1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HẰNG
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM
CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2013
3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU
1
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN
HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ
6
1.1. Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm
phán trong tố tụng dân sự
6
1.2. Cơ sở quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm
Giai đoạn từ 1989 đến 01/01/2005 27
1.4.4.
Giai đoạn từ 01/01/2005 đến nay 30
1.5. Một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài về
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán
33
1.5.1.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán theo
pháp luật tố tụng dân sự nước Cộng hòa Pháp
33
1.5.2.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán theo
pháp luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga
35
1.5.3.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán theo
pháp luật tố tụng dân sự Anh - Mỹ
37
Chương 2:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN
HÀNH VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH
NHIỆM CỦA THẨM PHÁN
41
2.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán 41
2.2. Trách nhiệm của Thẩm phán 68
5
2.2.1.
Trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự 68
2.2.2.
Trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán 70
Chương 3:
THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN, BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM
VỤ, QUYỀN HẠN, TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN
74
3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về nhiệm vụ,
quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán
74
3.1.1.
Những thành tựu đạt được 74
3.1.2.
Những vướng mắc, bất cập của pháp luật về nhiệm vụ, quyền
hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự và hạn
chế của thực tiễn thực hiện
78
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán
89
3.2.1.
VKS : Viện kiểm sát
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
3.1 Thống kê số lượng vụ việc dân sự được thụ lý và đã giải
quyết tại TAND từ năm 2006 đến năm 2012
75
3.2 Số lượng và trình độ của Thẩm phán TAND địa phương 77
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới theo xu hướng quốc tế hóa,
mở rộng giao lưu hợp tác và mở rộng dân chủ đảm bảo quyền cơ bản của công
dân. Cùng với sự vận động và phát triển không ngừng của các quan hệ xã hội
thì các quan hệ pháp luật dân sự cũng gia tăng một cách đa dạng, phức tạp cả
về nội dung lẫn chủ thể. Theo đó những tranh chấp phát sinh ngày càng nhiều.
Khi các chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình đòi
hỏi việc xét xử phải được giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả.
Thực tiễn xét xử cho thấy, hoạt động xét xử của ngành Tòa án đã góp
phần to lớn bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ các quyền của
xét xử Thẩm phán còn gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng tới chất lượng giải
quyết vụ việc cũng như kéo dài thời gian giải quyết, chưa đáp ứng được tiến
trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002
về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới (sau
đây gọi tắt là Nghị quyết số 08/NQ-TW) và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày
02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
(sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 49/NQ-TW).
Xuất phát từ thực tế trên, tác giả chọn đề tài "Nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự" làm đề tài luận văn thạc
sĩ luật học của mình với mong muốn phân tích, đánh giá các quy định của
BLTTDS về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán để tìm ra
những điểm bất cập qua đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu góp phần xây
dựng pháp luật và áp dụng các điều luật trên thực tế được thống nhất, đạt kết
quả cao.
10
2. Tình hình nghiên cứu
Qua quá trình tìm hiểu và sưu tầm tài liệu cho thấy, đã có một số bài
viết và công trình nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm
phán trong TTDS. Cụ thể là: Đề tài khoa học cấp bộ "Một số vấn đề cơ sở lý
luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự", mã số 95-98-046/ĐT
năm 1996 của TANDTC trong đó có bài viết "Xác định nhiệm vụ, quyền hạn
của Thẩm phán, vấn đề thực tiễn và yêu cầu trong việc xây dựng quy trình và
thủ tục tố tụng dân sự" của tiến sĩ Đinh Ngọc Hiện; Luận văn thạc sĩ "Về
nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự", của
Bùi Thị Huyền, 2001; bài viết "Vai trò của Thẩm phán đối với việc mở rộng
tranh tụng trong các vụ án dân sự", của Tưởng Duy Lượng và Nguyễn Văn
Cường, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 02, 2004; bài viết "Thực trạng đội ngũ
Thẩm phán ở nước ta, những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm từ quá
trình xây dựng", của Đỗ Gia Thư, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 04, 2004…
được xây dựng, nghiên cứu trên cơ sở quy định của các văn bản đã hết hiệu
các Tòa án.
- Từ thực tiễn áp dụng tìm ra những điểm còn hạn chế góp phần hoàn
thiện các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Thẩm phán, tạo ra cơ chế để họ thực hiện tốt nhất nhiệm vụ, quyền hạn của
mình cũng như nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán đối với việc giải quyết
vụ việc dân sự.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đề tài có ý nghĩa lớn về lý luận và thực tiễn. Trước hết đây là công
trình chuyên khảo đầu tiên trong sách báo pháp lý nước ta nghiên cứu một
cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của Thẩm phán trong TTDS, kể từ khi BLTTDS năm 2004 có hiệu lực.
12
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là đã đưa ra được các luận cứ khoa học và
các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật TTDS về nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm của Thẩm phán qua đó đề xuất cơ chế giúp nâng cao hiệu
quả, chất lượng xét xử các vụ việc dân sự của Thẩm phán ở nước ta. Đồng thời
luận văn có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập và
giảng dạy trong các trường chuyên ngành luật. Kết quả nghiên cứu đề tài cũng
là nguồn tài liệu để tham khảo trong quá trình tiếp tục hoàn thiện BLTTDS.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được triển khai nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN và việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng phương pháp nghiên
cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,
thống kê… để thực hiện đề tài.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn và trách
(HTND) năm 2002 thì "Thẩm phán là người tiến hành tố tụng được bổ nhiệm
theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử các vụ án và giải quyết
các việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án". Như vậy, Thẩm phán là người
được Nhà nước bổ nhiệm nếu đáp ứng các tiêu chuẩn do pháp luật quy định
14
và được Nhà nước giao nhiệm vụ giải quyết những vụ việc thuộc thẩm quyền
của Tòa án. Trong TTDS, Thẩm phán là người tiến hành tố tụng chủ yếu,
tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ việc dân sự và
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong giải quyết vụ việc dân sự.
Ở nước ta hiện nay, theo Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Pháp lệnh Thẩm phán và HTND ngày 19/02/2011, Thẩm phán Tòa án nhân
dân (TAND) bao gồm: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC),
Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp và Thẩm phán Tòa án quân sự (bao
gồm Thẩm phán Tòa án quân sự Trung ương đồng thời là Thẩm phán TANDTC,
Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp). Thẩm phán nhân danh quyền lực
nhà nước ra phán quyết và khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tất cả mọi cơ
quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân đều phải chấp hành. Mọi phán
quyết của Thẩm phán đều ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, tổ
chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó, việc xác định
trách nhiệm của Thẩm phán gắn liền với quyền và nghĩa vụ của chủ thể này
trong TTDS là rất cần thiết. Ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, nhiệm vụ và
quyền hạn của Thẩm phán cũng khác nhau. Nó phản ánh bản chất chính trị
của chế độ trong những bối cảnh lịch sử cụ thể. Không chỉ Thẩm phán mà bất
cứ cán bộ, công chức nào khi thực hiện một công việc đều phải thực hiện
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn nhất định được Nhà nước trao. Vậy
nhiệm vụ, quyền hạn được hiểu như thế nào rất cần được làm rõ.
Qua nghiên cứu Từ điển Tiếng Việt năm 2001, nhiệm vụ là công việc
phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định (thường nói về
công việc xã hội) [66, tr. 718].
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2009, "nhiệm vụ"
hiện nhiệm vụ của mình. Khi giải quyết vụ việc dân sự, trên cơ sở nhiệm vụ
mà BLTTDS quy định, Thẩm phán có quyền lựa chọn cách thức, thời gian,
biện pháp để thực hiện nhiệm vụ nhằm giải quyết vụ việc dân sự khách quan,
đúng pháp luật.
Từ những nhận định trên chúng ta có thể khẳng định quyền hạn của
một chủ thể được pháp luật quy định chính là quyền của chủ thể đó được sử
dụng để thực hiện chức năng, trách nhiệm nhất định. Pháp luật quy định
Thẩm phán có nhiệm vụ thực hiện những công việc gì thì pháp luật phải trao
16
cho Thẩm phán những quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ đó. Thực tế, ranh
giới giữa nhiệm vụ và quyền hạn khó có thể tách bạch rõ ràng, dễ nhầm lẫn.
Vì vậy, khi soạn thảo và ban hành văn bản pháp luật, các nhà lập pháp đã
không tách nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán thành các điều luật riêng
biệt. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán nói chung được quy định chủ yếu
trong Pháp lệnh Thẩm phán và HTND. Còn trong TTDS, nhiệm vụ, quyền
hạn của Thẩm phán đều được quy định chung tại Điều 41 BLTTDS.
Mặt khác, quyền hạn và trách nhiệm là hai phạm trù không thể tách
rời. Trách nhiệm của Thẩm phán chỉ xác định được khi gắn với nhiệm vụ và
quyền hạn nhất định. Ngược lại khi Thẩm phán được pháp luật giao những
quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ thì cần có một cơ chế xác định
việc thực hiện đó có đúng và chính xác không để xác định trách nhiệm. Dù
bất cứ công việc nào cũng đều đòi hỏi người thực hiện phải có trách nhiệm.
Đặc biệt trong hoạt động xét xử đòi hỏi trách nhiệm của Thẩm phán cao hơn
nhiều bởi xét xử là hoạt động mang tính quyết định. Đối với các vụ việc dân
sự mỗi phán quyết của Thẩm phán đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự, ảnh hưởng đến tính công bằng, nghiêm
minh của pháp luật. Do đó nhằm ngăn ngừa sự lạm quyền và những hành vi
trái pháp luật khi tăng cường sự độc lập của Thẩm phán, mở rộng quyền hạn
của họ trong việc giải quyết các vụ việc dân sự thì càng cần phải đề cao trách
nhiệm của họ. Vì vậy, ngoài việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn việc xác định
Như vậy, nhiệm vụ, quyền hạn là phạm vi những công việc mà Thẩm
phán thực hiện trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm mục đích bảo
đảm cho việc giải quyết vụ việc được khách quan, đúng pháp luật và trong
thời hạn do pháp luật quy định. Trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS là
những công việc mà Thẩm phán được giao phải thực hiện trong quá trình giải
quyết vụ việc dân sự, họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và
quyết định của mình khi thực hiện những công việc mà họ được giao. Nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm này được pháp luật TTDS quy định cụ thể đối với
18
Thẩm phán, cho phép họ thực hiện một cách độc lập những hành vi, quyết định
tố tụng trong quá trình giải quyết những vụ việc dân sự. Đồng thời, họ phải tự
chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và quyết định tố tụng của mình.
1.2. CƠ SỞ QUY ĐỊNH NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM
CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.2.1. Cơ sở lý luận của việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự
Từ năm 1986, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quá trình
đổi mới đã diễn ra một cách toàn diện, đồng bộ trên tất cả các mặt của đời
sống xã hội. Theo đó các tranh chấp dân sự phát sinh ngày một đa dạng, phức
tạp đòi hỏi phải có sự điều chỉnh thích hợp về pháp luật nhằm ổn định các
quan hệ xã hội. Vì vậy, cải cách tư pháp là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết
và mang tính quy luật để có thể thích ứng với những đổi mới về văn hóa, kinh
tế, xã hội…
Nhận thức rõ tầm quan trọng của cải cách tư pháp nên vấn đề này đã
được đề cập ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và các kỳ Đại hội Đảng
sau đó, đặc biệt là Nghị quyết số 08/NQ-TW và Nghị quyết số 49/NQ-TW.
Nghị quyết số 49/NQ-TW đã xác định xét xử là trọng tâm của hoạt động tư
pháp và Tòa án có vị trí trung tâm trong hệ thống tư pháp. Theo tinh thần và
nội dung của Nghị quyết nói trên, trọng tâm của cải cách tư pháp là cải cách
triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới đất nước.
Để thực hiện nhiệm vụ phức tạp và khó khăn đó ngay từ Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VII đã xác định: "Cần tập trung cải cách thể chế của nền hành
chính, chấn chỉnh tổ chức bộ máy…, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức
hành chính…" [4]. Trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính cần
định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm, thẩm quyền, quyền lợi và kỷ luật của công
chức hành chính… Mới đây nhất Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục
20
khẳng định: "…phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm
quyền của mỗi cán bộ công chức; tăng cường tính công khai, minh bạch, trách
nhiệm của hoạt động công vụ" [9].
Thẩm phán là một công chức nên cũng không nằm ngoài định hướng
chung đó. Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán cần được xác định
cụ thể trong từng lĩnh vực. Đối với hoạt động TTDS, cần xác định rõ nhiệm
vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong từng giai đoạn cụ thể nhằm
giúp cho Thẩm phán có thể giải quyết các vụ việc dân sự một cách nhanh
chóng, có hiệu quả, đúng pháp luật qua đó góp phần ổn định các giao lưu dân
sự hướng tới thực hiện một mục tiêu chung là xây dựng đất nước giàu mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Như vậy, cải cách hành chính, cải cách tư pháp chính là tiền đề lý luận
để chúng ta xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán
trong TTDS nhằm đảm bảo cho họ có thể chủ động thực hiện hoạt động xét
xử một cách có hiệu quả.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, BLTTDS năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của BLTTDS năm 2011 là văn bản pháp lý quan trọng quy định trình tự, thủ
tục giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án. Thực tiễn giải quyết các vụ việc
dân sự của Thẩm phán tại Tòa án trong những năm qua cho thấy nhiều vụ
việc dân sự Thẩm phán giải quyết chưa thực sự mang tính độc lập. Nhiều bản
án, quyết định của Thẩm phán vẫn bị chi phối, tác động bởi chính quyền địa
hiệu quả. Với hoạt động lập pháp và hành pháp, Nhà nước ban hành pháp luật
và tổ chức thực hiện pháp luật để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức
theo một trật tự do pháp luật xác lập. Tuy nhiên, nếu chỉ ban hành pháp luật
và tổ chức thực hiện pháp luật thì chưa đủ để đưa xã hội vào trạng thái ổn
định và phát triển. Trong xã hội luôn luôn phát sinh các tranh chấp, các hành
22
vi vi phạm pháp luật xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân và
tổ chức, lợi ích của Nhà nước, xâm phạm trật tự pháp luật. Do vậy, cần phải
có một phương diện hoạt động thứ ba của quyền lực nhà nước đó là tư pháp
với chức năng bảo vệ pháp luật.
Để đảm bảo quyền lực nhà nước thì việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp đều có vị trí, vai trò rất quan trọng. Việc thực hiện
đầy đủ, đồng bộ ba quyền trên sẽ đảm bảo phát huy sức mạnh của quyền lực
nhà nước. Quyền tư pháp được thực hiện bởi hệ thống các Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát (VKS), Tòa án, Thi hành án. Các cơ quan này trong phạm vi,
chức năng của mình đều có nhiệm vụ chung là bảo vệ pháp chế XHCN, bảo
vệ chế độ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà
nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của
công dân (Điều 126 Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001).
Theo Điều 1 Luật Tổ chức TAND thì "Tòa án là cơ quan xét xử của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [30]. Trong TTDS, Tòa án là cơ
quan tiến hành TTDS chủ yếu và có vị trí, vai trò quan trọng nhất. Thông qua
hoạt động xét xử của Tòa án mà kết quả các hoạt động tư pháp khác như điều
tra, truy tố, xét xử… được kiểm tra, xem xét, đánh giá công khai, khách quan
mang tính quyền lực nhà nước. Vì vậy, Tòa án là nơi thể hiện tập trung nhất
quyền lực tư pháp của quốc gia, ở đó mỗi phán quyết của Tòa án biểu hiện
được tính công minh của pháp luật và nền công lý của Nhà nước đó [14, tr. 7].
Trong hoạt động xét xử của Tòa án, Thẩm phán là người được nhân
danh Nhà nước làm nhiệm vụ xét xử. Thông qua hoạt động xét xử, Thẩm
phán có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động tố tụng một cách công khai, minh
cho phép phân biệt cụ thể thẩm quyền của Tòa án và nhiệm vụ của Thẩm
phán. Đồng thời sẽ là cơ sở tiến tới xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm của HTND và các cán bộ khác của Tòa án. Điều đó thực sự giải quyết
24
tổng thể những yêu cầu về đổi mới trong tổ chức, hoạt động TTDS của Tòa án
trong giai đoạn hiện nay; thực hiện chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam theo Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 02/06/2005
của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp từ nay đến năm 2020 (sau
đây gọi tắt là Nghị quyết số 48/NQ-TW)
Việc xác định cụ thể, khoa học nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của
Thẩm phán sẽ tạo điều kiện để Thẩm phán có thể chủ động thực hiện nhiệm
vụ của Tòa án cũng như tránh sự lạm quyền và tùy tiện trong việc giải quyết
các vụ việc Dân sự, Hôn nhân và gia đình, Kinh doanh thương mại, Lao động;
đảm bảo có thể giải quyết nhanh chóng, khách quan, toàn diện, đúng pháp
luật các vụ việc. Bên cạnh đó sẽ nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán về việc
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong hoạt động TTDS và là cơ sở
để xác định lỗi, từ đó xác định trách nhiệm bồi hoàn của Thẩm phán đối với
cơ quan Tòa án khi có thiệt hại xảy ra mà cơ quan Tòa án phải bồi thường
theo Điều 620 BLDS năm 2005 và Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước
năm 2009.
Ngoài ra khi Thẩm phán được xác định nhiệm vụ, quyền hạn độc lập
trong việc giải quyết một loại việc dân sự sẽ là cơ sở để xây dựng thủ tục rút
gọn, tạo điều kiện cho Thẩm phán có thể độc lập giải quyết nhanh chóng,
đúng pháp luật đối với những loại tranh chấp có tính chất đơn giản, rõ ràng;
xây dựng thủ tục công nhận một văn bản không phải của Tòa án có giá trị thi
hành và thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự không cần thành lập Hội đồng
xét xử (HĐXX).
Như vậy, với vai trò và vị trí không thể thiếu trong TTDS, Thẩm
phán cần được xác định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cụ thể. Điều này
không chỉ giúp cho Thẩm phán giải quyết đúng đắn các công việc mà còn
tư pháp". Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định tương đối đầy đủ quyền và
nghĩa vụ của Thẩm phán.