Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài tòa án trong tố tụng dân sự - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------o0o----------

NGUYỄN VĂN ĐẠT

THỦ TỤC CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH NGOÀI TÒA ÁN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60.38.01.03

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng

HÀ NỘI - NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Trường Đại học Luật Hà Nội xem xét
để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!



: Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam

VADS

: Vụ án dân sự

VKS

: Viện Kiểm sát

WTO

: Tổ chức thương mại thế giới


MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU

1

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục yêu cầu công nhận
kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án

9

1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục yêu cầu công nhận kết quả
hòa giải thành ngoài Tòa án



43

Chương 3: Hoàn thiện quy định về thủ tục công nhận kết quả hòa giải
thành ngoài Tòa án trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

53

3.1. Yêu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến yêu cầu công
nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong tố tụng dân sự

53

3.2. Thực trạng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện các quy định về thủ tục
yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong Pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam

64

KẾT LUẬN

78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1.

2

Tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới như Mỹ, Nhật và
các nước Đông Nam Á, phương thức hòa giải ngoài Tòa án được nhiều thương
nhân áp dụng khi gặp bất đồng, tranh chấp trong quan hệ thương mại. Nhiều tổ
chức quốc tế đó ban hành những quy tắc hòa giải với những quy định phù hợp,
hiệu quả được các chủ thể kinh doanh ưu tiên sử dụng. Đặc biệt đối với hệ thống
pháp luật Hoa Kỳ - là một trong những hệ thống pháp luật đề cao vai trò của các
phương thức giải quyết thay thế. Hoạt động hòa giải tại Hoa Kỳ phát triển rộng rãi
trong các thập kỷ trước, nhưng chỉ kể từ khi Đạo luật hòa giải thống nhất (Uniform
Mediation of American - UMA) năm 2001 được thông qua, hoạt động hòa giải mới
chính thức được công nhận như một phương thức giải quyết tranh chấp chuyên
nghiệp.
Trong bối cảnh BLTTDS năm 2015 được ban hành và bắt đầu có hiệu lực kể
từ ngày 1/7/2016 với việc lần đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của
Pháp luật tố tụng ghi nhận thủ tục yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài
Tòa án. Việc nghiên cứu một cách tổng quát, toàn diện cả về cơ sở lý luận của việc
pháp luật ghi nhận, nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này
và dự liệu những vấn đề thực tiễn nảy sinh khi triển khai áp dụng rất có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn. Với lý do đó, tác giả chọn vấn đề: “Thủ tục công nhận kết quả
hoà giải ngoài Toà án trong tố tụng dân sự” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
thạc sĩ của mình.
2.

Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý từ trước đến nay, ở nước ta vấn đề hoà giải trong các

vụ án dân sự không phải là vấn đề mới, đã có một số công trình nghiên cứu chuyên
sâu và có hệ thống về chế định hòa giải, nhưng hầu hết là các công trình được
nghiên cứu về thủ tục hòa giải trong tố tụng dân sự có thể điểm xuyết tổng quan

hòa giải ngoài Tòa án. Nghiên cứu về điều kiện để được công nhận kết quả hòa
giải ngoài Tòa án và trao đổi xung quanh việc bổ sung quy định về thủ tục công


4

nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án theo quy định tại Điều 384 Dự thảo BLTTDS.
- Bài viết về “Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án tong Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015” của tác giả Nguyễn Thị Oanh, trên trang:
Bài viết
đề cập đến những nội dung chính về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành
ngoài Tòa án trong Chương XXXIII Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như (i) về
công

nhận

kết

quả

hòa

giải

thành

ngoài

Tòa


án trong tố tụng dân sự”, lần đầu tiên được nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sỹ
một cách chuyên sâu, toàn diện và đầy đủ hơn, đảm bảo được tính logíc, hệ thống,
không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố.
3.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm thực hiện các mục đích:
Một là, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục yêu cầu công nhận

kết quả hoà giải thành ngoài Tòa án trong tố tụng dân sự. Tìm hiểu thực trạng pháp
luật điều chỉnh về vấn đề này.
Hai là, chỉ ra những điểm còn thiếu hoặc chưa hợp lý trong quy định của Pháp
luật tố tụng dân sự về thủ tục yêu cầu công nhận kết quả hoà giải thành ngoài Tòa
án, từ đó đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được mục tiêu này, Luận văn phải hoàn thành một số nhiệm vụ
sau:
- Nghiên cứu và phân tích khái niệm, bản chất, đặc điểm, cơ sở của việc Pháp
luật tố tụng Việt Nam ghi nhận về thủ tục yêu cầu công nhận kết quả hoà giải
thành ngoài Tòa án để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục này
trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam;
- Tìm hiểu một cách đầy đủ và có hệ thống quy định của Pháp luật tố tụng dân
sự về thủ tục yêu cầu công nhận kết quả hoà giải thành ngoài Tòa án.


6

- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn pháp luật về thủ tục yêu cầu công nhận kết
quả hoà giải thành ngoài Tòa án; chỉ ra những nội dung, những vấn đề còn thiếu

cần những giải pháp cụ thể nào đề xuất cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng


7

dẫn cụ thể về thủ tục yêu cầu công nhận kết qua hòa giải thành ngoài Tòa án trong
Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
6.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, việc nghiên cứu được tiến

hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quản lý Nhà
nước, quản lý xã hội cũng như chủ trương, quan điểm về việc xây dựng Bộ luật tố
tụng dân sự.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu như phương pháp phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử, qui nạp, khảo sát
thăm dò lấy ý kiến trong phạm vi những người làm công tác thực tiễn,... nhằm làm
sáng tỏ các vấn đề trong nội dung luận văn. Trong đó:
- Phương pháp phân tích luật viết được sử dụng như là một phương pháp chủ
đạo nhằm để đảm bảo tính mạch lạc, tính logic khi triển khai các nội dung đề tài.
- Phương pháp so sánh được phát huy tối đa để chỉ ra những điểm nổi bật,
khác biệt của thủ tục yêu cầu công nhận kết qua hòa giải thành ngoài Tòa án so với
các thủ tục việc dân sự khác.
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các quy định, ưu và
khuyết điểm về thủ tục công nhận kết qua hòa giải thành ngoài Tòa án nhằm đưa ra
những tổng kết quan trọng liên quan đến vấn đề này.
Ngoài ra, tác giả sử dụng đan xen giữa các phương pháp trên trong để tạo tính

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật quy định về thủ tục yêu cầu công nhận kết
quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam


9

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC YÊU CẦU
CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH NGOÀI TÒA ÁN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục yêu cầu công nhận kết quả hòa
giải thành ngoài Tòa án
1.1.1. Khái niệm thủ tục yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa
án
Từ điển Luật học định nghĩa hòa giải (conciliation) là “sự can thiệp, sự làm
trung gian hòa giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh
chấp nhằm thuyết phục họ giàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ. Việc giải
quyết tranh chấp thông qua người trung gian hòa giải (bên trung lập)”1. Khoản 1
Điều 2 Luật Hòa giải cơ sở năm 2013 quy định “Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải
viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với
nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này.”
Bên cạnh thuật ngữ “hòa giải”, trong các văn bản pháp luật và trong các công trình
khoa học pháp lý còn có khái niệm “thương lượng hòa giải”, “trung gian hòa giải”
và “tự hòa giải”. Các khái niệm này được sử dụng như những cụm từ cố định khi
đề cập đến những phương thức giải quyết tranh chấp có tính thay thế (alternative
dispute resolution). Phương thức “hòa giải”, “thương lượng”, “trung gian” có nhiều
đặc điểm chung. Tuy nhiên sẽ không chính xác nếu khẳng định rằng “thương
lượng”, “trung gian”, “hòa giải”, “trung gian hòa giải” là tên gọi khác nhau của
cùng một biện pháp giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật. Thực tế thì
đây vẫn là những cách thức giải quyết tranh chấp khác nhau. Thương lượng là
“bàn bạc nhằm đi đến thỏa thuận một vấn đề nào đó giữa hai bên”2. Thương lượng

tồn tại hai hình thức: hòa giải ngoài tố tụng tư pháp và hòa giải trong tố tụng tư
pháp. Hòa giải trong tố tụng là hòa giải được tiến hành tại tòa án theo các trình tự,
3

Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp & NXB Từ điển
bách khoa, Hà Nội, tr.45
4

Trần Văn Quảng, Phương thức giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải và trung
gian ở Việt Nam, Van Quang.doc, tr.3
5

Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp & NXB Từ điển
bách khoa, Hà Nội, tr.366


11

thủ tục luật định khi Tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp căn cứ vào yêu cầu của các
bên theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc được tiến hành tại cơ quan trọng tài theo thủ
tục tố tụng trọng tài. Hình thức hòa giải ngoài tố tụng là hòa giải trung gian,
thường được các bên tiến hành trước khi đưa vụ tranh chấp ra cơ quan tư pháp, sử
dụng những qui trình, thủ tục do các bên tự chọn hoặc tự xây dựng. Giải quyết
tranh chấp ngoài tố tụng tư pháp nói chung và hòa giải ngoài tố tụng tư pháp nói
riêng được hiểu như là “hệ phương pháp được sử dụng trong giải quyết tranh chấp
không có sự phân chia rõ ràng hai trận tuyến, không có áp lực quá lớn với việc
thắng bại”6 . Cơ sở hình thành và tồn tại của phương thức này xuất phát từ quyền
tự do định đoạt, tự do kinh doanh, tự do lựa chọn các phương thức giải quyết tranh
chấp. Dù cho phương thức giải quyết tranh chấp nào được lựa chọn thì bản chất
của các phương thức giải quyết tranh chấp cũng luôn gánh vác một “sứ mệnh cao

hoặc vì lợi ích của một chính bản thân hay một trong các bên đã không có những
biện pháp bảo đảm cần thiết để giữ kín những thông tin bảo mật của các bên tranh
chấp. Ngược lại, đối với biện pháp giải quyết tranh chấp bằng thương lượng không
có sự tham gia của bên thứ ba, điều này ít khi xảy ra.
Thủ tục tố tụng theo định nghĩa của Từ điển luật học “Cách thức trình tự và
nghi thức tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vụ án đã được thụ lí
hoặc khởi tố theo các quy định của pháp luật”7. Thủ tục tố tụng dân sự được quy
định áp dụng cho việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, những
tranh chấp về kinh doanh thương mại, những tranh chấp về lao động thuộc thẩm
quyền của Tòa án. Thủ tục tố tụng dân sự được tiến hành dựa trên những nguyên
tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân giải
quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động (án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc
về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (việc
dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự tại Tòa án; thủ tục
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
7

Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp & NXB Từ điển
bách khoa, Hà Nội, tr.729


13

ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài; thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền
và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cá nhân, của cơ quan nhà nước, đơn vị
vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có
liên quan nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng,

có quyền, nghĩa vụ liên quan là người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc giải
quyết việc dân sự;
Thứ hai, các đương sự trong việc dân sự không có tranh chấp với nhau về
quyền và nghĩa vụ dân sự, không có sự đối kháng với nhau về mặt lợi ích.
Thứ ba, từ yêu cầu của đương sự Tòa án sẽ công nhận hoặc không công
nhận một sự kiện pháp lý mà từ sự kiện đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự
của đương sự.
Thứ tư, Thủ tục yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án có
trình tự giải quyết gọn gàng, đơn giản, thời gian giải quyết nhanh bằng việc mở
phiên họp công khai để xét đơn yêu cầu. Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự
về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự là cơ sở pháp lý để Toà án tiến
hành giải quyết việc dân sự, bảo đảm cho việc giải quyết việc dân sự được thuận
lợi, đúng đắn, nhanh chóng, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các
đương sự trước Tòa án.
Bên cạnh những đặc điểm cơ bản của thủ tục việc dân sự, thủ tục thủ tục yêu
cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án còn có những đặc điểm riêng cơ
bản sau:
-

Điều kiện phát sinh thủ tục, thủ tục yêu cầu công nhận kết quả hòa giải
thành ngoài Tòa án phát sinh khi có thỏa thuận hòa giải hợp pháp giữa


15

các bên và có yêu cầu của một trong các bên yêu cầu Tòa án công nhận
kết quả hòa giải thành.
-

Điều kiện thực thi thủ tục, khi có đơn yêu cầu hợp pháp và yêu cầu đó

việc dân sự sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho cả Nhà nước và đương sự đó là tiết
kiệm thời gian, công sức, tiền của Nhà nước và của các đương sự. Hơn thế nữa
việc giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các yêu cầu của đương sự còn đem lại hiệu
quả cao cho việc xét xử, đạt được mục đích của xét xử là bảo vệ kịp thời các quyền
và lợi ích hợp pháp của các đương sự và Toà án có điều kiện tập trung thời gian,
công sức cho việc giải quyết các vụ án dân sự khác.
Ngoài ra, với quy định trao quyền cho một thẩm phán giải quyết sẽ nâng cao
tinh thần trách nhiệm cá nhân của thẩm phán, giúp thẩm phán chủ động hơn trong
việc ra các quyết định. Đồng thời sẽ giảm được áp lực về việc tồn đọng án ở các
Toà án, tập trung được nhân lực vào giải quyết các vụ án dân sự.
Có thể nói thủ tục công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án lần đầu tiên được
ghi nhận trong BLTTDS là điểm mới quan trọng, có ý nghĩa trong việc khuyến
khích hòa giải, hạn chế tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết; bảo vệ tốt hơn quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên có thiện chí và tuân thủ đầy đủ các thỏa thuận, cam
kết trong các giao dịch dân sự. Đây là thủ tục rất quan trọng và cần thiết, phù hợp
với yêu cầu thực tiễn hiện nay và thông lệ quốc tế, nhằm khắc phục tình trạng sau
khi các bên đã hòa giải theo quy định pháp luật nhưng không có cơ quan nào tổ
chức thi hành kết quả hòa giải đó.
1.2. Cơ sở Pháp luật tố tụng dân sự quy định về thủ tục công nhận kết quả
hòa giải thành ngoài Tòa án
1.2.1. Quy định thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án xuất
phát từ yêu cầu cải cách tư pháp
Tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020, quy định: “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân
sự. Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía Nhà nước để


17

tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ

những biện pháp đầu tiên để các chủ thể lựa chọn khi có tranh chấp thương mại
xảy ra: “Các tranh chấp giữa các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc
giữa các bên liên doanh cũng như các tranh chấp giữa các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh với các doanh
nghiệp Việt Nam trước hết phải được giải quyết thông qua hòa giải...”. Khi Luật
Thương mại 1997 ra đời, tiếp tục khẳng định hòa giải là một trong những phương
thức giải quyết tranh chấp thương mại. Lần đầu tiên, luật đã ghi nhận các bước của
quá trình giải quyết tranh chấp thương mại và hòa giải viên có thể là tổ chức, cá
nhân cụ thể: “Các bên tranh chấp có thể thỏa thuận chọn một cơ quan, tổ chức hoặc
cá nhân làm trung gian hòa giải…”.
Tại các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam hiện nay cũng đã ghi nhận
và có những quy định về việc hòa giải, việc hòa giải được xem như là một phương
pháp ưu tiên để giải quyết tranh chấp giữa các bên. Một trong những bước tiến lớn
trong lịch sử hình thành và phát triển của Pháp luật tố tụng Việt Nam những năm
qua đó chính là việc lần đầu tiên ghi nhận thủ tục yêu cầu công nhận kết quả hòa
giải thành ngoài Tòa án của BLTTDS năm 2015. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng
nhằm đảm bảo cho việc hòa giải giữa các bên được thực thi một cách hiệu quả và
có sự can thiệp cần thiết từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến việc
hòa giải giữa các bên. Đây là một điểm mới quan trọng, có ý nghĩa trong việc
khuyến khích hòa giải, hạn chế tranh chấp yêu cầu tòa án, trọng tài giải quyết.
Song song với các quy định của pháp luật nội dung về hòa giải như đã nêu
trên thì việc Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung thêm một chương hoàn toàn
mới quy định về “Thủ tục yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án”.
Có thể nói, từ những yêu cầu cụ thể của cải cách tư pháp đòi hỏi Pháp luật tố tụng
dân sự phải xây dựng một cơ chế xét xử linh hoạt, đơn giản, gọn nhẹ; giải quyết
các yêu cầu của đương sự một cách nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, chi phí tố
tụng của Nhà nước và của các đương sự đồng thời bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích


19

1.2.3. Quy định về thủ tục yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa
án xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thể trong luật
dân sự
Nguyên tắc quyền tự định đoạt của các chủ thể trong luật dân sự bắt nguồn từ
nguyên tắc bảo đảm quyền tự quyết của các bên đối với các vấn đề liên quan đến
quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ dân sự. Trong luật dân sự, nguyên
tắc quyền tự định đoạt của chủ thể thể hiện ở khả năng những người tham gia các
giao dịch dân sự tự do định đoạt các quyền dân sự của mình và các quyền, các thỏa
thuận nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Đó cũng là quan niệm chung nhất về
nguyên tắc quyền tự định đoạt được nhiều luật gia trên thế giới chia sẻ. Nguyên tắc
quyền quyết định và tự định đoạt của các chủ thể trong giao kết dân sự là một trong
những nguyên tắc cốt lõi, đặc trưng nhất của Luật dân sự. Việc ghi nhận thủ tục
yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án xuất phát từ việc tôn trọng
quyền tự định đoạt của các chủ thể trong giao kết, thỏa thuận dân sự. Theo đó, các
chủ thể của quan hệ dân sự có quyền tự do, tự nguyện, bình đẳng trong việc thiết
lập các quyền và nghĩa vụ dân sự phục vụ cho lợi ích của mình phù hợp với lợi ích
chung của xã hội. Các chủ thể có quyền tự do quyết định việc tham gia vào quan
hệ pháp luật dân sự, quyết định nội dung của quan hệ (các quyền và nghĩa vụ của
các bên), quyết định các phương thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ, quyết định
cách thức, biện pháp để giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp các chủ thể đã
giải quyết được tranh chấp bằng con đường thỏa thuận và muốn sự thỏa thuận đó
có giá trị về pháp lý nên đã yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận. Khi giải quyết
yêu cầu này, Tòa án thực chất chỉ kiểm tra tính hợp pháp của sự thỏa thuận và ghi
nhận sự thỏa thuận đó bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật. Như vậy, việc
giải quyết không mất nhiều thời gian và có thể kết thúc bằng một thủ tục đơn giản,
nhanh gọn.


21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status