Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự qua thực tiễn tỉnh thanh hóa - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HOÀN

KIÓM S¸T VIÖC TU¢N THEO PH¸P LUËT
CñA VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N TRONG Tè TôNG D¢N Sù QUA THùC TIÔN TØNH THANH HãA

Chuyên ngành: Lí luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. HOÀNG THỊ KIM QUẾ

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm
bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các
môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định
của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN


1.3.2.

Nội dung thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự ............................................17

1.3.3.

Vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự .........................................38

1.4.

Vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
của Viện kiểm sát nhân dân đối với công cuộc cải cách tư
pháp, bảo vệ quyền con người, quyền công dân....................................39

1.5.

Đặc điểm của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của
Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự .......................................48

Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC TUÂN
THEO PHÁP LUẬT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ ...................................................................52
2.1.

Thực trạng chung của công tác kiểm sát trong tố tụng dân sự ...........52

2.1.1.

Kết quả đạt được ........................................................................................53

Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân
sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa ....................................72

2.3.1.

Trong năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa thực
hiện công tác kháng nghị trong tố tụng dân sự ..........................................75

2.3.2.

Những đóng góp của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
trong công tác xây dựng ngành ..................................................................90

Chương 3: GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT VIỆC
TUÂN THEO PHÁP LUẬT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ ........................................................95
3.1.

Những giải pháp cơ bản về đảm bảo hiệu quả kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự ............95

3.1.1.

Hoàn thiện pháp luật về hoạt động tư pháp phù hợp với Hiến pháp
năm 2013 và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.........................................95

3.1.2.

Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo
đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên làm công tác

Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định:
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự; với việc ban hành Bộ luật tố
tụng dân sự sửa đổi chức năng kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự của Viện
kiểm sát nhân dân có sự điều chỉnh; thẩm quyền phạm vi tham gia tố tụng của Viện
kiểm sát được xác định cụ thể và rộng hơn so với trước, đặc biệt mở rộng phạm vi
tham gia các phiên toà xét xử dân sự sơ thẩm, phúc thẩm.
Một trong những điểm sửa đổi bổ sung lớn nhất của Bộ luật tố tụng dân sự
lần này là mở rộng phạm vi trách nhiệm tham gia phiên toà, phiên họp giải quyết vụ
việc dân sự của Viện kiểm sát, theo đó Viện kiểm sát có trách nhiệm phải tham gia
phiên toà sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự trong 4 trường hợp: những vụ án dân sự
do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ; những vụ án dân sự có đối tượng tranh chấp
là tài sản công, lợi ích công cộng; quyền sử dụng đất, nhà ở; đương sự là người
chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần; Viện kiểm sát tham gia
tất cả các phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, phiên toà, phiên họp phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự.

1


Từ những lý do đã phân tích trên, học viên xin chọn đề tài “Kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự - qua thực
tiễn tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài Luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây đã có một số công trình khoa học cấp nhà nước,
cấp bộ, luận án thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự …
Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung có hiệu lực ngày
01/01/2012 đã mở rộng phạm vi, thẩm quyền tham gia tố tụng của Viện kiểm sát
nhân dân. Vì vậy, có khá nhiều bài viết về vấn đề này nhưng chưa có công trình
khoa học nào nghiên cứu đầy đủ về nội dung mới sửa đổi bổ sung này.

phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám đốc
thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự.
- Thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi quyền hạn, trách nhiệm của Viện
kiểm sát có sự thay đổi, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác kiểm sát việc giải
quyết các vụ, việc dân sự. Bước đầu, tuy còn nhiều khó khăn nhưng Viện kiểm sát
đã nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ.
- Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra một số phương hướng và giải pháp khoa
học, phù hợp với điều kiện thực tiễn để việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Viện
kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng yêu cầu
của công cuộc cải cách tư pháp, hi vọng luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu
cho các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, giảng dạy.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm
sát nhân dân trong tố tụng dân sự
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện
kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
Chương 3: Giải pháp đảm bảo hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật của
Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

3


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Vị trí, vai trò, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tổ chức
bộ máy nhà nước
Ngày 28/11/2013, Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 6 đó thông qua Hiến pháp

của các cơ quan tư pháp nói chung, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân. Đây chính
là thước đo sự tiến bộ của nền tư pháp. Xác định rõ trách nhiệm của Viện kiểm sát
nhân dân khi thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp chính là
nhằm bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tôn
trọng và chấp hành nghiêm chỉnh trong đời sống xã hội.
Thực hành quyền công tố hiểu một các khái quát là hoạt động nhằm phát
hiện tội phạm, truy tố người phạm tội ra Tòa, yêu cầu Tòa án xét xử và áp dụng
hình phạt đối với họ. Kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm tra, giám sát việc thực
hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, bao gồm kiểm sát các hoạt động
khởi tố,điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bổ trợ tư pháp... Kiểm tra, giám sát việc
thực hiện quyền lực nhà nước nói chung và thực hiện quyền lực trong lĩnh vực tư
pháp nói riêng ở Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hoạt động có
tính tất yếu, khách quan, xuất phát từ nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát
quyền lực đó được khẳng định trong Hiến pháp. Chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp thực chất là để bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo
đảm cho Hiến pháp và pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo
đảm mọi tội phạm và vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện, xử lý kịp thời,
không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, bảo đảm việc
giải quyết các vụ án đúng pháp luật, nghiêm minh.
Hiến pháp khẳng định trong điều kiện cụ thể của nước ta cần thiết phải duy
trì Viện kiểm sát là một hệ thống cơ quan độc lập, có chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp đúng theo
nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước "Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự
phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp" [8]. Đảng, Quốc hội và nhân dân cần một thiết chế

5


giám sát độc lập, hoạt động trực tiếp, thường xuyên, có hiệu quả cao như Viện kiểm

6


Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt
động tư pháp.
Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
các Viện kiểm sát khác do luật định.
Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo
đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [8, Điều 107].
Như vậy, tiếp tục duy trì Viện kiểm sát nhân dân với tính cách là một hệ
thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước với hai chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, đồng thời có các cơ chế pháp lý để tăng
cường hiệu lực, hiệu quả các khâu công tác kiểm sát hoạt động tư pháp chính là
biện pháp quan trọng góp phần thúc đẩy các cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát
việc thực hiện quyền lực nhà nước theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Xã
hội chủ nghĩa ở đất nước ta.
Tuy nhiên để Đảng, Nhà nước, Quốc hội và nhân dân tiếp tục ghi nhận chức
năng, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp sửa đổi thì toàn ngành và
mỗi cán bộ, kiểm sát viên cần thấy rõ hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ và có các biện pháp cụ thể để tiếp tục nâng cao hơn nữa
chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
nhằm đáp ứng với yêu cầu của cải cách tư pháp và mục đích xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh
bảo vệ pháp luật, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhà nước và các quyền, lợi ích chính đáng của
công dân. Một trong những biện pháp trước mắt cũng như lâu dài là phải xây dựng
đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp
luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm. Đó cũng là mục tiêu mà cán bộ,
kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân cần quyết tâm phấn đấu để đạt được.

có quyền kiểm sát các phạm vi do luật định.
Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là 5 năm.
Tổ chức của các Viện kiểm sát nhân dân do luật định.
Viện kiểm sát nhân dân các cấp chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm
sát nhân dân cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân
dân tối cao.

8


Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác
trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và
báo cáo công tác trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội [8, Điều 105-108].
Như vậy, theo Hiến pháp năm 1959, Viện kiểm sát nhân dân có một chức
năng hoàn toàn mới, khác hẳn với Viện Công tố trước kia là kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa
phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân, mở ra một trang mới trong
sự phát triển hệ thống tư pháp nước ta nói chung và Viện kiểm sát nói riêng
Hiến pháp năm 1980 quy định về Viện kiểm sát như sau:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm
sát các hoạt động tư pháp việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các Cơ
quan ngang Bộ, các Cơ quan khác thuộc Chính phủ, các Cơ quan chính
quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân
dân và công dân, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh
và thống nhất.
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự
kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi
trách nhiệm do luật định [8, Điều 138].
Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định về Viện kiểm sát:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm

hoạt động xét xử - một loại hình của kiểm sát quyền lực, điều này phù hợp với thể
chế nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nơi quyền lực nhà nước cao
nhất thuộc về Quốc hội. Về nguyên tắc, chính Quốc hội mới là cơ quan toàn quyền
kiểm sát, giám sát hoạt động xét xử. Để thực hiện quyền hạn của mình, Quốc hội,
ngoài mình tự mình tiến hành các hoạt động kiểm sát, còn lập ra và giao nhiệm vụ
kiểm sát quyền lực cho một số thiết chế độc lập, trong đó có Viện kiểm sát. Viện
kiểm sát giúp Quốc hội thực hiện hoạt động kiểm sát tư pháp.
Kiểm sát xét xử là việc thực hiện kiểm sát quyền lực tư pháp từ bên ngoài,
do cơ quan có thẩm quyền được Quốc hội lập ra thực hiện. Do đó, hoạt động kiểm
sát xét xử là nhân danh Quốc hội- cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và kết quả
của hoạt động này là phải báo cáo Quốc hội. Quyền kiểm sát hoạt động xét xử được
giao cho Viện kiểm sát nhân dân.

10


Xét về khía cạnh lịch sử lập pháp: Hiến pháp năm 1946, Cơ quan Công tố
được tổ chức theo sắc lệnh của Chính phủ, theo Sắc lệnh nói trên thì Cơ quan Công
tố nằm trong cơ cấu tổ chức của Tòa án, do bộ Tư pháp quản lý. Ngay trong cơ cấu
này thì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật cũng được thể hiện đó là các
Công tố viên có quyền giám sát công tác điều tra của Tư pháp cảnh sát, kiểm soát
công việc quản trị lao tù, có quyền kháng cáo bản án hình sự đã tuyên, riêng người
đứng đầu Viện Công tố của Tòa Thượng thẩm (Chưởng lý) còn có cả nhiệm vụ
giám sát việc thi hành các đạo luật, Sắc lệnh và quy tắc hiện hành trong quản hạt
của mình. Tại kỳ họp thứ 8 Quốc Hội khóa I, Quốc hội đã quyết định Viện Công tố
Trung ương trực thuộc Chính phủ được thành lập trên cơ sở tách bộ phận Công tố
trực thuộc Tòa án. Tuy nhiên ngay cả mô hình này thì Viện Công tố cũng đã có
những nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật như giám sát việc chấp hành pháp
luật của Cơ quan điều tra, giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác xét xử
của Tòa án, giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án hình

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… là những chủ thể tham gia tố
tụng. Trong trường hợp này chúng ta có một tố tụng dân sự theo nghĩa hẹp: một Tòa
án cụ thể, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng cụ thể, những
hành vi tố tụng cụ thể…ví dụ: hành vi nộp đơn khởi kiện và thụ lý đơn khởi kiện,
hành vi thu thập, xuất trình chứng cứ, hành vi khiếu nại, kháng cáo phúc thẩm của
đương sự… những quan hệ pháp luật tố tụng cụ thể, một thời gian giải quyết được ấn
định cụ thể, tức là có một trình tự thủ tục để giải quyết một vụ án cụ thể. Thông
thường, có bao nhiêu vụ án dân sự có bấy nhiêu "tố tụng dân sự", đó cũng là quan
niệm đơn giản nhất về tố tụng dân sự được nhiều luật gia chia sẻ.
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định:
Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng dân sự
Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố
tụng dân sự; trình tự thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về
tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự thủ tục yêu cầu để
Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự,
thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ

12


việc dân sự) tại Tòa án; thi hành án dân sự; nhiệm vụ; quyền hạn và trách
nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham
gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ
chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị
xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp (sau đây
gọi chung là cơ quan, tổ chức) có liên quan nhằm bảo đảm cho việc giải
quyết các vụ, việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và
đúng pháp luật [11, Điều 1].

hành vi dân sự.
2. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và
quản lý tài sản của người đó.
3. Yêu cầu tuyên bố một người mất tích, hủy bỏ quyết định tuyên
bố một người mất tích… [11, Điều 26]
Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án:
1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn
4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho
cha mẹ
… [11, Điều 27]
Những yêu cầu về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
3. Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi
con sau ly hôn
4. Yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên
hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn… [11, Điều 28]
Như vậy, khi có một quan hệ pháp luật dân sự nảy sinh trong thực tế, người
dân có quyền đề nghị các cơ quan pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình, Tòa án là một trong các cơ quan pháp luật được nhà nước quy định có trách
nhiệm cùng với Viện kiểm sát và các cơ quan nhà nước khác tiến hành giải quyết

14


các quan hệ pháp luật có tranh chấp, hoặc yêu cầu theo một quy trình tố tụng chặt
chẽ tại Bộ luật tố tụng dân sự.


Việt Nam. Hiến pháp sửa đổi lần này đó đổi mới cả về nội dung và kỹ thuật lập
hiến; thể chế hóa sâu sắc và toàn diện chủ trương đổi mới của Đảng trên các lĩnh
vực; trong đó tư tưởng về con người, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con
người, quyền công dân được xác định là tư tưởng đổi mới chủ đạo của Hiến pháp, là
mục tiêu hướng đến của các thiết chế trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Tuyệt đối tránh việc lạm dụng các biện pháp hạn chế quyền con người,
quyền công dân thay cho các biện pháp thu thập chứng cứ khách quan. Bảo đảm
dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người,
quyền công dân phải trở thanh mục tiêu và động lực hướng tới của các cơ quan tư
pháp nói chung, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân. Đây chính là thước đo sự tiến
bộ của nền tư pháp.
Xác định rõ trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp chính là nhằm bảo vệ Hiến pháp và pháp
luật, bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm
chỉnh trong đời sống xã hội.
Thực hành quyền công tố hiểu một các khái quát là hoạt động nhằm phát
hiện tội phạm, truy tố người phạm tội ra Tòa, yêu cầu Tòa án xét xử và áp dụng
hình phạt đối với họ. Kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm tra, giám sát việc thực
hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, bao gồm kiểm sát các hoạt động
khởi tố,điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bổ trợ tư pháp... Kiểm tra, giám sát việc
thực hiện quyền lực nhà nước nói chung và thực hiện quyền lực trong lĩnh vực tư
pháp nói riêng ở Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hoạt động có
tính tất yếu, khách quan, xuất phát từ nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát
quyền lực đó được khẳng định trong Hiến pháp. Chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp thực chất là để bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo
đảm cho Hiến pháp và pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo
đảm mọi tội phạm và vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện, xử lý kịp thời,
không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, bảo đảm việc
giải quyết các vụ án đúng pháp luật, nghiêm minh.

quan trọng, tạo cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất sửa đổi, bổ sung trong Dự án Luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Dự án Bộ luật tố tụng hình sự.
1.3.2. Nội dung thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự

17


Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân quy định về thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân.
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có
nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa, và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà
nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và
nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của
nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải
được xử lý theo pháp luật [9, Điều 1-2].
Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng những công tác
sau đây:
….
Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình,
hành chính, kinh tế, lao động, và những việc khác theo quy định của
pháp luật.

Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân
dân có quyền ra quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu và chịu trách
nhiệm trước pháp luật về các văn bản đó…
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự,

d) Quyết định tha đổi Kiểm sát viên;
đ) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản
án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này;
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy đinh của Bộ luật này [11, Điều 44].
Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên
Khi được phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động
tố tụng dân sự, Kiểm sát viên có những có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án
dân sự, giải quyết việc dân sự của Tòa án;
2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng;
3. Kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án;

19


4. Tham gia phiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết
việc dân sự theo quy định của Bộ luật này và phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát về việc giải quyết vụ việc dân sự;
5. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của Viện
kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát [11, Điều 45].
Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân
sự, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Kiểm sát việc thông báo thụ lý vụ việc dân sự của Toà án.
2. Tham gia phiên toà, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự ở các thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
3. Tham gia hỏi đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại các
phiên toà, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ
việc dân sự.
4. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên toà, phiên họp của Hội đồng
xét xử và những người tham gia tố tụng.

lập phiếu kiểm sát theo dõi vi phạm để tổng hợp kiến nghị với Toà án các vi phạm
về thời hạn gửi thông báo, nội dung, hình thức thông báo; theo dõi quyết định
chuyển vụ án của Toà án [22, Điều 6].
Tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự ở cấp sơ thẩm, phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
Tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự ở cấp sơ thẩm:
- Tham gia phiên toà sơ thẩm:
Theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự thì việc tham gia phiên tòa của Viện
kiểm sát nhân dân như sau:
+ Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với
các việc dân sự;
+ Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên tòa sơ thẩm đối với
những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh
chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có
một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể
chất, tâm thần...
+ Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm [11, Điều 21, Khoản 2, 3].

21


Trích đoạn Công tác kiểm sát việc thụ lý giải quyết các vụ, việc dân sự Những hạn chế, nhược điểm và nguyên nhân Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân Trong năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa thực Những đóng góp của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status