TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2012-2014
ĐỀ TÀI
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Lan Hƣơng
Nguyễn Tiến Sang
Bộ môn: Luật hành chính
MSSV: S120071
Lớp: DT1263B1
Cần Thơ, 11/2014
LỜI CẢM ƠN
Được trúng tuyển vào Trường Đại học Cần Thơ là một niềm vinh dự và tự hào cho
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …..
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................. 2
3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................... 2
5. Kết cấu đề tài ......................................................................................................... 2
CHƢƠNG 1............................................................................................................... 3
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH
VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ............................................................................... 3
2.2.2. Thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính ............................ 18
2.3. Trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính và những quy định của pháp luật
về hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong lĩnh vực thi hành án dân sự ... 18
2.3.1. Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính .................................. 18
2.3.2. Những quy định của pháp luật về hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử
phạt……… ......................................................................................................................... 18
2.4. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự ..... 20
2.4.1. Thẩm quyền của Cơ quan thi hành án dân sự ................................................. 21
2.4.2. Thẩm quyền của Thanh tra Bộ tư pháp........................................................... 21
2.5. Thủ tục xử phạt và những quy định về thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự ............................................................................. 22
2.5.1. Thủ tục xử phạt ................................................................................................ 22
2.5.2.Những quy định của pháp luật về thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự ............................................................................. 24
2.6. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính ............................. 27
CHƢƠNG 3............................................................................................................. 29
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ... 29
3.1. Thực trạng và bất cập của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực thi hành án dân sự. ....................................................................................................... 29
3.1.1.Về khó khăn trong việc thực hiện xử phạt đối với các đối tượng phải thi hành
án mà không có khả năng thi hành và chống đối việc thi hành. ......................................... 29
3.1.2.Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
............................................................................................................................. 30
3.1.3.Quy định về mức phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
............................................................................................................................. 32
3.1.4.Về các văn bản quy định của pháp luật có liên quan đến lĩnh vực xử phạt vi
phạm hành chính trong thi hành án dân sự ......................................................................... 32
3.2. Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành trong lĩnh vực
Thực tiễn, khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân
sự, một số người có thẩm quyền còn nhiều lúng túng khi áp dụng các quy định của pháp
luật để xử phạt. Trong khi đó, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận những người
phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong lĩnh vực thi hành án dân
sự còn chưa cao; tại nhiều địa phương, đã để xảy ra tình trạng người phải thi hành án
chống đối cơ quan thi hành án bằng nhiều hình thức như phân tán hoặc làm hư hỏng tài
sản thuộc diện kê biên để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án, thậm chí là phá huỷ niêm
phong, huỷ hoại tài sản đã kê biên..... Điển hình như việc người phải thi hành án là bà
N.T.B.B, ở xã Mỹ An, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, khi cơ quan thi hành án tiến
1
Nguyễn Thắng Lợi – phó Chánh Thanh tra Bộ tư pháp, bài viết đăng trên trang thông tin điện tử của
Bộ tư pháp ngày 11/6/2014.
1
Đề tài: Quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
hành làm thủ tục cưỡng chế chặt một cây xoài nhưng người phải thi hành án lại chống đối
bằng cách trèo lên trên cây, khi đó lực lượng chấp hành viên, cũng như lực lượng công
an, Viện kiểm sát tham gia việc trên chỉ biết ngồi đợi khi nào người trên cây xuống hết thì
mới tiến hành cưa cây được hoặc lập biên bản sự việc xảy ra mà không ra quyết định xử
phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chống đối trên.
Thực tế đó đã chứng tỏ vi phạm hành chính trong lĩnh vực này không những chưa
giảm mà còn có xu hướng ngày càng nhiều hơn và phức tạp hơn. Từ những phân tích nêu
trên, tác giả chọn đề tài “Quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực thi hành án dân sự” làm đề tài cho Luận văn tốt nghiệp để tìm hiểu về
pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án và hoàn thiện pháp
luật.
TRONG LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Một số khái niệm liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực thi hành án dân sự
1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính.
Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy
định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của
pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính2.
Để tìm hiểu khái niệm “vi phạm hành chính” một cách chi tiết và cụ thể hơn, trước
hết chúng ta sẽ xem xét các dấu hiệu pháp lý và yếu tố cấu thành pháp lý của vi phạm
hành chính sau đây3:
Về mặt khách quan của vi phạm hành chính, bao gồm các dấu hiệu: hành vi;
tính trái pháp luật của hành vi; hậu quả thiệt hại mà hành vi gây ra cho xã hội; quan hệ
nhân quả; thời gian, địa điểm, phương tiện vi phạm.
Hành vi: vi phạm hành chính cũng như mọi vi phạm pháp luật bất kỳ trước hết phải
là hành vi, nó chỉ được thực hiện bởi hành vi. Theo C.Mác: con người chỉ tồn tại đối với
pháp luật thông qua hành vi của mình. Suy nghĩ, quan niệm, tư tưởng, khi chưa thể hiện
hành vi trái với yêu cầu của quy phạm pháp luật thì dù tệ hại thế nào cũng chưa phải là vi
phạm pháp luật. Hành vi có thể được thực hiện dưới hình thức hành động hoặc không
hành động.
Tính trái pháp luật của hành vi: vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, tính
chất đó thể hiện ở chỗ là nó được thực hiện ngược với yêu cầu của quy phạm pháp luật.
Nói cách khác, đó là những hành vi xâm phạm những quy định pháp luật nói chung được
chế định trách nhiệm hành chính bảo vệ, là những hành vi bị pháp luật hành chính cấm,
hoặc không thực hiện hay thực hiện không đúng hành động mà pháp luật hành chính buộc
phải thực hiện.
Thời gian, địa điểm, phương tiện, phương pháp thực hiện hành vi: hành vi nào
cũng phải diễn ra trong một thời gian, địa điểm nhất định và được thực hiện bằng phương
pháp nhất định. Trong nhiều vi phạm hành chính người ta có tính đến các dấu hiệu này.
Ví dụ: gây gổ đánh nhau nơi công cộng, đánh nhau có dùng hung khí, hút thuốc ở những
nơi cấm hút thuốc, trì hoãn không áp dụng biện pháp phòng cháy theo yêu cầu của cơ
là đồng nhất. Nhưng cần lưu ý rằng, không phải toàn bộ các quan hệ quản lý nhà nước là
khách thể của vi phạm hành chính, mà chỉ những quan hệ được bảo vệ bằng các biện pháp
trách nhiệm hành chính trong số đó mà thôi.
Khách thể cụ thể của vi phạm hành chính, cũng tương tự như khách thể của tội
phạm, vị dụ: Là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ trật tự an toàn giao thông; bảo
vệ môi trường, trong đó bảo vệ rừng, đất đai, nguồn nước, vệ sinh đô thị; bảo đảm an toàn
các chất dễ cháy, nổ, phóng xạ; bảo vệ sức khỏe con người khỏi các bệnh truyền nhiễm từ
người, động vât, thực vật; phòng chống buôn lậu; làm hàng giả, kinh doanh trái phép; sử
dụng nhãn hiệu hàng hóa; chế độ quản lý giá cả, thu, nộp thuế; chế độ sử dụng ngoại tệ;
tài sản, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm an toàn lao động; bảo vệ
tài sản nhà nước; trật tự quản lý trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng nhà
ở; trật tự an toàn nơi công cộng.
Chủ thể: chủ thể của vi phạm hành chính, theo định nghĩa “vi phạm hành chính”
tại khoản 1 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, là cá nhân hoặc tổ chức.
Theo Điều 5 “Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính” cụ thể bao gồm: Cá nhân, tổ chức,
cá nhân, tổ chức nước ngoài.
4
Đề tài: Quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
Cá nhân: Người chưa thành niên được coi là có năng lực hành vi chưa đầy đủ.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì chỉ bị xử phạt về vi phạm hành chính thực hiện
do cố ý. Đối với người dưới 14 tuổi, suy từ quy định trên, thì không xử phạt mà áp dụng
biện pháp giáo dục.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt về mọi vi phạm hành chính.
Cán bộ, công chức, viên chức nói chung và người có thẩm quyền nói riêng chịu
trách nhiệm hành chính như mọi công dân bình thường. Nhưng các pháp lệnh và Luật xử
lý vi phạm hành chính năm 2012 đều không nhắc đến loại chủ thể rất quan trọng này tại
điều chung về đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính. Chỉ có một quy định “lợi dụng
khi phát hiện vi phạm hành chính của tổ chức, cơ quan phải bị xử lý khi phát hiện vi
phạm hành chính của tổ chức, thì dù là “tổ chức nhà nước” hay “tổ chức phi nhà nước”
vẫn đều có hiệu quả. Có như vậy thủ trưởng “mới sốt sắng” để tìm người có lỗi và xử lý
bằng cách “bồi hoàn”.
Cá nhân, tổ chức nước ngoài: cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính
trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam; trên tàu bay mang
quốc tịch Việt nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt nam thì bị xử phạt vi phạm hành
chính theo quy định của pháp luật Việt nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là thành viên có quy định khác (điểm c khoản 1 Điều 5
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012).
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính: mặt chủ quan của vi phạm hành chính
thể hiện ở tính chất lỗi của nó.
Lỗi: lỗi là dấu hiệu bắt buộc của vi phạm hành chính cũng như vi phạm pháp luật
nói chung. Mỗi một hành vi trái pháp luật không có nghĩa là hành vi vi phạm pháp luật,
nếu chưa xác định được lỗi, tức là yếu tố chủ quan, là thái độ, động cơ, ý chí của người vi
phạm đối với hành vi của mình. Như ta đã biết, có hai hình thức lỗi: cố ý và vô ý.
Lỗi cố ý thể hiện ở chỗ người có hành vi vi phạm nhận thức được tính chất và hậu
quả hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện.
Lỗi vô ý có hai hình thức: vô ý do cẩu thả - người có hành vi vi phạm không biết
và không nhận thức được rằng hành vi của mình là trái pháp luật mặc dù cần biết và nhận
thức được điều đó. Vô ý do quá tự tin – người có hành vi vi phạm nhận thức được điều
này nhưng do khinh suất cho rằng có thể ngăn ngừa được dễ dàng hậu quả của hành vi trái
pháp luật đó của mình.
Động cơ, mục đích vi phạm: động cơ mục đích vi phạm là yếu tố cũng được tính
đến khi xem xét mặt chủ quan của nhiều vi phạm hành chính để quyết định các hình thức
và mức xử phạt cụ thể.
Tóm lại, từ những phân tích trên đây, có thể định nghĩa vi phạm hành chính như
sau: “vi phạm hành chính là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật,
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm; Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái
thẩm của Tòa án;Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của
Trọng tài nước ngoài đã có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam công
nhận và cho thi hành tại Việt Nam.
2. Những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay
mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị: Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao
động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã
hội hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân;
Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”.
Những Bản án, Quyết định nêu trên không chỉ bao gồm những Bản án, Quyết định
về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế mà còn bao gồm Quyết định dân sự,
phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí
4
Khoản 2 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Xem, Th.s. Nguyễn Quan Thái,”Một số khái niệm về thi hành án và thi hành án dân sự ở Việt nam”,
Dân chủ & Pháp luật, số 5 (158)-2005.
5
7
Đề tài: Quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
trong Bản án, Quyết định của tòa án về hình sự, Quyết định về phần tài sản trong Bản án,
Quyết định của tòa án về hành chính, Bản án, Quyết định dân sự của tòa án nước ngoài,
Quyết định của Trọng tài nước ngoài đã có Quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án
Việt nam công nhận và cho thi hành tại Việt nam.
Xem, Th.s. Nguyễn Quan Thái, “Một số khái niệm về thi hành án và thi hành án dân sự ở Việt nam”,
Dân chủ & Pháp luật, số 5 (158)-2005.
7
Xem, Th.s. Nguyễn Quan Thái, “Một số khái niệm về thi hành án và thi hành án dân sự ở Việt nam”,
Dân chủ & Pháp luật, số 5 (158)-2005.
8
Đề tài: Quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
Người viết đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi lẽ: theo quy định của pháp luật
hiện hành, nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo các trình tự khác
nhau, nhưng đến giai đoạn thi hành án đều được áp dụng theo trình tự, thủ tục thi hành án
dân sự. Vì vậy, phạm vi thi hành án dân sự phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: Bản
án, Quyết định dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình; quyết định về tài sản trong
Bản án, Quyết định hình sự về bồi thường thiệt hại; Quyết định về tài sản và quyền tài sản
trong Bản án, Quyết định hành chính.
Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về thi hành án dân sự như sau:
“Thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp do cơ quan thi hành án, chấp hành viên
tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, để đưa Bản án, Quyết định dân sự
có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc các quyết định khác theo quy định của pháp luật
được thực thi trên thực tế, nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa8”.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực thi hành án dân sự
1.2.1. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân
sự
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự là hoạt động của các
chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định của pháp luật đối với các chủ thể thực
động xử phạt vi phạm hành chính. Luật xử lý vi phạm hành chính và các Nghị định hướng
dẫn quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức, biện pháp xử phạt vi phạm hành
chính áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý hành
chính nhà nước là cơ sở để tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính.
- Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân
sự thể hiện ở các quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong đó ghi nhận các hình thức,
biện pháp xử phạt áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi
hành án dân sự. Việc quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt đó thể hiện sự trừng phạt
nghiêm khắc của Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực
thi hành án dân sự, qua đó giáo dục cho mọi người ý thức tuân thủ pháp luật trong lĩnh
vực thi hành án dân sự nói riêng và pháp luật nói chung.
1.2.2. Đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án
dân sự
Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự được tiến
hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực thi hành án dân sự quy định: toàn bộ quá trình phát hiện ra hành vi vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực thi hành án dân sự, cho đến việc ngăn chặn, xử lý, truy cứu trách nhiệm
pháp lý và tổ chức thi hành đối với việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đó của các cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, đều được pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực thi hành án dân sự quy định cụ thể bằng các quy định của pháp luật. Từ đó
những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự đều bị xử lý nghiêm minh.
Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự mang tính
đặc thù riêng, cho phép chúng ta phân biệt được với hoạt các động xử phạt vi phạm hành
chính khác của đời sống xã hội được thể hiện ở một số đặc điểm như sau:
- Căn cứ thực tiễn để xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
là những hành vi vi phạm pháp luật xâm hại trực tiếp các quan hệ xã hội trong tổ chức và
hoạt động trong lĩnh vực thi hành án dân sự.
- Chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án
dân sự: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thanh tra Bộ tư pháp.
như: cản trở việc thi hành án, chống đối hoặc trì hoãn việc thi hành án. Việc chống đối, trì
hoãn, cản trở đó đều có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, việc thi hành quyết định xử
phạt hành chính có thể do người đang trực tiếp thi hành công vụ lập biên bản xử phạt về
hành vi vi phạm đó. Việc xử phạt đối với những hành vi vi phạm pháp luật này có tính
chất ngăn chặn và loại bỏ những hành vi chống đối, trì hoãn, cản trở trong quá trình thi
hành án. Qua đó góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự nói riêng và những quy định trong các lĩnh
vực khác của pháp luật nói chung.
11
Đề tài: Quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của chế định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1995
Trong thời kỳ này một văn bản quan trọng về xử phạt vi phạm hành chính được ban
hành. Đó là Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, được Hội đồng Nhà nước thông qua
ngày 07/12/1989, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1990. Pháp lệnh năm 1989 này mới chỉ
quy định về đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính (Điều 5), nguyên tắc xử phạt vi
phạm hành chính (Điều 6), thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính (Điều 9), các hình thức
xử phạt vi phạm hành chính (Điều 11) và trong Chương III có quy định về thẩm quyền xử
phạt hành chính. Những quy định trên đều chưa quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Sau đó Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành
chính năm 1989 đã được thay thế bằng Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và
các văn bản pháp luật có liên quan cũng chỉ dừng lại ở mức quy định có tính chất định
hướng cho việc xử phạt vi phạm hành chính, chưa có quy định chi tiết và hướng dẫn cụ
thể để tiến hành xử phạt các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói
chung, trong lĩnh vực thi hành án dân sự nói riêng.
quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế xử phạt vi phạm hành chính. Sau đó,
Nghị định số 76/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp được ban hành đã thay thế toàn bộ những quy
định có liên quan tại Nghị định số 173/2004/NĐ-CP.
Một bước tiến mới và quan trọng, đó là năm 2008 Luật thi hành án dân sự ra đời,
trong đó có quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành
án dân sự, các quy định đó được quy định tại Điều 163.
1.3.4. Giai đoạn từ năm 2009 cho đến hiện nay
Ngày 23 tháng 07 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 60/2009/NĐ-CP,
có hiệu lực thi hành ngày 18 tháng 9 năm 2009 đã thay thế Nghị định số 76/2006/NĐ-CP
ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực tư pháp.
Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012, có hiệu
lực thi hành 01/7/2013. Trên cơ sở đó, ngày 24/9/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp,
hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp
tác xã (sau đây viết tắt là Nghị định 110/2013/NĐ-CP), thay thế Nghị định số
60/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực tư pháp; Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm
2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình;
Nghị định số 10/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản. Ngày 19 tháng 07 năm
2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và
biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sau đây viết tắt là Nghị
định 81/2013/NĐ-CP). Ngày 12 tháng 11 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số
166/2013/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính,
có hiệu lực thi hành từ ngày 28 tháng 12 năm 2013 (sau đây viết tắt là Nghị định
166/2013/NĐ-CP); thay thế Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2005 của
Chính phủ quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế xử phạt vi phạm hành
13
huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp có hành vi vi phạm hành chính là cản trở không cho
Chấp hành viên Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười thi hành kê biên tài sản là
1000 m2 đất ruộng, bà cản trở Chấp hành viên bằng cách giật thước đo và xô đẩy Chấp
hành viên ngã xuống ruộng, thách thức ai vào đo là đánh. Chấp hành viên sai phạm trong
việc cưỡng chế kê biên tài sản là 1000m2 đất ruộng của bà P là kéo dài thời gian để ra
quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất 1000 m2.
Trong Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, ở khoản 10 Điều 1 chỉ giải thích
thuật ngữ “Tổ chức” và khoản 1 Điều 5, không có sự phân biệt giữa Cán bộ, Công chức,
Viên chức với cá nhân khác và không có sự phân biệt giữa cơ quan nhà nước với không
phải là cơ quan nhà nước. Vấn đề xử phạt hành chính đối với những người có thẩm quyền
khi đang thi hành công vụ là Chấp hành viên, Thư ký, Chuyên viên của cơ quan thi hành
án dân sự khi đang thi hành công vụ mà cũng là người có hành vi vi phạm hành chính thì
sẽ không bị xử phạt vi phạm hành chính theo Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
2.1.2. Nguyên tắc xử phạt trong lĩnh vực thi hành án dân sự
Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính là những nội dung cơ bản, quan trọng chi
phối mọi hoạt động trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính. Các nguyên tắc trong
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 vừa mang tính kế thừa từ Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 2002. Bên cạnh đó Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cũng
15
Đề tài: Quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
có những nguyên tắc được quy định mới nhằm phù hợp với thực tế trong xã hội. Những
nguyên tắc đó được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012.
Kế thừa Pháp lệnh:
Qua thực tế thi hành pháp Luật xử lý vi phạm hành chính, các nguyên tắc xử lý vi
phạm hành chính được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 đã
khẳng định được sự cần thiết đúng đắn, do đó tiếp tục được quy định tại khoản 1 Điều 3
Đề tài: Quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
trình của cá nhân, tổ chức (Điểm b khoản 1);
+ Nguyên tắc người có thẩm quyền xử phạt, người có thẩm quyền áp dụng biện
pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh hành vi vi phạm bằng việc áp dụng các
biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ việc một cách khách quan, toàn diện và
đầy đủ; cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có
quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm
hành chính (Điểm đ khoản 1);
+ Để phân định mức phạt tiền giữa cá nhân và tổ chức vi phạm, phù hợp với tính
chất vi phạm, một trong những nguyên tắc mới được quy định tại Luật xử lý vi phạm
hành chính năm 2012, đó là: “đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt
tiền đối với tổ chức bằng hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân” (Điểm e khoản 1)
Việc bổ sung những nguyên tắc này là rất cần thiết để khắc phục thực trạng cơ
quan hành chính ban hành quyết định xử phạt mang tính đơn phương, áp đặt ý chí chủ
quan của người có thẩm quyền xử phạt.
2.2. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính và thời hạn đƣợc coi là chƣa bị xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
2.2.1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là khoảng thời gian do pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính quy định mà nếu hết thời gian đó thì không được xử phạt đối với cá
nhân, tổ chức vi phạm.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, thời
hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự: là 01 năm (đối với một số lĩnh
vực khác là 02 năm, hoặc có quy định riêng). Luật xử lý vi phạm hành chính có bổ sung
quan trọng về cách xác định thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính:
- Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm
dứt hành vi vi phạm.
- Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã quy định rất rõ về các trường hợp
không xử phạt vi phạm hành chính khi thực hiện hành vi vi phạm hành chính, trong các
trường hợp được quy định tại Điều 11 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:
“Không xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp sau đây: Thực hiện
hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết; Thực hiện hành vi vi phạm hành
chính do phòng vệ chính đáng; Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ;
Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng; Người thực hiện hành vi
vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính; người thực hiện hành vi
vi phạm hành chính chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 5 của Luật này.”
2.3.2. Những quy định của pháp luật về hành vi vi phạm hành chính và hình
thức xử phạt
Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy
định của pháp luật về quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của
pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Trong hoạt động thi hành án dân sự, các
hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt những hành vi vi phạm hành chính đó
đã được quy định cụ thể tại Điều 52 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP.
Về hình thức xử phạt, việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án
18
Đề tài: Quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
dân sự không áp dụng hình thức xử phạt bổ sung mà chỉ áp dụng hình thức xử phạt chính,
gồm hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền.
Nghị định số 60/2009/NĐ-CP chỉ quy định có 03 mức phạt tiền, mức thấp nhất là
từ 50.000đ đến 200.000 đồng, từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng và từ 2.000.000 đồng
đến 5.000.000 đồng. Những quy định này đã không còn phù hợp và không có tính răn đe
trong tình hình hiện nay. Khắc phục hạn chế trên, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP đã tách
các hành vi vi phạm hành chính trước đây thành các hành vi riêng biệt và áp dụng 07 mức
Đề tài: Quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
không cung giấy tờ liên quan về diện tích đất trên bà A có thể bị cơ quan thi hành án dân
sự xử phạt hành chính với số tiền là 1000.000 đồng.
Thứ ba, phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong 04
hành vi: không thực hiện công việc phải làm, không chấm dứt thực hiện công việc không
được làm theo bản án, quyết định; trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án trong trường
hợp có điều kiện thi hành án; không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận theo quyết định
công nhận sự thỏa thuận của Tòa án nhân dân; cung cấp chứng cứ giả cho cơ quan thi
hành án dân sự.
Thứ tƣ: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong 03
hành vi: làm hư hỏng tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh
việc kê biên tài sản; phá hủy niêm phong tài sản đã kê biên; không chấp hành quyết định
của người có thẩm quyền thi hành án về việc trừ vào thu nhập.
Thứ năm, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong
các hành vi: tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh
việc kê biên tài sản; sử dụng trái phép, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc
thay đổi tình trạng tài sản đã kê biên; hủy hoại tài sản đã kê biên; không chấp hành quyết
định của người có thẩm quyền thi hành án về việc thu tiền của người phải thi hành án
đang do người thứ ba giữ; cố ý không thực hiện quyết định áp dụng các biện pháp khẩn
cấp tạm thời của tòa án nhân dân hoặc bản án, quyết định phải thi hành ngay. Ví dụ, ông
A có vay một số tiền của bạn bè để kinh doanh hàng vải, do làm ăn thua lỗ nên chưa trả
được nợ, vì vậy bị khởi kiện ra Tòa án. Các chủ nợ đề nghị Tòa án kê biên tài sản là nhà
đất để bảo đảm thi hành án sau này và Tòa án, cơ quan thi hành án huyện đã ra quyết định
phong tỏa tài sản của ông A.
Thứ sáu, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các
hành vi: không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc khấu
trừ tài khoản, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án; không chấp hành quyết
định của người có thẩm quyền thi hành án về việc thu tiền từ hoạt động kinh doanh của