tra các vụ án XPSH được qui định tại Chương
XIV BLHS năm 1999 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của
TAND cấp huyện. Tuy nhiên, khi nghiên cứu các quyết định về chức năng,
nhiệm vụ của lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT và chức vụ thì thấy
không chỉ có lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH có nhiệm vụ điều tra các tội
phạm XPSH mà cả lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT và chức vụ cũng
điều tra các tội phạm XPSH. CSĐT tội phạm về TTQLKT và chức vụ điều tra
với các tội phạm XPSH được thực hiện thông qua việc lợi dụng tư cách pháp
nhân, lợi dụng các hoạt động giao dịch kinh tế. Qua các qui định nêu trên của
30


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status