Nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong tố tụng dân sự - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐẶNG QUANG HUY

ĐỀ TÀI

NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM HÒA GIẢI
CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Định hướng nghiên cứu

HÀ NỘI 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐẶNG QUANG HUY

ĐỀ TÀI

NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM HÒA GIẢI
CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

BLDS

: Bộ luật Dân sự

BLTTDS

: Bộ luật Tố tụng dân sự

HĐXX

: Hội đồng xét xử

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao

TTDS

: Tố tụng dân sự

VADS

: Vụ án dân sự

VVDS

: Vụ việc dân sự


MỤC LỤC

1.4.3. Mối quan hệ với nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng ...................................................................... 26
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM HÒA GIẢI
CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH ........................................................ 28
2.1. Trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi cho các
đương sự thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án ...................... 28
2.1.1. Trách nhiệm tiến hành hòa giải vụ việc dân sự của Tòa án ............. 28
2.1.2. Trách nhiệm tạo thuận lợi cho các đương sự thỏa thuận giải quyết vụ
việc dân sự của Tòa án................................................................................ 41
2.2. Việc hòa giải vụ việc dân sự phải theo đúng quy định của pháp luật
Tố tụng dân sự ............................................................................................... 45
2.2.1. Nguyên tắc tiến hành hòa giải .......................................................... 45
2.2.2. Thành phần phiên họp hòa giải ........................................................ 48
2.2.3. Nội dung hòa giải .............................................................................. 54
2.2.4. Trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải .................................................. 55
2.2.5. Xử lý kết quả hòa giải ....................................................................... 56
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM
HÒA GIẢI CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ
KIẾN NGHỊ ....................................................................................................... 65
3.1. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án
trong tố tụng dân sự Việt Nam..................................................................... 65
3.1.1. Những kết quả đạt được trong việc thực hiện nguyên tắc trách nhiệm
hòa giải của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam ................................... 65
3.1.2. Những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện nguyên tắc trách nhiệm
hòa giải của Tòa án trong tố tụng dân sự ................................................... 67
3.1.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện
nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong tố tụng dân sự ............ 72



quy định của BLTTDS năm 2015 cụ thể hóa nguyên tắc trách nhiệm hòa giải
của Tòa án trong TTDS còn bộc lộ nhiều vướng mắc và bất cập. Điều đó thể
hiện ở những khía cạnh như sự chưa tương thích với pháp luật dân sự về vấn đề
này; một số quy định còn chưa rõ ràng, cần đợi các văn bản hướng dẫn của
TANDTC (TANDTC) để hướng dẫn thi hành; việc Tòa án thực hiện các thủ tục
hòa giải đã đúng với tinh thần là tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa
thuận với nhau về việc giải quyết vụ án1 và đúng quy định của BLTTDS hay
không. Chính những vấn đề này đã và đang ảnh hưởng đến việc thực hiện tinh
thần của nguyên tắc hòa giải trong TTDS và trực tiếp xâm phạm đến quyền, lợi
ích hợp pháp của các đương sự trong vụ việc dân sự.

1

Điều 10 BLTTDS năm 2015


2

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của
Tòa án trong TTDS Việt Nam để bảo đảm việc hiểu những tư tưởng và áp dụng
đúng tinh thần của nguyên tắc là một yêu cầu cấp thiết. Chính vì vậy, Học viên
đã lựa chọn đề tài “Nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong tố tụng
dân sự” nghiên cứu làm Luận văn tốt nghiệp của mình.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Hòa giải là một vấn đề quan trọng của TTDS, đã và đang được nhiều nhà
nghiên cứu lý luận và thực tiễn quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu về hòa
giải trong TTDS đã được công bố.
Về luận án, luận văn, có Luận án Tiến sĩ Luật học:“Chế định hòa giải
trong pháp luật TTDS Việt Nam – Cơ sở lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần
Văn Quảng bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2004; Luận văn Thạc

Tuy vậy, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ Luật học, tác giả chỉ
tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc trách nhiệm
hòa giải của Tòa án trong TTDS, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong TTDS và thực tiễn
thực hiện chúng tại các Tòa án Việt Nam trong những năm gần đây. Trong đó,
việc nghiên cứu cũng tập trung chủ yếu vào trách nhiệm hòa giải của Tòa án đối
với vụ án dân sự (VADS) và loại việc dân sự yêu cầu Tòa án công nhận thuận
tình ly hôn. Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng được tiến hành qua việc đối chiếu
với các quy định trách nhiệm hòa giải VADS của Tòa án theo pháp luật TTDS
một số nước để đối chiếu, so sánh và tham khảo.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong TTDS và xây dựng
nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong tố tụng dân sự khoa học, hợp
lý theo tinh thần cải cách tư pháp. Để đạt được các mục đích nêu trên, việc
nghiên cứu đề tài có các nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về nguyên tắc trách
nhiệm hòa giải của Tòa án trong TTDS như khái niệm, ý nghĩa, cơ sở của
nguyên tắc, các yếu tố quyết định hiệu quả thực hiện nguyên tắc và mối quan
hệ của nguyên tắc này với các nguyên tắc khác của TTDS.
Thứ hai, phân tích làm rõ được nội dung của nguyên tắc trách nhiệm
hòa giải của Tòa án trong TTDS theo quy định của pháp luật TTDS Việt Nam
hiện hành, cụ thể là các quy định của BLTTDS năm 2015 về nguyên tắc trách
nhiệm hòa giải của Tòa án và đánh giá đúng được thực trạng của chúng.
Thứ ba, khảo sát thực tiễn thực hiện nguyên tắc trách nhiệm hòa giải


4

của Tòa án trong TTDS tại các Tòa án Việt Nam, phát hiện ra những vướng



5

Chương 1: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của
Tòa án trong tố tụng dân sự
Chương 2: Nội dung nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong tố
tụng dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa
án trong tố tụng dân sự và một số kiến nghị


6

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM
HÒA GIẢI CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của
Tòa án trong tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong tố
tụng dân sự
Nguyên tắc, theo cách hiểu chung nhất là “những quy định, phép tắc, tiêu
chuẩn làm cơ sở, chỗ dựa để xem xét, làm việc”2. Theo đó, nguyên tắc của một
ngành luật cũng được xây dựng dựa trên những nền tảng này. Dưới góc nhìn
khoa học pháp lý, nguyên tắc được hiểu là những tư tưởng pháp lý mang tính
chỉ đạo có tính chất xuất phát điểm, thể hiện sự toàn diện và có ý nghĩa bao
quát, quyết định sự đúng đắn về nội dung, chất lượng và hiệu quả pháp luật.
Chính vì vậy, bất kì một hoạt động nào muốn đi đúng hướng đều đòi hỏi hoạt
động đó phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Hoạt động TTDS là một
dạng hoạt động tư pháp với nhiệm vụ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án tiến

hoặc tố chức phải gánh chịu khi không thực hiện hay thực hiện không đúng
quyền và nghĩa vụ được giao phó6. Chính vì vậy, trách nhiệm của Tòa án có thể
được hiểu là việc Tòa án phải làm, nếu Tòa án không làm, Tòa án sẽ phải chịu
hậu quả về việc không tiến hành đó.
Nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án là một nguyên tắc cơ bản và
đặc trưng của pháp luật TTDS, được ghi nhận trong các BLTTDS qua từng thời
kì. Hơn nữa, một trong những nhiệm vụ cải cách tư pháp được đề cập trong
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ chính trị về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đó là “Hoàn thiện chính sách, pháp luật
hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp”, trong đó khuyến khích
việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài và
Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó7. Có thể thấy, hòa
giải tại Tòa án đóng vai trò hết sức quan trọng và cần thiết.
Trong xu thế chung về hội nhập quốc tế và phát triển, các mối quan hệ
pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động ngày càng đa dạng
và phức tạp. Khi các chủ thể tham gia vào các mối quan hệ pháp luật đó, họ khó
có thể tránh khỏi các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh. Nếu các mâu thuẫn này
không được giải quyết một cách kịp thời sẽ để lại nhiều hệ quả không tốt cho
các bên tham gia vào quan hệ pháp luật nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Để giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp trong các mối quan hệ pháp luật
nói trên, các chủ thể quan hệ pháp luật có thể lựa chọn nhiều phương thức giải
quyết tranh chấp khác nhau. Có thể kể đến như tự thương lượng, tự thỏa thuận
Nguyễn Quốc Hùng (1975). Hán Việt Tân từ điển, Nxb. Khai trí, TP Hồ Chí Minh, tr. 485
Nguyễn Cửu Việt (2004). Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội,
tr. 323
7
Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội, tr. 7
5
6

định quan trọng của Luật TTDS, là phương pháp giải quyết vụ án bằng chính
sự thỏa thuận, thương lượng của các đương sự”10. Quan điểm này của các tác
Viện Ngôn ngữ học (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr. 340
Henry Campbell Black (1990), Black Law Dictionary, tr. 152, nguyên văn: “Intervention; interposition; the
act of a third person who interferes between two contending parties with a view to reconcile them or persuade
them to adjust or settle their dispute “
10
Nguyễn Ngọc Điệp, Lê Thị Kim Nga, Vũ Mạnh thông (1999), Tìm hiểu ngành luật tố tụng dân sự, Nxb Mũi
Cà Mau, tr. 33
8
9


9

giả đã làm rõ được hòa giải là phương pháp để giải quyết VADS bằng chính sự
thỏa thuận của các đương sự. Song quan điểm này chưa nêu rõ được bản chất,
ai là chủ thể của hòa giải, ai là chủ thể tham gia hòa giải VADS…
Theo ThS. Tống Công Cường thì “hòa giải là việc Tòa án hướng dẫn
các đương sự tự nguyện thỏa thuận giải quyết vụ án”11. Còn theo quan điểm
của Giáo trình Trường Đại học Luật Hà Nội thì “Hòa giải VADS là hoạt động
tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về
việc giải quyết vụ án”12. Hai quan điểm này phần nào đã chỉ rõ hòa giải là một
hoạt động tố tụng trong TTDS, chủ thể tiến hành hòa giải, mục đích của hòa
giải và phần nào bản chất của hòa giải tuy nhiên lại chưa làm rõ được một số
vấn đề như thời điểm tiến hành hòa giải và điều quan trọng nhất đó là có phải
mọi thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án đều được Tòa án chấp
nhận hay không?
Bên cạnh đó, cần phân biệt hòa giải trong TTDS với các loại hình hòa giải
tranh chấp trên thực tế như: hòa giải cơ sở, hòa giải tại UBND, hòa giải tại bên

lợi cho các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ việc dân
sự trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức
xã hội”.
1.1.2. Ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong tố
tụng dân sự
Nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong TTDS là một nguyên
tắc cơ bản, đặc trưng của pháp luật TTDS đồng thời có ý nghĩa hết sức quan
trọng trong TTDS. Trong hoạt động tư pháp thì Tòa án giữ vai trò trung tâm và
là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước tiến hành xét xử các vụ việc
dân sự. Trong những năm qua việc hòa giải tại Tòa án đã góp phần giải quyết
được những tranh chấp về các lĩnh vực dân sự tránh được những tranh chấp
nghiêm trọng xảy ra và đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của các đương
sự trong các vụ việc dân sự.
Qua nghiên cứu cho thấy, nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án
trong TTDS có những ý nghĩa sau đây:
Thứ nhất, nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong TTDS có ý
nghĩa đối với Tòa án
Nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong TTDS góp phần tạo cơ
sở pháp lý cho việc tiến hành hòa giải các VVDS tại Tòa án. Việc hòa giải
thành các VVDS sẽ giúp Tòa án sớm giải quyết được VVDS, tránh được những
thủ tục tố tụng kéo dài, phức tạp trong quá trình giải quyết VVDS. Qua đó, Tòa
án sẽ giảm bớt được nhiều thời gian, công sức, tiền bạc cho việc giải quyết
VVDS đồng thời còn giải quyết được mâu thuẫn giữa các đương sự một cách
triệt để. Bên cạnh đó, hòa giải thành là một sự bảo đảm cho việc thi hành
nghiêm chỉnh, nhanh gọn các quyết định của Tòa án. Trong trường hợp hòa giải
thành, mỗi bên đương sự đều thỏa thuận trên cơ sở ý chí tự nguyện và phù hợp
với lợi ích của mình, nên họ tự nguyện trong việc thực hiện các quyết định của
Tòa án. Việc thi hành án do đó không cần sự tác động nào của Tòa án và trở



án đã tổ chức hòa giải cũng giúp cho thẩm phán cũng như các đương sự trong
VVDS đó có cái nhìn rõ hơn, cụ thể hơn nội dung của VVDS với những tình
tiết, mâu thuẫn giữa họ trong đó. Từ đó Thẩm phán củng cố thêm hồ sơ vụ việc,
đưa ra định hướng giải quyết đúng đắn cho vụ việc, nâng cao hiệu quả xét xử.


12

Thứ hai, nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong TTDS có ý
nghĩa đối với các đương sự.
Hòa giải VVDS bảo đảm được quyền tự định đoạt của đương sự, là cơ
hội để các đương sự có thể bàn bạc, thỏa thuận với nhau về cách giải quyết
tranh chấp đã phát sinh giữa các bên. Hòa giải tại Tòa án giúp các đương sự
hiểu rõ về quyền tự định đoạt của mình trong quá trình giải quyết tranh chấp tại
Tòa án. Quyền tự định đoạt trong giải quyết tranh chấp thể hiện trước hết ở việc
các đương sự hoàn toàn được tự do thỏa thuận lựa chọn phương thức phù hợp
để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ giữa họ. Đương sự được
lựa chọn các hình thức giải quyết tranh chấp. Nếu tranh chấp được đưa ra Tòa,
thì toàn bộ quy trình, thủ tục giải quyết vụ kiện sẽ phải tuân theo các quy định
của pháp luật TTDS. Trong quy trình đó, Tòa án đại diện cho quyền lực của
Nhà nước sẽ đưa ra các quyết định có liên quan cũng như đưa ra phán quyết
cuối cùng về vụ kiện. Từ đó, việc hòa giải tại Tòa án góp phần nâng cao ý thức
pháp luật của các đương sự. Thông qua việc giải thích pháp luật của Tòa án
trong phiên hòa giải, các đương sự sẽ phần nào hiểu được quy định của pháp
luật về vấn đề mà họ đang tranh chấp. Từ đó, các bên có thể hiểu và tự quyết
định về việc giải quyết tranh chấp, không trái với quy định của pháp luật. Tòa
án sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải
quyết VVDS. Việc thỏa thuận như thế nào về việc giải quyết vụ án do chính các
đương sự thực hiện quyền quyết định và tự định đoạt của mình, Tòa án chỉ có
vai trò trung gian, giải thích pháp luật để các đương sự hiểu rõ về quyền và

động nhiều người và phương tiện. Những công việc như: Thu thập chứng cứ để
chứng minh và khai báo tại Tòa án, tổ chức các buổi gặp gỡ, tiếp xúc, đối chất
giữa các đương sự và những cơ quan, những người có liên quan... đã làm hao
phí rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc của các đương sự, của xã hội cũng
như của Nhà nước. Với việc Tòa án có trách nhiệm phải tạo điều kiện hòa giải
cho các đương sự sẽ góp phần tạo điều kiện cho họ thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án. Từ đó, Tòa án sẽ sớm kết thúc việc giải quyết VVDS, tiết
kiệm được thời gian, công sức của Tòa án, tiền bạc của Nhà nước. Còn đối với
các đương sự, việc hòa giải thành sẽ giúp cho họ tiết kiệm được thời gian và
những chi phí không cần thiết ở những giai đoạn tố tụng tiếp theo.
Bên cạnh đó, việc hòa giải VVDS còn giúp Tòa án giải quyết VVDS một
cách thấu tình, đạt lý, củng cố niềm tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của
Tòa án. Đồng thời với việc tham gia vào các phiên hòa giải do Tòa án tiến
hành, các đương sự hiểu biết hơn về pháp luật nói chung, quyền và nghĩa vụ
của bản thân trong VVDS nói riêng, từ đó cùng nhau tháo gỡ những mâu thuẫn,
bất đồng, khôi phục lại tình cảm hoặc ít nhất cũng giúp họ tham gia giải quyết


14

tranh chấp một cách có thiện chí và cởi mở hơn.
Với những kết quả từ việc hòa giải trong TTDS, các đương sự và những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong tương lai sẽ thận trọng hơn, khôn
ngoan hơn, hành xử, hoạt động kinh doanh, thương mại, trong mối quan hệ xã
hội đúng pháp luật hơn, văn minh hơn, để tránh khỏi những hậu quả nặng nề
như trong quá khứ. Điều đó sẽ góp phần có hiệu quả làm lành mạnh hóa các
quan hệ dân sự, giảm bớt các tranh chấp, mâu thuẫn trong cộng đồng, hoặc nếu
tranh chấp tương tự có xảy ra, thì các đương sự sẽ dựa trên kinh nghiệm thực
tiễn để tìm ra được phương thức giải quyết ổn thỏa, hiệu quả, ít tốn kém. Như
vậy, hòa giải góp phần vào việc giữ gìn an ninh, trật tự, công bằng xã hội, làm

quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao
động. Trong quan hệ này, các chủ thể đều bình đẳng, các chủ thể trong quan hệ
này đều có quyền tự mình, bằng hành vi tố tụng của mình để tự dàn xếp, thương
lượng với nhau hoặc thông qua sự giúp đỡ của Tòa án thỏa thuận với nhau về
giải quyết vụ án. Pháp luật khuyến khích và bảo đảm để các đương sự hòa giải
với nhau về việc giải quyết tranh chấp dân sự. BLDS năm 2015 quy định:
“Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định pháp
luật được khuyến khích”14. Như vậy có thể thấy hòa giải là một biện pháp giải
quyết tranh chấp xuất phát từ việc giải quyết các tranh chấp của pháp luật nội
dung và được quy định trong BLTTDS. Hòa giải đã trở thành một nguyên tắc cơ
bản và quan trọng của pháp luật TTDS. Hòa giải như một công cụ để giải quyết
tranh chấp một cách triệt để, hàn gắn mâu thuẫn giữa các chủ thể của quan hệ
pháp luật nội dung có tranh chấp.
Thứ hai, trong TTDS, đương sự có quyền quyết định và tự định đoạt.
Các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại
hoặc lao động có tranh chấp được Tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp thì các
chủ thể tham gia quan hệ pháp luật là các đương sự trong VVDS có quyền tự
định đoạt trong quá trình Tòa án giải quyết VVDS. Theo đó, đương sự có quyền
tự định đoạt trong việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết VVDS của mình,
đồng thời họ có quyền tự định đoạt quyền lợi của mình thông qua việc thỏa
thuận với các đương sự còn lại về việc giải quyết vụ việc dân sự một cách có
thiện chí, tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã
hội tại phiên hòa giải do Tòa án tiến hành.
Do đó, pháp luật TTDS quy định về nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của
Tòa án nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể khi tiến hành hoạt động

14

Khoản 2 Điều 7 Bộ luật dân sự năm 2015


xây dựng quy định về nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong TTDS
là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Việc xây dựng các quy định
về hòa giải được xây dựng trên cơ sở quán triệt tinh thần, tư tưởng chỉ đạo của
Nguyễn Thị Thúy (2014), Hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn
thạc sỹ luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 8
15


17

Đảng được ghi nhận tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó có đoạn
“khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa
giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó” 16.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn của nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án
trong tố tụng dân sự
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, thực tiễn là tiêu chuẩn,
thước đo của lý luận. Thực tiễn kiểm nghiệm để khẳng định tính đúng đắn, phù
hợp quy luật hoặc bác bỏ một luận điểm nào đó lỗi thời không phù hợp thực
tiễn. Mặt khác, thực tiễn cũng là tấm gương phản chiếu để phát triển lý luận.
Trong đời sống pháp luật, thực tiễn xét xử đã khẳng định hòa giải là một biện
pháp truyền thống quan trọng mang tính phổ biến trong việc giải quyết các
VVDS và việc quy định nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án là phù hợp
với thực tiễn. Điều đó được thể hiện ở những cơ sở sau đây:
Thứ nhất, nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án được dựa trên cơ
sở truyền thống giải quyết tranh chấp của nhân dân ta từ lâu đời.
Nguyên tắc hòa giải được hình thành một cách khách quan trước yêu cầu
của đời sống kinh tế, xã hội và chịu sự tác động sâu sắc của các yếu tố chính trị,
kinh tế, xã hội, tập quán trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử. Trong lịch
sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, làng xã trong

Thật vậy, từ thời kì Hậu Lê, các quy định về vấn đề hòa giải trong hệ
thống pháp luật chưa nhiều nhưng nó đã được các nhà lập pháp nhà Hậu Lê hết
sức chú trọng cả trong tư tưởng cũng như trong các quy định liên quan. Sau khi
lên ngôi vua được 16 năm, ngày 20 tháng 7 năm Hồng Đức thứ 7 (1476) Lê
Thánh Tông đã ban bố lệnh về xét xử việc anh em ruột tranh giành kiện tụng, cụ
thể như sau: "Quan cai trị thường xem nhân tài giỏi hay kém thì biết đời sống
nhân dân sướng hay khổ, muốn cho việc kiện tụng giảm bớt đều do xã trưởng
khuyên giải…"17. Như vậy, có thể thấy nguyên tắc hòa giải đã được hình thành
rất sớm trong hệ thống pháp luật thời kì này, nó xuất phát từ chính yêu cầu của
cuộc sống gia đình, cũng như truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta18.
Tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, việc giữ
gìn truyền thống đoàn kết từ lâu đời, tình cảm giữa người với người là một trong
những mục tiêu được Đảng và Nhà nước quan tâm hàng đầu. Để giải quyết tốt
các mâu thuẫn thường ngày xảy ra trong đời sống xã hội sao cho có tình có lý
và vẫn giữ gìn được tình đoàn kết dân tộc, giữ gìn bản sắc dân tộc là một việc
làm vô cùng quan trọng và cần thiết. Với ý nghĩa đó, nguyên tắc hòa giải đã
Hồng Đức thiện chính thư, Viện nghiên cứu Hán nôm, Viện khoa học xã hội Việt Nam (2006), Một số văn bản
điểu chế và pháp luật Việt Nam từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, tr. 481
18
Chế định hòa giải trong pháp luật Việt Nam thời kỳ Hậu Lê, truy cập ngày 20/6/2018
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status