pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục - Pdf 30

Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA: 2011 – 2014
ĐỀ TÀI:

PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC

Giảng viên hướng dẫn:
Võ Nguyễn Nam Trung
Bộ môn Luật Hành chính

Sinh viên thực hiện:
Thị Thúy Kiều
MSSV: 5115718
Lớp Luật Hành chính – k37

Cần Thơ, Tháng 12- 2014

GVHD: Võ Nguyễn Nam Trung

1

SVTH: Thị Thúy Kiều


Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
GVHD: Võ Nguyễn Nam Trung

2

SVTH: Thị Thúy Kiều


Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................

..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................

GVHD: Võ Nguyễn Nam Trung

3

SVTH: Thị Thúy Kiều


Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................6
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................................6
2. Mục tiêu nghiên cứu ...............................................................................................7
3. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................7
4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................7
5. Bố cục luận văn.......................................................................................................8
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH


4

SVTH: Thị Thúy Kiều


Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

2.2. Hình thức và thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục
...................................................................................................................................31
2.2.1. Hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục.....................31
2.2.2. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục .....................34
2.3. Các hành vi vi phạm hành chính cụ thể trong lĩnh vực giáo dục ...................35
2.3.1. Hành vi vi phạm quy định về thành lập cơ sở giáo dục và tổ chức hoạt động
giáo dục ..................................................................................................................35
2.3.2. Hành vi vi phạm quy định về hoạt động tuyển sinh ......................................38
2.3.3. Hành vi vi phạm quy định về nội dung, chương trình, đào tạo liên thông, liên
kết...........................................................................................................................40
2.3.4.
2.3.5.
2.3.6
2.3.7.

Hành vi vi phạm quy định về thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ............43
Hành vi vi phạm quy định về quản lý, cấp và sử dụng văn bằng chứng chỉ .. 44
Hành vi vi phạm quy định đối với nhà giáo và người học.............................45
Hành vi vi phạm quy định về cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính và các điều

kiện đảm bảo chất lượng .........................................................................................46
2.4. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính ..............................................................48

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Từ khi xã hội loài người xuất hiện, các thế hệ luôn gắn bó với nhau trong nhiều
lĩnh vực hoạt động: lao động, giao lưu, chính trị, văn hóa, khoa học, kĩ thuật… Trong
đó, giáo dục là hiện tượng nảy sinh, tồn tại và phát triển mãi với xã hội loài người. Hiện
tượng này biểu hiện ở chỗ, thế hệ trước truyền lại những kinh nghiệm xã hội cho thế hệ
sau nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển mọi mặt của đời sống xã hội trong từng giai đoạn
lịch sử, thế hệ sau lĩnh hội có chọn lọc những kinh nghiệm xã hội đó để tham gia vào
mọi hoạt động xã hội, qua đó nhân cách được hình thành và phát triển. Kinh nghiệm xã
hội bao gồm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, niềm tin, thái độ…của con người trong hoạt động.
Giáo dục là hoạt động có mục đích, có tổ chức, có ý thức và phát triển cao chĩ riêng biệt
có trong xã hội loài người, nhờ đó giúp cho con người trở thành chủ thể nhận thức, cải
tạo, sáng tạo cả thế giới, đồng thời nhận thức, cải tạo và sáng tạo chính bản thân mình.
Tại Việt Nam, Luật giáo dục ra đời lần đầu tiên vào năm 1998. Trong bối cảnh
toàn cầu hóa hội nhập quốc tế, khoa học – công nghệ có những bước nhảy vọt, công
cuộc cải cách giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, việc sửa đổi luật giáo dục là
rất cần thiết. Luật giáo dục năm 1998 qua 7 năm đưa vào thực hiện mang lại nhiều thành
tựu cho nền giáo dục quốc dân, nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực, tuy nhiên
trong quá trình phát triển giáo dục phát sinh ra nhiều vấn đề và hạn chế cần bổ sung, sửa
đổi luật nên Luật giáo dục 2005 ra đời. Đến năm 2009 nhầm mục đích sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật giáo dục 2005 cho phù hợp với tình hình giáo dục hiện tại của đất
nước thì luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục được ban hành năm 2009.
Nhà nước cũng đã ban hành một số Nghị định để quản lý cũng như xử lý sai phạm của
các cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực giáo dục, trong đó nổi bật nhất là Luật xử lý vi phạm
hành chính 2012 và Nghị định 138/2013/NDCP quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giáo dục.
Trong những năm vừa qua, nền giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu
vượt bậc về phát triển giáo dục, về công tác quản lý và chất lượng đào tạo. Song, bên
cạnh đó cũng gập phải một số khó khăn nhất định.

trình áp dụng pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này ở nước ta. Đồng
thời chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những khó khăn và từ đó đề ra những giải pháp nhằm
đảm bảo cho công tác áp dụng pháp luật trên thực tế phát huy được hiệu quả cao nhất.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục” người viết tập trung tìm hiểu những quy định của pháp luật về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực này, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực
thi và nguyên nhân dẫn đến những tình trạng đó. Bên cạnh đó, người viết đề xuất một số
giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn và hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giáo dục, để công tác xử phạt có thể phát huy hiệu quả cao
nhất trong quá trình thực thi pháp luật.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành được đề tài, người viết đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu
để làm công cụ phục vụ cho công việc nghiên cứu của mình như:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích nghiên cứu lý luận dựa trên tài liệu liên quan
đến đề tài;
- Phương pháp phân tích luật viết để phân tích những quy định pháp luật hiện
GVHD: Võ Nguyễn Nam Trung

7

SVTH: Thị Thúy Kiều


Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

hành;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục

chính, cần thiết để đưa ra một định nghĩa chính thức về vi phạm hành chính.
Từ trước đến nay Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về vi phạm
hành chính và biện pháp xử lý đối với loại vi phạm này, trong đó phải kể đến Nghị định
143/1977/NĐ-CP ngày 27/5/1977 của Chính phủ ban hành điều lệ xử phạt vi cảnh.
Tiếp đến là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 30/11/1989 ra đời thay thế
Nghị định 143/1977/NĐ-CP. Tại Điều 1 của Pháp lệnh này định nghĩa vi phạm hành
chính “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc
vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo
quy định của pháp luật xử phạt hành chính”. Đây là pháp lệnh đầu tiên định nghĩa về vi
phạm hành chính.
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội những hành vi vi phạm hành chính
diễn ra ngày càng nhiều và càng tinh vi hơn thì pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1989
không còn phù hợp nữa. Do đó Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995 ra đời thay thế
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1989 để phù hợp với tình hình mới, pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính năm 1995 không trực tiếp định nghĩa về vi phạm hành chính nhưng
tại khoản 2 điều 1 của pháp lệnh này đã định nghĩa vi phạm hành chính một cách gián
tiếp, theo đó: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có
hành vi cố ý hoặc vô ý quy phạm các quy tắc quản lý Nhà nước mà chưa đến mức truy
cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành
chính”. Tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, vi phạm hành
GVHD: Võ Nguyễn Nam Trung

9

SVTH: Thị Thúy Kiều


Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

chính cũng được định nghĩa một cách gián tiếp: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp

không cho thực hiện những hành vi nhất định mà pháp luật quy định. Tính chất trái pháp
luật của hành vi xét về mặt hình thức nó thể hiện ở các dạng sau đây:

GVHD: Võ Nguyễn Nam Trung

10

SVTH: Thị Thúy Kiều


Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

 Làm một việc mà pháp luật cấm không được thực hiện
 Không làm một việc mà pháp luật đòi hỏi phải làm
 Sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn pháp luật cho phép
Hậu quả của hành vi trái pháp luật: là trật tự quản lý của nhà nước bị hành vi vi
phạm hành chính tác động tới, gây xâm hại. Tuy nhiên, hậu quả không phải là yếu tố bắt
buộc trong mọi vi phạm hành chính.
Quan hệ nhân quả: là mối quan hệ giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả
của vi phạm hành chính, trong đó hậu quả của vi phạm hành chính có tiền đề xuất hiện
của nó là hành vi khách quan của vi phạm hành chính. Việc xác định mối quan hệ nhân
quả cần phải có những căn cứ nhất định. Cụ thể:
 Hành vi trái pháp luật phải xảy ra trước hậu quả xâm hại các quan hệ xã hội về
mặc thời gian
 Hành vi trái pháp luật phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả xâm
hại quy tắc quản lý nhà nước
 Hậu quả xâm hại đã xảy ra phải chính là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm
phát sinh hậu quả của hành vi trái pháp luật.
Các dấu hiệu địa điểm, thời gian, phương tiện, công cụ… không phải là những dấu
hiệu có ý nghĩa quyết định trong mọi cấu thành vi phạm. Tuy nhiên, trong một số trường

pháp luật hành chính do vô tình hoặc thiếu thận trọng mà đã không nhận thức được
những nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, mặc dù họ có khả năng và điều kiện xử sự theo đúng
nghĩa vụ này.
Lỗi là một dấu hiệu cơ bản, bắt buộc phải hiện diện trong mọi cấu thành của hành
vi vi phạm pháp luật, có ý nghĩa quyết định đến các yếu tố khác trong mặc chủ quan của
vi phạm hành chính. Bên cạnh yếu tố lỗi thì mục đích và động cơ là dấu hiệu không bắt
buộc phải có trong mọi cấu thành của mọi vi phạm hành chính. Nó chỉ có ở một số cấu
thành nhất định, tồn tại ở một số hành vi với lỗi cố ý.
1.1.2.3. Yếu tố chủ thể của vi phạm hành chính
Chủ thể của vi phạm hành chính bao gồm: cá nhân và tổ chức. Cá nhân chỉ có thể
trở thành chủ thể của vi phạm hành chính khi có năng lực trách nhiệm hành chính.
Năng lực trách nhiệm hành chính là khả năng nhận thức của con người đối với
hành vi vi phạm hành chính. Yếu tố để xác định năng lực trách nhiệm hành chính của cá
nhân là: cá nhân phải đủ 14 tuổi đồng thời không mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh
làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của mình.
Sự khác biệt giữa chủ thể vi phạm hành chính và đối tượng vi phạm hành chính là
: cá nhân chỉ cần có năng lực trách nhiệm hành chính là có thể là chủ thể vi phạm hành
chính. Còn đối tượng vi phạm hành chính ngoài việc có năng lực trách nhiệm hành chính,
còn phải thực hiện hành vi vi phạm hành chính cụ thể trên thực tế. Như vậy, chủ thể vi
phạm hành chính là cá nhân bao gồm:
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của vi phạm hành chính trong
trường hợp thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này có vi phạm
hành chính hay không cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ. Người từ đủ 16
tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi hành vi vi phạm hành chính do
mình gây ra.
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính
thì bị xử lý như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên
GVHD: Võ Nguyễn Nam Trung


nhau trong tùng lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước.
Khách thể trực tiếp: là quan hệ xã hội cụ thể quy định và bảo vệ bị chính hành vi
vi phạm hành chính xâm hại tới.
1.1.3. Khái quát về xử phạt vi phạm hành chính
1.1.3.1. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính
Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẳm quyền, căn cứ
vào các quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp
dụng các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác
(trong trường hợp cần thiết, theo quy định của pháp luật) đối với các tổ chức, cá nhân vi
phạm hành chính. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính có các đặc điểm sau:

GVHD: Võ Nguyễn Nam Trung

13

SVTH: Thị Thúy Kiều


Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành
chính theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, vi phạm hành chính là cơ sở để tiến
hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính. Luật xử lý vi phạm hành chính và các nghị
định của Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức, biện pháp xử phạt
vi phạm hành chính áp dụng đối với tổ chức cá nhân vi phạm hành chính trong các lĩnh
vực quản lý hành chính nhà nước, cụ thể là những cơ sở pháp lý quan trọng để tiến hành
xử phạt vi phạm hành chính.
Xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật. Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản pháp luật có liên
quan quy định về xử phạt vi phạm hành chính, xác định cụ thể các chủ thể có thẳm quyền



Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

xử lý vi phạm hành chính. Theo khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 thì
hoạt động xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủ những nguyên tắc sau:
Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý
nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng
quy định của pháp luật.
Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách
quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật.
Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi
phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ1, tình tiết tăng nặng2. Theo nguyên tắc,
nếu vi phạm hành chính bị áp dụng hình thức phạt tiền thì khi có tình tiết giảm nhẹ người
có thẩm quyền có thể xử phạt ở mức thấp nhất của khung phạt và khi có tình tiết tăng
nặng trong hành vi thì có thể áp dụng mức cao nhất của khung hình phạt. Trong trường
hợp không có tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trong hành vi vi phạm hành chính thì
người có thẳm quyền có thể xử phạt ở mức trung bình của khung phạt.
Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật
quy định. Như vậy, một hành vi vi phạm hành chính mà không được pháp luật quy định
sẽ không bị xử phạt.
 Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Nghĩa là mỗi vi phạm
hành chính với một lần vi phạm sẽ bị xử phạt về lần vi phạm đó. Hành vi vi phạm
hành chính cụ thể được cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều lần thì tất cả các lần vi
phạm đó đều bị xử phạt.
 Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi
phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.
 Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính
nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.
Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá

cần dụa vào các tiêu chí sau3:
Về khái niệm: Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự thì: “Tội phạm là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm
hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc
phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp
khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ
nghĩa”. Chúng ta có thể hiểu một cách tổng quát thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu phạt. Theo khoản 1 Điều 2 Luật xử lý vi
phạm hành chính: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện,
vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo
quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”.
Về thời điểm xuất hiện tên gọi: Một hành vi chỉ cho dù đã cấu thành một hay nhiều
tội đã quy định trong Bộ luật hình sự mà vẫn chưa bị xét xử thì hành vi đó vẫn chưa bị
coi là tội phạm. Chỉ khi nào hành vi đó bị tòa án tuyên án là tội phạm thì bất đầu từ thời
điểm đó, hành vi đó mới gọi là tội phạm. Tương tự , một người chỉ bị gọi là bị cáo khi họ
đã bị tòa tuyên án, còn trước đó, họ chỉ là bị can. Như vậy, một hành vi bị coi là tội phạm
khi hành vi đó phải chịu hình phạt và bị tòa tuyên án.
Vi phạm hành chính thì khác, một hành vi đã thỏa mãn: do cá nhân, tổ chức thực
hiện một cách cố ý hoặc vô ý; xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước; không phải tội
phạm hình sự thì hành vi đó đã là hành vi vi phạm hành chính. Dấu hiệu “theo quy định
của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” nói lên rằng bị xử phạt không phải là dấu hiệu

3

Phân biệt tội phạm và vi phạm hành chính, http://rubiclaw.vn/phan-biet-toi-pham-va-vi-pham-hanh-chinh, [truy
cập ngày 5/8/2014]

GVHD: Võ Nguyễn Nam Trung

cho xã hội của hành vi vi phạm được đánh giá ở nhiều yếu tố khác nhau và những yếu tố
này thường được quy định trong các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẳm
quyền.
Mức độ nguy hiểm của hành vi: Để xác định, đòi hỏi cơ quan có thẳm quyền dựa
trên sự nhận thức về ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm, đã được quy định cụ
thể ở bộ luật hình sự, các nghị định, thong tư hướng dẫn trong các trường hợp cụ thể.Mức
độ gây thiệt hại biểu hiện ở dưới các hình thức khác nhau như mức độ gây thương tật, giá
trị tài sản bị xâm hại, giá trị hàng phạm pháp.
Mặt chủ quan: Lỗi Trong Bộ luật hình sự , nhà làm luật quy định bốn hình thức
lỗi, đó là lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp, lỗi vô ý vì quá tự tin và cố ý do cẩu thả. Như
vậy do tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của từng trường hợp lỗi là khác nhau,
với lại tội phạm là loại vi phạm pháp luật nặng nhất nên quy định bốn hình thức lỗi giúp
giải quyết chính xác các vụ án hình sự. Vi phạm hành chính chỉ quy định hai hình thức
GVHD: Võ Nguyễn Nam Trung

17

SVTH: Thị Thúy Kiều


Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý. Các trường hợp vi phạm mà lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp hoặc
vô ý vì quá tự tin hay do cẩu thả đều xử lý như nhau.
Về căn cứ pháp lý: Tội phạm là loại vi phạm pháp luật nặng nhất và được quy định
trong Bộ luật hình sự và chỉ có Quốc hội mới có quyền đặt ra các quy định về tội phạm
và hình phạt. Ngay từ Điều 2 Bộ luật hình sự đã quy định về cơ sở của trách nhiệm hình
sự. “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách
nhiệm hình sự”. Như vậy Bộ luật hình sự là căn cứ pháp lý duy nhất để xem xét xem một
hành vi vi phạm có bị coi là tội phạm hay không – không có trong luật thì không có tội.


SVTH: Thị Thúy Kiều


Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

Thứ nhất: Giáo dục được hiểu đó là quá trình xã hội hoá con người. Quá trình xã
hội hoá con người là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tác động chủ
quan và khách quan, có ý thức và không có ý thức của cuộc sống, của hoàn cảnh xã hội
đối với các cá nhân.
Thứ hai: Giáo dục có thể hiểu là giáo dục xã hội. Đó là hoạt động có mục đích của
xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người để
hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách.
Thứ ba: Giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm. Quá trình sư phạm là quá trình
tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm
trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức, phát triển trí tuệ và hình
thành những phẩm chất nhân cách. Ở cấp độ này, giáo dục bao gồm : Quá trình dạy học
và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp.
Thứ tư: Giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩm chất
đạo đức cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu4
Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáo dục là
hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch
sử – xã hội của các thế hệ loài người”. Định nghĩa này nhấn mạnh về sự truyền đạt và
lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục
đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó.
Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhà cải cách
giáo dục người Mỹ, ông cho rằng cá nhân con người không bao giờ vượt qua được quy
luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang
theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh
nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên

Giáo dục là một quá trình biện chứng: Giáo dục là 1 quá trình lâu dài, liên tục,
diễn ra suốt cuộc đời của con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó yếu tố chủ
đạo, lực lượng chính là nhà giáo dục và giáo dục trong nhà trường. Toàn bộ quá trình
giáo dục luôn có sự tác động biện chứng giữa đối tượng giáo dục (người học) đối với các
hoạt động khác. Nổi bật là mối quan hệ tác động bản chất giữa người giảng dạy và người
học.
Quá trình giáo dục chịu sự tác động phức hợp của nhiều nhân tố, nhiều lực lượng,
được thực hiện trong toàn bộ đời sống hàng ngày của người học. Vì vậy sản phẩm của
quá trình giáo dục (các sản phẩm nhân cách) là sản phẩm chung của nhiều lực lượng, của
toàn xã hội trong đó giáo dục nhà trường đóng vai trò nòng cốt. Điều này đòi hỏi phải có
sự thống nhất giữa các lực lượng giáo dục trong xã hội.
Giáo dục là một quá trình tuân theo quy luật số đông nhưng đồng thời cũng bị chi
phối bởi những đặc điểm cá thể: Giáo dục được tiến hành trong một tập thể lớp, giáo viên
lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức phù hợp với hầu hết học sinh trong
lớp (hướng đến cái chung, ưu tiên cái chung). Tuy nhiên trong những tình huống cụ thể
hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục lại phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân. Vì vậy trong
quá trình giáo dục nhà trường cần phải nắm bắt được các đặc điểm cá nhân để có thể dự
kiến và thực hiện các biện pháp giáo dục mang tính cá biệt.
Trong nhà trường quá trình giáo dục có quan hệ mật thiết với quá trình dạy học:
Quá trình dạy học và quá trình giáo dục đều hướng đến giáo dục nhân cách cho học sinh.
Vì vậy nó thống nhất với nhau cùng giáo dục con người theo yêu cầu xã hội. Mặt khác 2
quá trình này luôn tác động, hỗ trợ thúc đẩy nhau. dạy học (dạy chữ) là cơ sở, là điều kiện
để dạy người. Ngược lại quá trình dạy học (dạy người) lại tạo điều kiện thúc đẩy quá
trình dạy học.
Quá trình dạy học được thực hiên trong cuộc sống hàng ngày thông qua các hoạt
động sống và giao lưu của trẻ. Quá trình giáo dục khác với dạy học ở chỗ nó không chỉ
thực hiện trong các giờ trong nhà trường mà nó được thực hiện trong toàn bộ cuộc sống
hàng ngày, trong và ngoài nhà trường. Vì vậy toàn bộ hoạt động sống, giao tiếp, học tập,
GVHD: Võ Nguyễn Nam Trung


Chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học để xác nhận
kết quả học tập sau khi được đào tạo hoặc bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề
nghiệp.
Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân:
Giáo dục mầm non: giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm: Nhà trẻ,
nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi; Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ
ba tuổi đến sáu tuổi; Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo,
nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.

5

Điều 4 Luật giáo dục 2005 sửa đổi, bổ sung 2009
Điều 8 Luật giáo dục 2005 sửa đổi, bổ sung 2009
7
Quyết định số 33 /2007/QĐ-BGDĐT Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân
6

GVHD: Võ Nguyễn Nam Trung

21

SVTH: Thị Thúy Kiều


Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

Giáo dục phổ thông: Giáo dục phổ thông bao gồm giáo dục tiểu học được thực
hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là
sáu tuổi; Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp

người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành; Đào tạo trình độ thạc sĩ được
thực hiện từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học; Đào tạo trình
độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học; từ
GVHD: Võ Nguyễn Nam Trung

22

SVTH: Thị Thúy Kiều


Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục

hai đến ba năm học đối với người có bằng thạc sĩ. Trong trường hợp đặc biệt, thời gian
đào tạo trình độ thạc sĩ có thể được kéo dài hoặc rút ngắn theo quy định của Bộ trưởng
Bộ giáo dục và Đào tạo.
Cơ sở giáo dục đại học bao gồm: Trường cao đẳng đào tạo trình độ cao đẳng;
Trường đại học đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học; đào tạo trình độ thạc sĩ, trình
độ tiến sĩ khi được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép. Cơ sở giáo dục đại học
được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ khi bảo đảm các điều kiện sau đây:
Có đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đủ số lượng, có khả năng xây dựng, thực
hiện chương trình đào tạo và tổ chức hội đồng đánh giá luận án;
Có cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm đáp ứng yêu cầu đào tạo trình độ tiến sĩ;
Có kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học; đã thực hiện những nhiệm
vụ nghiên cứu thuộc đề tài khoa học trong các chương trình khoa học cấp nhà nước hoặc
thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học có chất lượng cao được công bố trong nước
và ngoài nước; có kinh nghiệm trong đào tạo, bồi dưỡng những người làm công tác
nghiên cứu khoa học.
Giáo dục thường xuyên: Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học,
học liên tục, học suốt đời nhầm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình
độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự

hơn bao giờ hết các quốc gia đang dành nguồn nhân lực tối đa cho phát triển, nâng
cao chất lượng của giáo dục quốc dân.
Nhận thức vai trò của giáo dục - đào tạo, Nghị quyết của Hội nghị ban Chấp hành
Trung ương lần thứ 2 (khóa VIII) đã khẳng định: "Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc
sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là
nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo
là đầu tư phát triển. Thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với giáo dục - đào tạo
đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương. Có giải pháp mạnh mẽ để phát
triển giáo dục” (Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII, trang 29 - 30).
Tóm lại, trong các nguồn lực để phát triển, nguôn nhân lực có trí tuệ là nhân tố cơ
bản, quyết định nhất đối với sự phát triển của các quốc gia. Giáo dục - đào tạo nhằm tạo
ra lớp người lao động có trí tuệ thích hợp đó và được các quốc gia đặc biệt quan tâm. Vì
vậy quản lí giáo dục - đào tạo là lĩnh vực quản lí một vấn đề có ý nghĩa quốc sách hàng
đầu của Nhà nước ta. (violet.vn)
1.3. Khái niệm vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giáo dục
Theo khoản 2 Điều 1 Nghị định 49/2005/NĐ-CP thì: Vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục là những hành vi vi phạm các quy định quản lý nhà nước trong lĩnh vực
giáo dục do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội
phạm và theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định này phải bị
xử phạt vi phạm hành chính. Như vậy, dựa vào Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 và
Nghị định 138/2013/NĐ-CP ta có thể hiểu vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục
như sau: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ
chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo
dục mà không phải là tội phạm và theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012
và Nghị định 138/2013/NĐ-CP phải bị xử phạt vi phạm hành chính” .
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục bao gồm các hành vi sau:
- Các hành vi vi phạm quy định về thành lập cơ sở giáo dục và tổ chức hoạt động
giáo dục;
- Các hành vi vi phạm quy định về hoạt động tuyển sinh;


Trích đoạn Hành vi vi phạm quy định về thành lập cơ sở giáo dục và tổ chức hoạt động Hành vi vi phạm quy định về hoạt động tuyển sinh Hành vi vi phạm quy định về nội dung, chương trình, đào tạo liên thông, liên Hành vi vi phạm quy định về quản lý, cấp và sử dụng văn bằng chứng chỉ Hành vi vi phạm quy định đối với nhà giáo và người học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status