công nhận kết quả hòa giải ngoài tòa án trong tố tụng dân sự - Pdf 38

Câu 1: Quan điểm về việc bổ sung quy định trong Dự thảo Bộ luật Tố
tụng dân sự sửa đổi đối với yêu cầu công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa
án trong Tố tụng dân sự.
Ngoài quy định về việc “Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ
việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” thì Dự thảo Bộ luật Tố tụng
dân sự sửa đổi có một điểm rất mới đó là quy định về “công nhận kết quả hòa
giải ngoài Tòa án”. Sau đây là một vài quan điểm, ý kiến riêng của bản thân tôi
về vấn đề này.
1. Căn cứ vào tính chất của quan hệ pháp luật dân sự, việc công nhận kết
quả hòa giải ngoài Tòa án là hợp lý. Bởi lẽ: Quy định này nhằm làm tăng giá trị
của việc hòa giải, khuyến khích việc tham gia hòa giải, giảm bớt vụ việc khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết; khuyến khích phát triển hòa giải; tôn trọng
nguyên tắc tự nguyện, tự quyết và tự chịu trách nhiệm của các bên. Ngoài ra,
quy định trên còn đảm bảo một khuôn khổ pháp lý cho các kết quả hòa giải
ngoài Tòa án. Làm tăng tính pháp lý của kết quả hòa giải và nâng cao tính khả
thi trong việc thực hiện kết quả hòa giải ngoài Tòa án của các bên.
Theo quy định tại Dự thảo thì: “Kết quả hòa giải của cơ quan, tổ chức có
nhiệm vụ hòa giải theo quy định của pháp luật ngoài Tòa án giữa cá nhân, cơ
quan, tổ chức tự nguyện không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội, không
nhằm trốn tránh nghĩa vụ được Tòa án công nhận khi có yêu cầu”.
2. Có một sự bất hợp lý khi dự thảo quy định điều kiện để được công nhận
kết quả hòa giải ngoài Tòa án là “không có tranh chấp sau khi có kết quả hòa
giải”. Bởi vì: điều kiện như vậy đã vô hiệu hóa phương thức hòa giải khi có
tranh chấp xảy ra. Đây cũng có thể là “kẽ hở” để bên thiếu thiện chí vận dụng
kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ, dẫn tới vô hiệu kết quả hòa giải.
3. Khi được Tòa án công nhận, các kết quả hòa giải sẽ có giá trị pháp lý và
được bảo đảm thực thi bằng thủ tục thi hành án. Trước khi công nhận kết quả
hòa giải, Tòa án cần phải xem xét lại nội dung hòa giải. Việc thừa nhận kết quả
hòa giải không loại trừ trách nhiệm chứng minh của tòa án. Theo đó, Tòa án




được hiểu là sự thống nhất thỏa thuận của các bên sau khi được hòa giải hay là
toàn bộ các nội dung tại biên bản hòa giải, kết quả của hoạt động hòa giải (bao
gồm hòa giải thành và hòa giải không thành). Tòa án có được công nhận trong
trường hợp hòa giải không thành hay không?
Câu 2: Bài tập tình huống
1. Yêu cầu của các bên đương sự
- Yêu cầu của chị Hương:
+ Yêu cầu 1: bà Văn phải thực hiện việc bán nhà và chuyển nhượng quyền
sử dụng đất 358 phố K, quận H, TP. Hà Nội.
+ Yêu cầu 2: Nếu bà Văn không thực hiện yêu cầu 1 thì bà Văn thực hiện
đúng nội dung cam kết của hợp đồng đặt cọc là trả lại tiền cọc và bồi thường gấp
đôi tiền cọc. Tổng số tiền bà Văn phải bồi thường là 3.000.000.000 đồng.
- Yêu cầu của Bà Văn:
+ Bà Văn không bán nhà và không chuyển nhượng quyền sử dụng đất 358
phố K, quận H, TP. Hà Nội.
+ Yêu cầu Tòa tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiệu. Bà Văn đồng ý trả cho chị
Hương số tiền đặt cọc là 01 tỷ, tuy nhiên bà Văn không chấp nhận bồi thường 2
tỷ cho chị Hương. Bà Văn chỉ đồng ý bồi thường 300 triệu đồng.
2. Áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết
- Về hợp đồng đặt cọc
Theo quy định tại khoản 1 Điều 358 Bộ luật Dân sự năm 2005, đặt cọc là
việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật
có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm
giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.
Theo như nội dung tình huống đã nêu, thì việc chị Hương và bà Văn ký
hợp đồng đặt cọc là có thật. Hợp đồng đặt cọc giữa hai bên đã được lập thành
văn bản. Tồn tại hai bản khác nhau, trong đó một bản không có dấu của Công ty



(Điều 134), giao dịch dân sự vô hiệu từng phần (Điều 135), giao dịch dân sự vô
hiệu do vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (Điều 122).
- Hợp đồng đặt cọc trên có vô hiệu hay không?
Ta nhận thấy, hợp đồng trên đã được lập thành văn bản theo quy định tại
Khoản 1 Điều 358 Bộ luật dân sự năm 2005 và không thuộc loại hợp đồng phải
công chứng, chứng thực. Do vậy, hợp đồng trên không thể vô hiệu về hình thức.
Đối chiếu với các trường hợp vô hiệu của hợp đồng nêu trên, ta sẽ thấy, hợp
đồng trên chỉ có thể vô hiệu nếu rơi vào các trường hợp sau: Giao dịch dân sự vô
hiệu do bị lừa dối, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.
+ Trường hợp 1: hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.
Ở đây, đối tượng của hợp đồng đặt cọc là 1 tỷ đồng tiền đặt cọc chứ không
phải là nhà và quyền sử dụng đất nêu trong tình huống. Do đó, việc bà Văn
không bán nhà và không chuyển quyền sử dụng đất không được coi là “đối
tượng của hợp đồng không thể thực hiện được”. Do đó, hợp đồng đặt cọc không
thể vô hiệu theo trường hợp này.
+ Trường hợp 2: Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối.
Như tình huống nêu, thì bà Văn mặc dù biết diện tích đất và nhà nói trên
đang thế chấp tại Ngân hàng nhưng vẫn ký hợp đồng đặt cọc với chị Hương.
Đây có phải là hành vi lừa dối hay không?
Đây không phải là hành vi lừa dối. Bởi vì, theo khoản 1 Điều 132 Bộ luật
dân sự năm 2005, lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên
hoặc của người thứ ba làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể giao dịch, tính
chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự”.
Bên thứ ba ở đây là Công ty TNHH Hoàng Gia không hề biết và không có
trách nhiệm phải biết việc căn nhà và quyền sử dụng đất nói trên đang được thế
chấp tại Ngân hàng. Bà Văn cũng không làm cho chị Hương hiểu sai lệch về chủ
thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch. Lập luận này gắn với
việc xác định chủ thể, đổi tượng và nội dung của giao dịch đã được trình bày ở




Kết luận: Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, bà Văn đã vi phạm
hợp đồng đặt cọc và phải bồi thường cho chị Hương 2 tỷ đồng. Bà Văn không
phải trả 1 tỷ đồng tiền đặt cọc. Ngoài ra, bà Văn hoàn toàn có quyền không bán
nhà và không chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho chị Hương.
3. Đề xuất phương án hòa giải
3.1. Bà Văn trả cho chị Hương 3 tỷ gồm: tiền cọc và phạt cọc
Thuận lợi

Khó khăn

Hệ quả pháp lý

Đáp ứng yêu cầu Không có cơ sở pháp lý để Các bên không thống nhất
của chị Hương

yêu cầu bà Văn chi trả số tiền được phương án. Tòa án ra
trên. Bà Văn không chấp quyết định giải quyết vụ
nhận mức bồi thường này.

án theo quy định và bà
Văn sẽ phải bồi thường
cho chị Hương 2 tỷ

3.2. Bà Văn trả 1 tỷ 3oo triệu cho chị Hương
Thuận lợi

Khó khăn

Hệ quả pháp lý


bảo đúng quy định của

Hương 2 tỷ


pháp luật
3.4. Bà Văn bán nhà và chuyển quyền sử dụng đất cho chị Hương
Thuận lợi

Khó khăn

Hệ quả pháp lý

Bà Văn không phải bồi Bà Văn không còn Tòa án ra quyết định giải quyết
thường, không vi phạm nhu cầu bán nhà vụ án theo quy định và bà Văn
hợp đồng đặt cọc. Chị và chuyển quyền sẽ phải bồi thường cho chị
Hương được nhu cầu sử dụng đất cho Hương 2 tỷ
mua nhà và quyền sử chị Hương
dụng đất
3.5. Bà Văn bồi thường cho chị Hương 1,5-1,8 tỷ
Thuận lợi

Khó khăn

Hệ quả pháp lý

Giảm thiểu mức bồi Bà Văn sẽ phải bỏ Tòa án có thể ra quyết định
thường mà bà Văn phải thêm


chị Hương chấp nhận mức bồi thường này.
Vai trò của quy định của pháp luật trong hòa giải: Các quy định của Bộ
luật dân sự năm 2005 về mức bồi thường là cơ sở để các bên tiến hành hòa giải,
giúp các bên nhận thức rõ lợi ích của việc hòa giải. Nếu hòa giải được thì bà
Văn sẽ giảm được mức tiền phải bồi thường và chị Hương có thể được bồi
thường ở một mức hợp lý. Nếu các bên không thực hiện được, thì bà Văn sẽ
phải bồi thường theo quy định nhưng khi đó thủ tục để chị Hương nhận được
tiền bồi thường sẽ phức tạp và không dễ dàng. Là cơ sở để các bên nhận ra điều
bất hợp lý trong yêu cầu của mình từ đó có phương án thỏa thuận phù hợp.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status