KHOA LUẬT
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BÙI HUY TÙNG
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬTVỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC Người hướng dẫn PGS TS : PHẠM HỒNG THÁI Hà nội: 2007
trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa”, thực hiện công bằng trong giáo dục.
Luật Giáo dục 2005 khẳng định mục tiêu giáo dục là “ đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Để thực hiện triệt để quan điểm chỉ đạo của Đảng, thực hiện thành
công mục tiêu giáo dục, đảm bảo nguyên tắc pháp chế, ngoài cơ chế tổ chức
5
quản lý giáo dục nhất thiết cần phải có cơ chế xử lý vi phạm phù hợp, mà
trong đó xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục là một nội dung
đặc biệt quan trọng.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được Ủy ban thường vụ Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 02-7-
2002, Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005định của Chính phủ quy
định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giáo dục và các văn bản pháp lý
liên quan được ban hành đã đáp ứng một cách cơ bản yêu cầu về một hành
lang pháp lý cần thiết cho việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo
dục.
Mặc dù vậy, qua nghiên cứu cho thấy, các quy định về xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giáo dục ở nước ta phần lớn mới được ban hành,
còn tồn tại nhiều nội dung chưa phù hợp với thực tiễn, chưa thể đi vào thực
tiễn, có những quy định chưa bắt nguồn từ thực tiễn.
Xuất phát từ những tồn tại nêu trên, nhất thiết cần phải nghiên cứu
một cách toàn diện, có hệ thống nhằm từng bước hoàn thiện các quy định về
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục, đưa những quy định này
trở thành công cụ pháp lý hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà
nước trong lĩnh vực giáo dục.
dục.
IV. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
a. Mục đích nghiên cứu của Luận văn: Đề tài tập trung phân tích toàn
diện, có hệ thống các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giáo dục, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về xử
lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục nhằm tìm ra hướng hoàn
thiện, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của nội dung quản lý nhà nước về giáo dục.
b. Nhiệm vụ của Luận văn:
- Tổng kết các cơ sở lý luận về xử lý vi phạm hành chính nói chung và
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục nói riêng.
7
- Nghiên cứu thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục.
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy phạm trong quá trình xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục.
- Nghiên cứu và tìm ra những quy định chưa phù hợp, các chế định
chưa được đề cập tới hoặc có đề cập nhưng chưa đầy đủ, thiếu khả thi trong
văn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục.
V. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu việc hoàn thiện các
quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục
ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực
của hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục.
b. Phạm vi nghiên cứu: Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo
dục bao gồm nhiều vấn đề lớn đặt ra cần quan tâm nghiên cứu. Đề tài nghiên
cứu của Luận văn tập trung chú ý vào việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn
để hoàn thiện các quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giáo dục. Là một đề tài nghiên cứu lý luận, luận văn không đi quá sâu ở
từng nội dung trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo
dục. Tuy nhiên, luận văn có phân tích và khái quát hóa các yêu cầu thực tế
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC
1. Khái niệm vi phạm hành chính và vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục; Các dấu hiệu của vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giáo dục; Cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục
1.1. Khái niệm vi phạm hành chính và vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục.
Vi phạm hành chính là hành vi được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý
bởi cá nhân, cơ quan, tổ chức, vi phạm các quy định của pháp luật về quản
lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải
bị xử lý vi phạm hành chính.
Bản chất của vi phạm hành chính là hành vi vi phạm các quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước do cá nhân, tổ chức thực hiện và vi phạm này
không phải là tội phạm, tức chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó
yếu tố có tính chất quyết định là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi,
nói một cách khác, mức độ nguy hiểm của hành vi thấp hơn tội phạm.
Về giáo dục, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo Từ điển
Tiếng Việt năm 1997 do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản thì giáo dục là
hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần,
thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được
những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra.
Hiểu một cách rộng hơn, giáo dục là hoạt động có mục đích, có
chương trình, tác động vào con người thông qua một hệ thống các biện pháp
tác động nhằm truyền thụ tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối
sống, chuẩn bị cho đối tượng của giáo dục tham gia lao động, đi vào đời
sống xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Giáo dục là hoạt động tất yếu
10
của phát triển xã hội loài người, là một bộ phận cơ bản của quá trình tái sản
Thứ nhất, vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục là một hành vi.
Theo Các-Mác thì “ con người chỉ tồn tại đối với pháp luật thông qua
hành vi của mình”. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục cũng như
mọi vi phạm khác, trước hết nó phải là hành vi, nó chỉ được thực hiện bởi
hành vi. Những suy nghĩ, quan niệm, tư tưởng, khi chưa thể hiện thành hành
vi thì dù xấu thế nào cũng chưa phải là vi phạm pháp luật. Hành vi có thể
thực hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động.
Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục là loại hành vi
xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại đến các quan hệ xã hội hình thành trong
lĩnh vực quản lý nhà nước về giáo dục. Các quan hệ này được nhà nước tác
động, điều chỉnh bằng pháp luật. Mặc dù có nội dung đa dạng nhưng các
quan hệ xã hội trong quản lý nhà nước được sắp xếp, phân loại thành những
nhóm nhất định do các quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh, tạo nên
trật tự quản lý nhà nước. Tĩnh xâm hại đến các quy tắc quản lý nhà nước
trong hoạt động giáo dục của hành vi vi phạm hành chính là việc làm tổn hại
đến các trật tự quản lý nhà nước trong hoạt động giáo dục được pháp luật
quy định và bảo vệ.
Thứ hai, tính trái pháp luật của hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giáo dục thể hiện ở chỗ, những hành vi do chủ thể vi phạm hành chính
thực hiện trái với quy định của pháp luật hành chính điểu chỉnh các quan hệ
trong lĩnh vực quản lý nhà nước về giáo dục. Cụ thể hơn, đó là hành động bị
pháp luật hành chính cấm, hoặc không thực hiện, hay thực hiện không đúng,
hành động mà pháp luật hành chính buộc phải thực hiện. Ví dụ: Pháp luật
quy định không được cấp văn bằng, chứng chỉ có nội dung sai gây trở ngại
cho người sử dụng mà vẫn cấp văn bằng chứng chỉ có nội dung sai gây trở
ngại cho người sử dụng, hoặc phải dạy đủ số tiết, nội dung kiến thức môn
học nhưng không dạy đủ theo quy định…thì đều là hành vi (hành động và
không hành động) trái pháp luật.
12
13
hậu quả của nó (chỉ cần hành động hay không hành động trái pháp luật là đủ
căn cứ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính).
- Hành vi trái pháp luật và có lỗi phải được văn bản pháp luật quy
định là vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục và phải chịu trách nhiệm
hành chính (dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của vi phạm hành
chính).
Có thể dễ dàng nhận thấy, tính nguy hiểm cho xã hội của các hành vi
là tiêu chí cở bản để nhà làm luật tiến hành phân chia chúng thành các loại
khác nhau: tội phạm, vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật dân
sự…
Thứ ba, tính có lỗi của vi phạm hành chính. Mặt chủ quan của vi
phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục
nói riêng thể hiện ở tính chất có lỗi của nó. Lỗi là dấu hiệu cơ bản, bắt buộc
của vi phạm pháp luật, do các cá nhân thực hiện. Lỗi là trạng thái tâm lý, là
thái độ của người vi phạm đối với hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi
đó tại thời điểm thực hiện hành vi của mình.
Hành vi được thực hiện phải là kết quả của sự tự lựa chọn, tự quyết
định của các cá nhân hoặc tổ chức. Nội dung của lỗi thể hiện sự nhận thức
của người vi phạm. Do đó, nếu là người không nhận thức được tính xâm hại
cho xã hội của hành vi thì coi như không có lỗi và không có vi phạm pháp
luật nói chung và vi phạm hành chính nói riêng.
Thứ tư, tính bị xử phạt vi phạm hành chính. Trong vi phạm hành
chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục nói riêng,
tính bị xử phạt vi phạm hành chính được biểu hiện ở chỗ vi phạm hành
chính là cơ sở để áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính tương ứng
đối với chủ thể vi phạm.
Vì vậy có thể coi tính bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giáo dục là một dấu hiệu của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục.
Đây là dấu hiệu bắt nguồn từ tính xâm hại và tính trái pháp luật hành chính,
quan hệ xã hội và trật tự quản lý nhà nước được pháp luật bảo vệ. Vi phạm
15
hành chính trong lĩnh vực giáo dục thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của
hành vi do tính trái pháp luật của nó. Các hành vi vi phạm hành chính này có
thể gây hậu quả không nghiêm trọng nhưng lại có thể xảy ra phổ biến, và
như vậy nhiều hành vi cùng thực hiện sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã
hội. Mặc dù vậy, tính nguy hiểm của hành vi vi phạm hành chính thấp hơn
so với tội phạm hình sự.
Như phần trên đã trình bày, phần lớn cấu thành vi phạm hành chính
nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục nói riêng không
bắt buộc phải có dấu hiệu hậu qủa thiệt hại của hành vi. Tuy nhiên, đối với
cấu thành pháp lý của một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giáo dục thì hậu quả thiệt hại cho xã hội là bắt buộc.
Giữa hành vi vi phạm và hậu quả của vi phạm có mối quan hệ nhân
quả, trong đó hậu quả của vi phạm hành chính có tiền đề xuất hiện từ hành
vi khách quan của vi phạm hành chính. Quan hệ giữa hành vi vi phạm hành
chính và thiệt hại mà nó gây ra nhất thiết phải được xác định khi hậu quả
của hành vi được tính là cơ sở, là căn cứ để lựa chọn áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính khác nhằm khắc phục hậu quả gây ra của hành vi.
Tuy nhiên để áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục một cách có hiệu quả, đúng người, đúng vi phạm trong
nhiều trường hợp rất cần đến việc xác định các dấu hiệu về thời gian, địa
điểm thực hiện hành vi. Nghiên cứu điều này tức là có thể xác định được
điều kiện thực hiện hành vi vi phạm của cá nhân, tổ chức vi phạm.
Thứ hai, mặt chủ quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo
dục:
Mặt chủ quan của vi phạm là dấu hiệu bên trong của vi phạm hành
chính. Một hành vi trái pháp luật không đồng nghĩa với vi phạm pháp luật,
nếu chưa xác định yếu tố chủ quan là lỗi, thái độ và đông cơ, mục đích của
khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục, mà chỉ những
quan hệ được bảo vệ bằng các biện pháp trách nhiệm hành chính trong số đó
mà thôi. Nếu các quan hệ đó không được các quy phạm về trách nhiệm hành
17
chính bảo vệ thì đó không phải là khách thể của vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục, mà có thể là khách thể của tội phạm, vi phạm kỷ luật, vi
phạm dân sự, lao động, hành chính, kinh tế…
Thứ tư, chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục
Theo quy định của pháp luật về vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giáo dục, chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục là cá nhân,
tổ chức có năng lực chịu trách nhiệm hành chính. Cá nhân có thể chịu trách
nhiệm hành chính khi có đủ năng lực pháp lý trách nhiệm hành chính và
năng lực hành vi trách nhiệm hành chính, trừ những người mất khả năng
điều khiển hành vi như không bị bệnh tâm thần và các bệnh khác làm mất
khả năng nhận thức hoặc khả năng tự điều khiển hành vi của mình; những
người hành động trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ
chính đáng, sự kiện bất ngờ. (Khoản 5, Điều 3, Nghị định Xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giáo dục).
Điều 7 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Điều 2 Nghị định Xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục quy định rõ: Người từ đủ
14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi vi phạm hành chính
do mình gây ra; Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính
thì bị phạt cảnh cáo; Người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị áp dụng hình thức
xử phạt vi phạm hành chính trong giáo dục như người đã thành niên nhưng
mức phạt tiển không được quá một phần hai mức phạt đối với người thành
niên; trong trường hợp họ không có tiền nộp phạt thi cha mẹ hoặc người
giám hộ phải nộp thay; Người chưa thành niên vi phạm hành chính gây thiệt
hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Ngoài các cá nhân thông thường, quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị
chức có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực giáo dục”
2.2. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục:
Theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và
Nghị định của Chính phủ về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
19
giáo dục có thể thấy xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục cần
đảm bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Khoản 2, Điều 3
Nghị định 49 quy định “Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giáo dục khi có hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này
và các Nghị định khác của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành
chính có liên quan. Ngoài ra, theo Pháp lệnh về Xử lý vi phạm hành chính
năm 2002, việc xử lý vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến
hành theo đúng quy định của pháp luật. Và nhiều quy định khác thể hiện
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trọng hoạt động xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giáo dục. Chủ thể có hành vi vi phạm chỉ bị xử phạt
hành chính khi pháp luật quy định hành vi đó phải bị xử lý và người xử lý
hành chính cũng phải tiến hành các trình tự theo đúng quy định về thẩm
quyền và thủ tục luật định.
Thứ hai, nguyên tắc kịp thời, nhanh chóng, triệt để. Mọi hành vi vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục phải được phát hiện kịp thời và
phải bị đình chỉ ngay. Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo
dục phải được tiến hành nhanh chóng, triệt để, mọi hậu quả do hành vi vi
phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp
luật
Thứ ba, nguyên tắc xử lý công minh. Pháp luật quy định mọi hoạt
động xử lý vi phạm hành chính nói chung và xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục nói riêng phải đảm bảo công minh. Xử lý phải đúng
lĩnh vực giáo dục thì hoạt động xử phạt vi phạm hành chính là một trong
những hoạt động quan trọng nhất, có ý nghĩa to lớn trong đấu tranh phòng
chống vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục, có tác dụng trực tiếp
củng cố, tăng cường trật tự quản lý nhà nước. Thực chất của việc xử phạt vi
phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giáo dục nói riêng là việc áp dụng các chế tài hành chính có tính chất răn đe
do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành đối với cá nhân, tổ chức vi phạm
21
hành chính theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc áp dụng chế tài
hành chính không phải tập trung vào mục đích răn đe mà chủ yếu hướng tới
giáo dục người vi phạm và công dân nói chung.
Chúng ta có thể đưa ra khái niệm về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục như sau: “ Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giáo dục là hoạt động áp dụng các chế tài hành chính do các cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định nhằm
mục đích giáo dục và răn đe các chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giáo dục cũng như các công dân nói chung để bảo vệ trật tự quản lý nhà
nước trong lĩnh vực giáo dục.”.
2.3. Đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo
dục:
Hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục có những
đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, cơ sở để xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục
trước hết là hành vi vi phạm hành chính mà theo quy định của pháp luật
hành vi này vi phạm quy định quản lý nhà nước về giáo dục nhưng chưa
phải là tội phạm. Điều này có nghĩa là xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giáo dục chỉ được tiến hành khi có hành vi vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục.
Khoản 2, điều 3 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 quy
hành chính trong lĩnh vực giáo dục
Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục bao gồm các hình
thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả. Các hình
thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả là một
trong những nội dung quan trọng của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giáo dục.
Hình thức xử phạt trong xử lý vi hành chính trong giáo dục thể hiện
sự răn đe, trừng phạt của pháp luật đối với những cá nhân, tổ chức có hành
23
vi vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục thông qua
việc buộc người vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất
hoặc tinh thần.
Ngoài mục đích ngăn chặn hành vi vi phạm và răn đe, trừng phạt, các
quy định này còn mang tính giáo dục đối với cá nhân, tổ chức bị xử phạt,
góp phần nâng cao ý thức của công dân trong việc chấp hành pháp luật và
các quy tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, qua đó bảo vệ và duy
trì trật tự quản lý nhà nước.
Các biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giáo dục mang tính cưỡng chế nhà nước, được áp dụng nhằm
khắc phục triệt để hậu quả do vi phạm hành chính gây ra, bảo đảm lợi ích
chung của cộng đồng và hoạt động bình thường của xã hội. Các hình thức
xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh
vực giáo dục được quy định chi tiết tại Điều 7, Nghị định 49.
3.1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo
dục
Theo Nghị định 49, hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong giáo
dục gồm hai loại: hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung.
3.1.1.Về hình thức xử phạt chính:
Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục, cá
Hình thức phạt cảnh cáo là một trong hai hình thức xử phạt chính
trong xử phạt vi phạm hành chính trong giáo dục. So với hình thức phạt tiền,
cảnh cáo là hình thức xử phạt nhẹ hơn, mang ý nghĩa giáo dục nhiều hơn
trừng phạt. Tuy nhiên, cảnh cáo là hình phạt thể hiện thái độ răn đe nghiêm
khắc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, do đó, vẫn
mang tính cưỡng chế nhà nước, gây cho người bị xử phạt những tổn hại nhất
định về mặt tinh thần.
Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành
chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện.
25
3.1.2.Về hình thức xử phạt bổ sung:
Ngoài 2 hình thức phạt chính nói trên, pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giáo dục tại Nghị định 49 quy định các hình thức
xử phạt bổ sung. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, các nhân, tổ chức vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục có thể bị áp dụng một hoặc các
hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
- Tước quyền sử dụng các quyết định thành lập, giấy phép, chứng chỉ
hành nghề có thời hạn hoặc không thời hạn đối với cá nhân, tổ chức vi phạm
nghiêm trọng quy định sử dụng quyết định, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng đề vi phạm.
- Trục xuất nếu người vi phạm là người nước ngoài.
Tước quyền sử dụng các quyết định thành lập, giấy phép, chứng chỉ
hành nghề là hình phạt bổ sung được áp dụng trong trường hợp cần tước
đoạt một điều kiện hành chính trong hoạt động giáo dục đã cho phép có thời
hạn hoặc không thời hạn nhằm hạn chế khả năng tiếp tục vi phạm và trừng
phạt do đã có hành vi vi phạm gây ra.
Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm là hình
phạt bổ sung được áp dụng trong trường hợp cần tước bỏ quyền sở hữu về
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm
hành chính gây ra theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
- Buộc đình chỉ hoặc chấm dứt hoạt động giảng dạy, giáo dục.
- Buộc huỷ bỏ kết quả các môn thi hoặc chấm lại bài thi.
- Buộc thực hiện giảng dạy, hướng dẫn thực hành, thực tập bổ sung đủ
số tiết, nội dung, chương trình theo đúng quy định; cung ứng tài liệu, thiết bị
theo đúng kế hoạch đã được phê duyệt.
- Buộc huỷ bỏ quyết định sai trái, trái với quy định của cơ quan có
thẩm quyền.
- Buộc khôi phục quyền học tập, lợi ích hợp pháp, kết quả đánh giá
đúng của người học, bảo đảm quyền của người được sử dụng văn bằng,
chứng chỉ.