Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân
sự (qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa). Lê Trung Kiên Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Khoa Luật
Chuyên ngành: Lý luận lịch sử Nhà nước và pháp luật; Mã số: 60.38.01.
Người hướng dẫn: GS. TSKH. Đào Trí Úc.
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án
dân sự (THADS ) trong điều kiện ở nước ta hiện nay. Đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nước
trong lĩnh vực THADS và đưa ra một số nguyên nhân của thực trạng đó. Kiến nghị những giải
pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy công tác THADS nói
riêng và hoạt động thi hành án nói chung để đạt hiệu quả cao hơn.
Keywords: Thi hành án; Pháp luật Việt Nam; Tố tụng dân sự; Thanh Hóa; Vụ án dân sự
Content.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thi hành án dân sự (THADS) là hoạt động của Nhà nước để đưa bản án, quyết định dân sự đã có hiệu
lực pháp luật của Tòa án, của các cơ quan có thẩm quyền khác được tôn trọng và thực hiện trên thực tế
nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ
cương, phép nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN). Chính vì vậy, thi hành án nói chung,
THADS nói riêng đã trở thành một nguyên tắc hiến định được ghi nhận tại Điều 136 Hiến pháp 1992 sửa
đổi bổ sung năm 2001 và Điều 4 Luật THADS.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc Hội khóa IX ngày 06/10/1992 và Pháp lệnh THADS năm 1993, công
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực THADS hiện nay; Đánh giá
đúng đắn, toàn diện thực trạng vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực THADS và nguyên nhân của thực
trạng đó; kiến nghị những giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy công
tác THADS đạt hiệu quả cao hơn.
- Giới hạn:
Vấn đề đặt ra chỉ giới hạn trong những nội dung cơ bản về vai trò của Nhà nước đối với lĩnh vực
THADS để tìm ra giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước, góp phần hoàn thiện hoạt động thi hành án
nói chung và THADS nói riêng trong điều kiện nước ta hiện nay.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối, chính
sách của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phương pháp nghiên cứu gồm: Phân tích, tổng hợp, lịch sử,
luật học so sánh để tiếp cận, nghiên cứu những vấn đề thuộc nội dung của đề tài.
5. Điểm mới của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, thực trạng, nguyên nhân và đưa
ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao vai trò của Nhà nước cũng như hiệu quả công tác trong lĩnh vực
thi hành án nói chung, THADS nói riêng.
6. Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu
Hiện nay, hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của Nhà nước trong lĩnh
vực THADS. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu về vai trò của Nhà nước và quản lý nhà nước đối với hoạt động thi hành án; sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập và đặc biệt là cho việc từng bước hoàn thiện pháp luật về thi
hành án trong bối cảnh hiện nay ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự.
Chương 2: Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự ở Thanh Hóa hiện nay.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự
tại Thanh Hóa.
Chương 1
Quan hệ THADS luôn tồn tại ba chủ thể bắt buộc là cơ quan THADS, Chấp hành viên và các bên
đương sự (người phải thi hành án, người được thi hành án) hình thành trên cơ sở thi hành các bản án,
quyết định của Tòa án và các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Cơ
quan THADS và Chấp hành viên là chủ thể thực hiện quyền lực Nhà nước để thi hành bản án, quyết định
theo quy định. Về nguyên tắc, tính chủ động, độc lập của Chấp hành viên trong hoạt động nghiệp vụ luôn
được tôn trọng, bảo vệ.
1.1.2.3. Đảm bảo quyền yêu cầu, tự nguyện và thỏa thuận thi hành án của các bên đương sự
Xuất phát từ nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận, bình đẳng, hòa giải trong quan hệ dân sự. Ngoài
những trường hợp phải chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định, cơ quan thi hành án chỉ tổ chức
thi hành án trên cơ sở yêu cầu của người phải thi hành án, người được thi hành án, đồng thời phải tôn
trọng và đảm bảo cho các bên đương sự thực hiện quyền thỏa thuận và tự nguyện thi hành án.
1.1.2.4. Trình tự, thủ tục thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Trình tự, thủ tục THADS là một cơ chế chặt chẽ theo quy định của pháp luật THADS nhằm phục vụ cho
chức năng thi hành án. Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, thủ tục THADS phải đảm bảo tính chính xác
cao độ, bởi lẽ hoạt động thi hành án là để hiện thực hóa quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ
THADS, vì vậy, nếu cơ quan thi hành án, Chấp hành viên áp dụng pháp luật THADS không chính xác sẽ dẫn
đến hậu quả thực tế rất khó khắc phục.
1.2. Quản lý nhà nƣớc đối với lĩnh vực thi hành án dân sự
1.2.1. Sơ lược lịch sử quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự
- Thời Pháp thuộc;
- Giai đoạn từ năm 1945 đến 1993;
- Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2004;
- Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2009;
- Giai đoạn từ năm 2009 đến nay.
1.2.2. Khái niệm chung về quản lý nhà nước
Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhưng tóm lại, quản lý là sự tác động lên một
hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ thống đó đến trạng thái cần đạt được. Quản lý là một phạm trù xuất
hiện trước khi có Nhà nước, được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động. Như vậy, quản lý xã
hội không phải là sản phẩm của sự phân chia quyền lực, mà là sản phẩm của sự phân công lao động nhằm
liên kết và phối hợp hoạt động chung của con người.
1.2.6. Nội dung cụ thể và thủ tục quản lý nhà nước đối với lĩnh vực thi hành án dân sự
Hiện nay, theo quy định của Luật THADS năm 2008 và các văn bản hướng dẫn, nội dung và thủ tục
quản lý THADS được quy định như sau:
a. Quản lý về mặt tổ chức, cán bộ
Hiện nay cơ quan THADS được chia làm hai loại: Cơ quan quản lý THADS gồm Tổng cục THADS
thuộc Bộ Tư pháp, Cục thi hành án trực thuộc Bộ Quốc phòng; Cơ quan THADS gồm: Cục THADS cấp
tỉnh trực thuộc Tổng cục THADS, Chi cục THADS cấp huyện trực thuộc Cục THADS cấp tỉnh và phòng
thi hành án quân khu và tương đương là cơ quan thi hành án trực thuộc quân khu.
b. Quản lý về cơ sở vật chất
Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS và các cơ quan THADS địa phương theo thẩm quyền được phân cấp
sẽ ban hành hoặc thực hiện các chế độ chính sách cụ thể, các văn bản hướng dẫn về công tác bảo đảm cơ
sở vật chất cho Ngành THADS.
c. Quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ
Tổng cục THADS có nhiệm vụ quản lý về mặt chuyên môn, nghiệp vụ công tác THADS trong phạm
vi toàn quốc, Cục THADS tỉnh quản lý, chỉ đạo về nghiệp vụ THADS trên địa bàn. Cục thi hành án - Bộ
Quốc phòng giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện chức năng quản lý nghiệp vụ THADS trong quân
đội. Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện, Tư lệnh quân khu và tương đương có trách nhiệm chỉ
đạo việc tổ chức phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong THADS trên địa bàn, chỉ đạo việc cưỡng chế
thi hành các vụ án lớn, phức tạp. Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Chấp hành viên
trong việc xác minh, áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS…
d. Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự
e. Xử lý vi phạm và các hình thức trách nhiệm trong lĩnh vực thi hành án dân sự.
Hoạt động THADS chủ yếu là hoạt động xử lý tài sản, do đó nguy cơ dẫn đến vi phạm trong hoạt
động nghiệp vụ của cán bộ, Chấp hành viên trong ngành là tương đối cao. Thực tiễn công tác THADS
trong phạm vi toàn quốc thời gian qua phát sinh không ít các vụ việc vi phạm, đây là vấn đề gây nhiều
quan ngại đối với dư luận xã hội. Để nâng cao vai trò của Nhà nước đối với lĩnh vực THADS, bên cạnh
các yếu tố khác, Nhà nước cần phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát… có cơ chế nhạy
bén để sớm phát hiện sai phạm và kịp thời xử lý nghiêm các sai phạm, đồng thời áp dụng các hình thức
trách nhiệm, các chế tài pháp lý thích đáng đối với các vi phạm đó.
1.2.7. Chủ thể quản lý
Chương 2
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở THANH HÓA HIỆN NAY
2.1. Thực trạng hoạt động thi hành án dân sự tại Thanh Hóa
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Đặc điểm tự nhiên:
Thanh Hóa là tỉnh bắc miền Trung, có diện tích tự nhiên 11.134,73 km
2
, đồi núi chiếm 3/4 diện tích
của tỉnh. Thanh Hóa nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nền nhiệt cao, thời tiết khí hậu đã gây ra không ít
khó khăn (khô hạn, bão lụt, rét đậm) cho sản xuất và đời sống, đặc biệt là giao thông đi lại giữa các vùng
trong tỉnh.
Đặc điểm kinh tế - xã hội:
Tỉnh Thanh Hóa gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 24 huyện, trong đó có 11 huyện miền núi; gồm 637 xã,
phường, thị trấn. Năm 2010, dân số của tỉnh là 3,4 triệu người (lớn thứ 3 trong cả nước), gồm 7 dân tộc.
Thanh Hóa là tỉnh có các tuyến giao thông quan trọng đi qua. Giai đoạn 2006 - 2010, nền kinh tế của tỉnh duy
trì được tốc độ tăng trưởng khá, bình quân đạt 11,3%, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 810 USD.
Trong những năm qua, môi trường đầu tư trong tỉnh đã được cải thiện, kết cấu kinh tế - xã hội được tăng
cường mạnh mẽ, thu ngân sách hằng năm luôn vượt mức dự toán, nền kinh tế từng bước phát triển năng
động, đời sống của nhân dân trong tỉnh được nâng cao.
2.1.2. Sơ lược quá trình tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự tại Thanh Hóa
Tác giả luận văn sơ lược quá trình tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự tại Thanh Hóa theo ba giai đoạn:
- Từ ngày 01/7/1993 đến ngày 30/6/2004.
- Từ ngày 01/7/2004 đến ngày 30/6/2009.
- Từ ngày 01/7/2009 đến nay.
2.1.3. Thực trạng hoạt động thi hành án dân sự tại Thanh Hóa
2.1.3.1. Hoạt động nghiệp vụ Thi hành án dân sự
Qua khảo sát tại Cục THADS tỉnh Thanh Hóa từ năm 2007 đến hết tháng 8 năm 2011, kết quả hoạt
động nghiệp vụ THADS như sau: các chỉ tiêu thi hành án về việc đã đạt được những kết quả khả quan nhất
xuyên, đồng đều
2.1.3.4. Về cơ sở vật chất
Hiện nay các cơ quan THADS trong toàn tỉnh đã được quan tâm, đầu tư đúng mức. Hầu hết các trụ sở làm
việc được xây dựng khang trang, hiện đại, tiêu biểu như trụ sở làm việc của Chi cục THADS thành phố Thanh
Hóa; Quảng Xương, Đông Sơn… các cụm công trình làm việc và kho vật chứng được xây dựng tại các đơn vị như
Tĩnh Gia, Thọ Xuân, Thường Xuân, Hoằng Hóa Trang thiết bị, phương tiện làm việc được nâng cấp, các đơn vị
đều có xe công (1-2 xe máy cho mỗi Chi cục; 03 ô tô cho Cục), cấp kinh phí thường xuyên và bổ sung đảm bảo, đã
tạo điều kiện vật chất cần thiết để thúc đẩy hoạt động thi hành án đạt hiệu quả cao.
Tuy nhiên, còn một số trụ sở làm việc của các đơn vị thi hành án trong tỉnh đã cũ, xuống cấp, chật hẹp,
không đáp ứng được yêu cầu công việc. Công tác xây dựng và triển khai kế hoạch xây dựng trụ sở làm việc,
kho tàng còn chậm. Việc thanh, quyết toán một số công trình xây dựng không kịp thời. Tài sản của một số đơn
vị thi hành án trong tỉnh do quản lý, sử dụng không tốt đã xuống cấp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin
trong công tác THADS còn yếu. Tại một vài Chi cục có biểu hiện vi phạm trong việc thực hiện chế độ quản lý,
sử dụng kinh phí
2.1.3.5. Hoạt động phối hợp trong THADS và vai trò chỉ đạo của Ban Chỉ đạo THADS các cấp
Từ khi có Luật THADS, hoạt động phối hợp trong THADS đã được tăng cường về số lượng, nâng
cao về chất lượng. Việc củng cố kiện toàn Ban Chỉ đạo THADS cũng được cấp ủy, chính quyền các cấp
quan tâm, chỉ đạo và hầu hết các đơn vị THADS trong tỉnh chủ động tham mưu kịp thời.
Tuy nhiên, hoạt động phối hợp trong THADS vẫn còn không ít những khó khăn, vướng mắc như: có
không ít các cơ quan, trong không ít những vụ việc thực hiện phối hợp THADS còn mang tính chất hình thức,
miễn cưỡng. Một số phương tiện thông tin đại chúng do không kiểm tra, biên tập kỹ nên đã đăng bài viết về
một số việc cưỡng chế THADS trong tỉnh thiếu khách quan, thiếu kiến thức pháp luật. Còn một số địa
phương chưa kiện toàn được Ban Chỉ đạo THADS. Hoạt động của Ban Chỉ đạo THADS vẫn chưa được
chủ động và thường xuyên. Không ít các thành viên của Ban Chỉ đạo THADS tham gia mang tính hình thức,
không biết và chưa được phân công làm việc gì
2.2. Thực trạng vai trò của Nhà nƣớc và quản lý nhà nƣớc đối với lĩnh vực thi hành án dân sự
tại Thanh Hóa
2.2.1. Thực trạng pháp luật về thi hành án dân sự tại Thanh Hóa hiện nay
Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển của hoạt động THADS thể hiện rõ nhất trong việc hoạch định, ban
hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về THADS. Hiện nay, Luật THADS năm 2008 và các văn bản
- Về khách quan.
2.2.2.2. Quản lý nhà nước về tổ chức cán bộ
Triển khai quy định của pháp luật trong tình hình mới, các chủ thể có thẩm quyền quản lý nhà nước về công
tác tổ chức, cán bộ lĩnh vực THADS đã thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm kiện toàn bộ máy, từng bước
đảm bảo cơ cấu chức danh quản lý, chức danh chuyên môn, làm tốt công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng,
điều động, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, công chức ngành THADS tỉnh; kiên quyết xử lý cán bộ, công chức có
biểu hiện vi phạm nhằm chấn chỉnh kỷ cương, tăng cường kỷ luật để xây dựng bộ máy hoạt động hiệu quả theo
quy định, đồng thời nâng cao toàn diện chất lượng cán bộ, công chức trong Ngành.
Dù vậy, công tác tổ chức cán bộ của ngành THADS tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế, khó khăn về cả tổ
chức, bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ cũng như phương pháp, hiệu quả tiến hành công tác tổ chức,
cán bộ. Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu từ vai trò còn hạn chế của Nhà
nước trong lĩnh vực THADS.
2.2.2.3. Quản lý nhà nước về cơ sở vật chất
Trong những năm qua, cơ sở vật chất của ngành THADS đã được đầu tư, nâng cấp. Tuy vậy, việc
triển khai xây dựng, sửa chữa một số công trình trụ sở làm việc, kho vật chứng còn chậm, chất lượng
công trình chưa đảm bảo; việc quản lý cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động chưa chặt chẽ, thủ tục cấp phát
kinh phí vẫn rườm rà, chính sách đãi ngộ cán bộ chưa thực sự thỏa đáng. Hơn nữa, ngành chủ quản chưa
tăng cường hướng dẫn, kiểm tra việc cấp phát, sử dụng kinh phí, quản lý cơ sở vật chất của các đơn vị cơ sở,
do trình độ của công chức làm kế toán và chủ tài khoản còn hạn chế, ý thức trách nhiệm chưa cao nên tại một
số Chi cục, cơ sở vật chất đang trong tình trạng xuống cấp, thậm chí có đơn vị sử dụng kinh phí tùy tiện, sai
nguyên tắc đã bị xử lý kỷ luật.
2.2.2.4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự
Trong năm 2011 Cục thi hành án tỉnh đã tổ chức tập huấn về công tác tiếp dân và giải quyết khiếu
nại, tố cáo, tiến hành kiểm tra đối với 14 Chi cục THADS trong tỉnh. Chính vì vậy, chỉ tính riêng năm
2011, trong phạm vi toàn tỉnh không có đơn thư khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài, đã tiếp nhận 74 đơn
khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị…, đã xử lý giải quyết 74/74 đơn.
Thế nhưng, hiện nay về cơ sở vật chất phục vụ cho công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo tại
Cục THADS tỉnh vẫn chưa đảm bảo (không có phòng tiếp dân). Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo tại cơ
sở còn hạn chế, năng lực của cán bộ được giao phụ trách công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa thực sự đáp
ứng được yêu cầu, vì vậy vẫn còn những quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của các Chi cục, bị cấp trên
HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI THANH HÓA
3.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự
Trên cơ sở đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Qua thực
tiễn hoạt động THADS tại tỉnh Thanh Hóa, để không ngừng đổi mới và hoàn thiện pháp luật về THADS,
chúng tôi có một số ý kiến sau:
Trước hết, Nhà nước cần đẩy mạnh công tác tập hợp hóa, pháp điển hóa hệ thống pháp luật về
THADS để rà soát, đối chiếu loại bỏ những quy phạm, những văn bản pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo,
kịp thời bổ sung những văn bản pháp luật điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực THADS đang
còn bỏ trống, đảm bảo xây dựng hệ thống pháp luật về thi hành án đồng bộ, thống nhất, khả thi, công
khai, minh bạch. Mặt khác, cần ban hành một Bộ luật chung về thi hành án. Trong đó, có phạm vi điều
chỉnh bao quát toàn diện các lĩnh vực thi hành án dân sự, hình sự, hành chính, quy định tập trung một đầu
mối quản lý thống nhất hoạt động thi hành án. Cũng cần phải hoàn thiện các văn bản pháp luật điều chỉnh
hoạt động giám sát thi hành án, vấn đề xã hội hóa công tác THADS và chế độ, chính sách đối với cán bộ,
công chức trong Ngành.
3.2. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức ngành
thi hành án dân sự
Những định hướng, giải pháp trong phạm vi toàn Ngành: Xây dựng mô hình cơ quan thi hành án
thống nhất, chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ các hoạt động THADS, hình sự, hành chính…giao cho Bộ Tư
pháp quản lý chung; Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để điều chỉnh hệ thống tổ chức cơ quan THADS phù
hợp với mô hình của các cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án, Viện kiểm sát…, nhất là vấn đề tổ chức cơ
quan THADS khu vực để thi hành các Bản án, Quyết định sơ thẩm của Tòa án khu vực; Tăng cường công tác
tổ chức, cán bộ trên các phương diện như rà soát cán bộ, công tác tuyển dụng, đào tạo, điều động, đề bạt, công
tác kỷ luật, chế độ đãi ngộ, việc kiện toàn bộ máy…
Đối với Ngành Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa: Cần chủ động tham mưu cho Ban Thường vụ
Tỉnh ủy, UBND tỉnh tăng cường công tác xây dựng thể chế; kiện toàn Ban chỉ đạo thi hành án, bổ sung cán
bộ chủ chốt hiện còn thiếu, đẩy mạnh công tác quản lý Ngành, chủ động, thường xuyên thực hiện có hiệu
quả công tác giám sát, kiểm tra, xây dựng và quản lý tốt trang Wep… Có chính sách thu hút cán bộ cho
các đơn vị miền núi, triển khai thực hiện công tác điều động, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ khách quan, công
khai phù hợp với quy hoạch.
3.3. Tăng cƣờng đầu tƣ cơ sở vật chất, hoàn thiện chế độ chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức,
lượng trong toàn tỉnh. Tổ chức đường dây nóng để lắng nghe sự phản ánh của cán bộ và nhân dân trong tỉnh
về hoạt động THADS. Đẩy mạnh hoạt động giám sát trong lĩnh vực THADS. Tiếp tục kiện toàn mạnh mẽ
Ban Chỉ đạo thi hành án các cấp theo quy định. Hoạt động của Ban Chỉ đạo thi hành án cần phải được duy trì
thường xuyên và có chất lượng, phân công nhiệm vụ rõ ràng và có cơ chế bồi dưỡng, cơ chế phối hợp tốt cho
các thành viên của Ban Chỉ đạo Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, tập huấn pháp
luật về THADS hiện hành. Phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa cơ quan thi hành án với các cơ quan hữu quan,
các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động thi hành án. Tích cực xác minh, phân loại án, đề cao công tác
hòa giải, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành, kiên quyết cưỡng chế những đối tượng có
điều kiện nhưng cố tình chây ỳ, chống đối việc thi hành án. Đẩy mạnh công tác xét miễn, giảm thi hành án.
Biệt phái Chấp hành viên cấp tỉnh xuống chỉ đạo những đơn vị yếu kém. Tổ chức học tập kinh nghiệm của
một số đơn vị thi hành án có thành tích xuất sắc, cách làm hay, hiệu quả cao. Tiếp tục giải quyết đúng pháp
luật đơn, thư khiếu nại, tố cáo… Đổi mới và nâng cao chất lượng quản lý, điều hành của cơ quan Cục; Ứng
dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong hoạt động THADS; Phát động và thực hiện tốt công tác thi đua,
khen thưởng; Cải tiến chế độ hội họp, tăng cường thời gian hướng về cơ sở.
3.5. Xã hội hóa lĩnh vực thi hành án dân sự
Trong tình hình hiện nay, định hướng phát triển đối với hoạt động xã hội hóa lĩnh vực THADS chúng tôi
có một số ý kiến sau: Xã hội hóa hoạt động THADS phải đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản
lý, điều hành; đảm bảo thực thi cơ chế giám sát của các cơ quan giám sát và của nhân dân; đảm bảo Bản án,
Quyết định có hiệu lực của Tòa án, của các cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định phải được thi hành
nghiêm minh. Xã hội hóa hoạt động THADS cần phải có lộ trình phù hợp tránh tình trạng tổ chức và hoạt
động của các văn phòng Thừa phát lại tràn lan, tùy tiện, tạo điều kiện cho các thế lực "xã hội đen" thao túng,
xem đây là hình thức hợp pháp của việc sử dụng bạo lực để "đòi nợ thuê". Tuy nhiên, qua bước đầu thành
công của hoạt động Thừa phát lại ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà nước cần sớm nhân rộng mô hình Thừa
phát lại tới một số thành phố trọng điểm kinh tế, chính trị trực thuộc Trung ương như Hà Nội, Cần Thơ, Đà
Nẵng, Hải Phòng. Mặt khác, Nhà nước cần tăng cường quản lý, hỗ trợ, nhất là hỗ trợ bằng cách chia sẻ một số
công việc của các cơ quan Tòa án, THADS, hỗ trợ một phần kinh phí, phương tiện hoạt động để các Văn
phòng Thừa phát lại có thời gian tự đứng vững. Nhà nước cần phải hoàn thiện các văn bản pháp luật quy định
về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, quy định thành một chương riêng của Luật THADS. Tiến tới Nhà
nước cần thành lập tổ chức xã hội hoạt động nghề nghiệp của các hoạt động bổ trợ tư pháp đã được xã hội hóa
như công chứng, Thừa phát lại…như mô hình của tổ chức Luật sư để quản lý và tổ chức, hoạt động của các
tăng cường vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực THADS, khắc phục những tồn tại, bất cập, góp phần cải cách
mạnh mẽ hoạt động THADS, thực hiện thắng lợi chủ trương "đẩy mạnh cải cách hành pháp, lập pháp và tư
pháp, đổi mới tư duy và quy trình xây dựng pháp luật, nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật để tiếp tục xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa".
Do thời gian nghiên cứu có hạn và được giới hạn trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ Luật học,
những vấn đề tác giả nêu trong luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả sẽ tiếp tục nghiên
cứu, bổ sung, hoàn thiện trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình.
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội, Cục THADS tỉnh Thanh Hóa và Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc, xin được trân trọng
cảm ơn sự giúp đỡ của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Cục THADS tỉnh Thanh Hóa và Giáo sư, Tiến
sĩ khoa học Đào Trí Úc, cùng toàn thể các thầy, cô thuộc Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
References.
1. Phạm Quốc Anh (2004), "Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về hoạt động tư pháp",
Nhà nước và pháp luật, (9), tr.3-13.
2. Hoàng Thế Anh (2005), Giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Luật học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
3. Bộ Tư pháp (2010), Thông tư số 17/2010/TT-BTP ngày 11/10 quy định phân cấp quản lý công chức,
công chức lãnh đạo cơ quan quản lý thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự, Hà Nội.
4. Bộ Tư pháp (2010), Báo cáo tổng kết công tác tư pháp năm 2010, giai đoạn 2007 - 2010 định hướng
công tác giai đoạn 2011 - 2015, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu công tác tư pháp năm 2011, Hà Nội.
5. Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
(2011), Thông tư liên tịch số 14/2011/TTLT-BTP-BCA-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 11/7 hướng
dẫn hoạt động của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự, Hà Nội.
6. Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính (2010), Thông tư liên tịch số 144/2010/ TTLT-BTP-BTC ngày 22/9 hướng
dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự, Hà Nội.
7. Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2010), Thông tư liên tịch số
07/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/3 hướng dẫn thủ tục miễn thi hành án đối với các
khoản thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000đ, Hà Nội.
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà
Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
23. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội;
24. Trần Đình Hảo (2003), "Về cải cách tư pháp và vấn đề thi hành án xét từ góc độ của luật kinh tế dân
sự", Nhà nước và pháp luật, (7), tr. 19-28.
25. Học viện Hành chính Quốc gia (2007), Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhà nước, tập 1,
Hà Nội.
26. Học viện Hành chính Quốc gia (2007), Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhà nước, tập 2,
Hà Nội.
27. Học viện Hành chính Quốc gia (2007), Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhà nước, tập 3,
Hà Nội
28. Lê Xuân Hồng (2002), Xã hội hóa một số nội dung thi hành án dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội.
29. Bùi Xuân Khánh (2002), "Một số ý kiến về thủ tục thi hành án dân sự - kinh tế của Việt Nam từ cách
tiếp cận của Luật so sánh", Tài liệu hội thảo Đổi mới tư pháp dân sự trong điều kiện nền kinh tế
chuyển đổi, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội.
30. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
31. Nguyễn Công Long (2000), Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự. Luận văn thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội.
32. Nguyễn Đức Nghĩa (2005), Cơ sở lý luận và thực tiễn khắc phục án tồn đọng trong thi hành án dân
sự ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
33. Phòng Kiểm tra, giải quyết Khiếu nại, Tố cáo - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa (2011), Báo
cáo công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của từ năm 2007 - 06 tháng đầu năm 2011, Thanh Hóa.
34. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội.
35. Quốc hội (1998), Luật khiếu nại, tố cáo, Hà Nội.
36. Quốc hội (2001), Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
57. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.