BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
ĐOÀN TẠ CỬU LONG
HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
ĐOÀN TẠ CỬU LONG
HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 62.38.01.04
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY THUÂN
TS. NGUYỄN DUY HƯNG
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Đoàn Tạ Cửu Long, nghiên cứu sinh khóa 5 của trường đại
học luật thành phố Hồ Chí minh, tác giả đề tài “Hoạt động của Viện kiểm
sát trong điều tra vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”, cam đoan:
Luận án là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi; Kết quả của
Luận án là trung thực, chưa từng được công bố; Xin cam kết chịu trách
nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình.
Tác giả
1.2 Hoạt động của Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự
25
1.3 Yêu cầu cải cách tư pháp đối với hoạt động của Viện kiểm sát trong điều tra
vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay
55
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM
SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
63
2.1 Thực trạng thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án hình sự
63
2.2 Thực trạng kiểm sát điều tra vụ án hình sự
74
2.3 Thực trạng tổ chức và chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra vụ án hình sự
85
2.4 Hạn chế và nguyên nhân chủ yếu của hạn chế trong hoạt động thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự
92
CHƯƠNG 3: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO
YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
98
3.1 Phương hướng nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Viện
kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp
98
3.2 Nội dung nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Viện kiểm
sát trong điều tra vụ án hình sự
103
:
KSHĐTP
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
:
KSVTTPL
- Quyền công tố
:
QCT
- Thực hành quyền công tố
:
THQCT
- Toà án nhân dân : TAND
- Trách nhiệm hình sự
:
TNHS
- Tố tụng hình sự
:
TTHS
- Viện kiểm sát nhân dân
:
VKSND
- Viện kiểm sát
:
VKS
- Xã hội chủ nghĩa : XHCN
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng; Cơ chế đảm bảo
quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng còn bất cập, nhất là quyền
bào chữa của bị can, bị cáo.
Riêng đối với hoạt động của VKS trong giai đoạn điều tra còn có những
hạn chế, yếu kém, trì trệ đặc thù như: kém năng động trong việc thực thi nhiệm vụ
quyền hạn – THQCT và KSHĐTP; chưa quản lý, chi phối chặt chẽ được quá trình
điều tra vụ án hình sự nên chất lượng, hiệu quả hoạt động THQCT và KSHĐTP
còn thấp; số lượng hồ sơ vụ án phải điều tra bổ sung còn chiếm tỉ lệ cao; hiệu quả
xã hội trong đấu tranh phòng, chống tội phạm của hoạt động thực thi chức năng,
nhiệm vụ của VKS trong điều tra vụ án hình sự chưa cao; công tác kiến nghị
phòng ngừa tội phạm ở cả ba cấp kiểm sát còn hạn chế chưa làm tốt việc tham
mưu cho Đảng và Nhà nước trong việc đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm
một cách hiệu quả, gắn đấu tranh phòng, chống tội phạm với việc thực hiện các
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với những tồn tại, hạn chế nêu trên, hoạt động của VKS hiện
nay đang đứng trước nhiều thách thức lớn lao xuất phát từ những yêu cầu,
đòi hỏi của công cuộc đổi mới, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế, xã hội của
Việt Nam theo hướng hội nhập kinh tế thế giới và toàn cầu hóa – một trong
những nguyên nhân góp phần gây ra tình hình tội phạm tiếp tục diễn biến
phức tạp, khó tiên liệu, dự báo với tính chất và hậu quả ngày càng nghiêm
trọng, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Trước yêu cầu chính
trị, kinh tế, xã hội khách quan đó, việc đổi mới hoạt động của VKS trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự trở nên cấp thiết và được xem là một trong
những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công cuộc cải cách tư pháp ở nước
ta hiện nay. Để thực hiện các nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp,
nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế các hoạt động của VKS trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nền tư
vụ, vị trí, vai trò của VKSND trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo yêu cầu
cải cách tư pháp.
4
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu,
hoạch định chính sách, pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của VKS Việt Nam
trong điều tra hình sự.
4. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần tổng quan tình hình và kết quả nghiên cứu liên
quan đến luận án, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
kết quả nghiên cứu được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động của Viện kiểm sát trong điều tra vụ án
hình sự.
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư
pháp trong điều tra vụ án hình sự.
Chương 3: Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát
trong điều tra vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp.
5
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH VÀ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Việc nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động của VKS trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự để tăng cường khả năng phát hiện và xử lý hiệu quả các loại
tội phạm, bảo vệ quyền tự do, dân chủ, quyền con người trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự luôn dành được sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nước, và
được tranh luận ở nhiều diễn đàn khoa học.
1.
Vấn đề vị trí, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan công tố trong hệ thống
pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng như vấn để hoàn thiện nó không phải
là vấn đề mới. Tuy nhiên việc nghiên cứu thực tiễn và lý luận để nâng cao hiệu
- Do mỗi quốc gia có những cơ sở chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá khác
nhau nên có cách thức tổ chức bộ máy nhà nước của các quốc gia rất khác nhau, và
do vậy cơ quan công tố được tổ chức và hoạt động hoàn toàn không giống nhau. Có
nơi cơ quan công tố do cơ quan đại diện lập ra (như ở Anh quốc trong một số
trường hợp pháp luật quy định), có nơi cơ quan công tố thuộc các cơ quan hành
pháp (như ở Hoà Kỳ), có nơi cơ quan công tố thuộc các cơ quan tư pháp (như ở
Cộng hoà Pháp) và cũng có nơi cơ quan công tố (kiểm sát) vừa thuộc nhánh hành
pháp, vừa thuộc nhánh tư pháp (như ở Cộng hoà liên bang Đức). Tuy nhiên, dù
không được tổ chức giống nhau, nhưng tất cả các cơ quan công tố là yếu tố rất cần
thiết, bảo đảm cho nó được hoạt động khách quan, nhằm mục đích bảo vệ pháp luật,
bảo vệ công lý, công bằng.
- Các nước này đều tổ chức tách biệt cơ quan công tố và CQĐT (ở Đức gọi
là Cơ quan cảnh sát, ở Pháp, Italia và Hàn Quốc gọi là Cơ quan cảnh sát tư pháp).
Tuy về về tổ chức nhà nước cả hai cơ quan đều thuộc nhánh quyền hành pháp,
nhưng thực chất cơ quan công tố được xác định có vị trí “bán tư pháp” (quasijudicial), có nhiệm vụ gần với tòa án là đều cùng tìm kiếm các bằng chứng buộc
tội và gỡ tội nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án với yêu cầu về mức độ
như nhau. Các công tố viên chịu trách nhiệm về hoạt động điều tra và các hoạt
động tố tụng ở giai đoạn tiền xét xử nhưng được đào tạo và bổ nhiệm với tiêu
7
chuẩn, điều kiện gần giống với thẩm phán, thậm chí được xếp cùng ngạch bậc như
các thẩm phán theo mô hình của Pháp và Italia. Việc đặt công tố viên vào vị thế
“bán tư pháp” không chỉ là điều kiện đảm bảo tính độc lập của công tố viên mà
còn có ý nghĩa để công tố viên có thể chỉ đạo, kiểm tra, giám sát các hoạt động tố
tụng của nhân viên cảnh sát – những công chức thuộc nhánh quyền hành pháp và
không trực thuộc cơ quan công tố về mặt tổ chức.
- Công tố viên có vai trò chủ đạo trong giai đoạn tiền xét xử, chịu trách
nhiệm trong hoạt động điều tra. Công tố viên hầu như không trực tiếp thực hiện
các thao tác, nghiệp vụ điều tra cụ thể mà do Cảnh sát thực hiện và báo cáo kết
xuất, kiến nghị với tòa án. Như vậy, tòa án là cơ quan quyết định việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế tố tụng của cơ quan Cảnh sát cũng như cơ quan
công tố. Đây là một đặc điểm có thể nói là không chỉ ở riêng các nước theo mô hình
công tố chỉ đạo điều tra mà phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới nhằm đảm
bảo các quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo được bảo vệ tối đa tránh việc áp
dụng pháp luật một cách công bằng khi các cơ quan công tố và cảnh sát thực hiện
việc điều tra và buộc tộ
ố chịu trách nhiệm về các
hoạt động điều tra và cũng có trách nhiệm đề nghị với tòa án về việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn hay cưỡng chế tố tụng. Quy định này vừa gắn trách nhiệm cho
cơ quan công tố phải theo dõi tiến độ, kiểm soát được các hoạt động điều tra, thấy
được nhu cầu cần thiết phải áp dụng và cũng qua đó đảm bảo cho vai trò chi phối,
chỉ đạo hoạt động điều tra của cơ quan công tố [51].
- Tại một số quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề từ Chiến tranh thế giới thứ II
như Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc có sự thay đổi chế độ chính trị trong thập niên
1990, điển hình là Cộng hoà liên bang Nga và các nước đông Âu; hoặc ở một số
quốc gia đã tiến hành cải tổ mạnh mẽ nền kinh tế, chính trị, xã hội như Trung
Quốc, việc cải cách các cơ quan công tố - một bộ phận của cải cách tư pháp, đã
làm xuất hiện một hình thức tổ chức và hoạt động mới của cơ quan công tố nói
riêng và mô hình TTHS nói chung và ngày càng trở nên thành xu hướng cải cách
tư pháp nói chung của thế giới. Đó là mô hình TTHS kết hợp - mô hình TTHS có
sự kết hợp các ưu điểm của hai mô hình TTHS tiên tiến nhất của nhân loại thời
hiện đại - mô hình TTHS tranh tụng và mô hình TTHS thẩm vấn [64], trên cơ sở
9
điều kiện riêng biệt về địa lý, chính trị, xã hội, văn hóa, truyền thống tiến hành
TTHS và mục tiêu phát triển của từng quốc gia. Đây có thể xem là một kinh
10
định, đánh giá, chính xác. Mặt khác, các quan điểm khoa học TTHS này xuất hiện
trên cơ sở sự kế thừa các quan điểm của nền khoa học pháp lý ở các nước Đông Âu
trước đây, được thể hiện qua lăng kính yêu cầu “đổi mới” của Việt Nam thập niên
90 thế kỷ XX nên còn nhiều điểm chưa phù hợp với xu hướng hội nhập và học hỏi
lẫn nhau về ưu điểm giữa các truyền thống pháp luật thể hiện khá phổ biến trong
các quan điểm về cải cách, đổi mới trong khoa học hình sự, TTHS hiện nay; Các
công trình nghiên cứu có nhiều ảnh hưởng đến đề tài như: THQCT và kiểm sát các
HĐTP trong giai đoạn điều tra của Lê Hữu Thể và các tác giả năm 2008; Tăng
cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư
pháp, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội, 2008; Những vấn đề lý luận và thực tiễn của
việc đổi mới thủ tục TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Đề tài khoa học cấp
bộ, 2011; Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều
tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp của Nguyễn
Hải Phong và các tác giả. Đây là những nghiên cứu có tính toàn diện khái quát rất
cao về lý luận và thực tiễn của hoạt động của VKS không chỉ trong điều tra hình sự
mà còn ở các giai đoạn tố tụng khác (như Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ, Viện khoa
học VKSND tối cao, Hà Nội, 1999; Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đổi
mới thủ tục TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Đề tài khoa học cấp bộ,
2011). Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này hoặc quá rộng, quá bao quát, toàn
diện nên không trùng lặp về phạm vi nghiên cứu với đề tài, hoặc quá hẹp, chuyên
sâu, chi tiết, mang nặng tính mô phạm và thiên về diễn giải, hướng dẫn thực hiện
các thao tác nghiệp vụ kiểm sát đối với cán bộ kiểm sát (như Một số vấn đề về tăng
cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động
điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp). Các công trình nghiên cứu trên chưa chỉ rõ
sự bất cập, hạn chế của pháp luật thực định về hoạt động của VKS trong điều tra vụ
án hình sự. Điểm mà tác giả chưa tìm thấy trong các nghiên cứu trên là sự nhìn
nhận, đánh giá về ưu điểm, hạn chế cả về lý luận và thực tiễn hoạt động của VKS
Nguyễn Thị Thủy, " Sửa đổi bổ sung BLTTHS nhằm thực hiện chủ trương của Đảng
- Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn
công tố với điều tra” , tạp chí Kiểm sát 21/2012; Nguyễn Thái Phúc, " Sửa đổi
nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành Kiểm sát nhân dân", tạp chí Kiểm sát
12
17/2012; Trần Văn Độ, " Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về biện pháp tạm
giam", tạp chí Kiểm sát 21/2012; Trần Đình Nhã, " Chế định điều tra tội phạm trong
BLTTHS" , tạp chí Kiểm sát 21/2012; Đỗ Văn Đương, " Phân định rõ thẩm quyển
quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp và sửa đổi, bổ sung chế
định chứng cứ trong BLTTHS" , tạp chí Kiểm sát 16/2012; Đào Trí Úc, " Đề xuất đổi
mới VKS ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số nước trên thế giới" , tạp chí Kiểm sát số
12/2013; Lê Đức Xuân, Phạm Lan Phương, " Vai trò cơ quan công tố các nước trên
thế giới trong việc KSĐT các vụ án hình sự" , tạp chí Kiểm sát số 13/2013; Lê Thị
Tuyết Hoa, " Thực trạng và một số kiến nghị nhằm tăng cường trách nhiệm công tố
trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra" , tạp chí Kiểm sát số
08/2014;... Bên cạnh đó, tác giả còn tìm thấy một số tài liệu có ý nghĩa là những
đánh giá tổng kết, khái quát cao kết quả và những hạn chế, yếu kém của công tác
kiểm sát trong quá trình hình thành và phát triển (như Tổng kết một số vấn đề lý
luận và thực tiễn về các công tác của ngành Kiểm sát nhân dân qua 50 năm tổ chức
và hoạt động, Hà Nội, 2010; Báo cáo kết quả tổng kết 8 năm thi hành BLTTHS năm
2003, Hà Nội, 2012). Theo quan điểm của tác giả các nghiên cứu này thiên về đúc
kết kinh nghiệm, tổng hợp, đánh giá ưu, khuyết điểm của hoạt động kiểm sát theo
hai hướng hoặc quá bao quát, toàn diện đến toàn bộ hoạt động nghiệp vụ kiểm sát
hoặc quá tỉ mỉ đối với từng hoạt động kiểm sát cụ thể nên không có cùng mục tiêu
nghiên cứu của đề tài. Tuy nhiên, các bài báo được đăng tải trong các tạp chí trong
và ngoài ngành Kiểm sát, đặc biệt là của Lãnh đạo VKSND tối cao, trở thành nguồn
tài liệu tham khảo có tính chất định hướng nghiên cứu quan trọng đối với đề tài.
Trong những năm gần đây, các đơn vị nghiệp vụ trực thuộc VKSND tối
biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của VKS.
Các nghiên cứu học thuật về VKS nói chung và các nghiên cứu về hoạt
động của VKS trong điều tra hình sự nói riêng không nhiều. Luận văn Thạc sĩ luật
học điển hình là: Vũ Thị Xuân Nhuệ "Một số hoạt động KSĐT án kinh tế tại TP.
Hồ Chí Minh 1991-1996"; Đoàn Tạ Cửu Long " Công tác KSĐT án trị an tại
Thành phố Hồ Chí Minh từ 1996 -2000 - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn"; Võ
Phước Long " Chức năng của VKSND trong TTHS" năm 2007; Đoàn Tấn Minh
" Hoạt động của VKS trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự mà bị can là
14
người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Tiền Giang" năm 2008; Nguyễn Văn Tấn
" Hoạt động KSĐT các tội phạm về ma túy tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai
đoạn hiện nay" năm 2008. Một số công trình nghiên cứu ở cấp độ tiến sĩ về hoạt
động của VKS có: Nguyễn Thị Mai Nga "Cơ sở lý luận và thực trạng của điều tra
và truy tố các tội phạm về ma túy", Nhà xuất bản thông tin và truyền thông năm
2012;
“Mối quan hệ giữa cơ quan Cảnh sát điều tra với VKS trong
điều tra vụ án hình sự”,
ật học Trường Đại học cảnh sát nhân
dân năm 2006; Nguyễn Kim Sáu “Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Thanh tra
ngành Kiểm sát nhân dân theo yêu cầu cải cách tư pháp” , Luận án Tiến sĩ luật
học của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2014,... Các kết quả nghiên
cứu thể hiện trong các Luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ, tuy có một số vấn đề
thuộc cơ sở lý luận có quan điểm, đánh giá khá tương đồng với đề tài, như các vấn
đề về công tố; THQCT; KSHĐTP;… Tuy nhiên, các nghiên cứu này, so với đề tài,
có nhiều quan điểm khác biệt và khác về phạm vi và đối tượng nghiên cứu. Các
nghiên cứu khoa học về VKS nói chung và về hoạt động của VKS trong điều tra
và thực hiện?
- Ưu điểm và hạn chế của truyền thống tổ chức, hoạt động của VKSND
Việt Nam là gì và những kinh nghiệm quý của thế giới có tính khả thi đối với Việt
Nam trong việc tổ chức, hoạt động của cơ quan công tố nhằm thực hiện cải cách
để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của VKS trong điều tra vụ án hình sự
như thế nào?
- Mục đích, yêu cầu, nội dung của công cuộc cải cách tư pháp đối với nền
tư pháp nói chung và đối với VKS trong điều tra vụ án hình sự là gì?
- Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, hoạt động THQCT và KSĐT vụ án
hình sự có những khó khăn, vướng mắc, hạn chế nào?
- Những phương hướng, nội dung, giải pháp, kiến nghị nhằm đổi mới, nâng
cao hiệu quả hoạt động THQCT và KSĐT vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư
pháp là gì?
Giải quyết được các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, kết quả mà luận văn
hướng tới là: trở thành nguồn tài liệu tham khảo kể trên cả hai phương diện lý luận
và thực tiễn đối với những ai quan tâm nghiên cứu về một loạt hoạt động TTHS
16
đặc biệt - hoạt động của VKS trong điều tra vụ án hình sự; và cao hơn nữa hướng
tới sự đóng góp nhất định đối với công cuộc cải cách tư pháp của Nhà nước ta
hiện nay, thông qua việc đề xuất hoàn thiện BLTTHS năm 2003.