Thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC SƠN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC AN NINH,
TRẬT TỰ VÀ AN TOÀN XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC SƠN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC AN NINH, TRẬT TỰ VÀ AN TOÀN XÃ
HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới
PGS.TS Lê Văn Long người Thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu, học
tập, dành thời gian quý báu để trao đổi, định hướng cũng như động viên khích lệ tôi
hoàn thành Luận văn luật học này.
Xin chân thành cảm ơn toàn thể các Thầy, Cô trong khoa sau Đại học của
Trường Đại học Luật Hà Nội về những kiến thức quý báu đã truyền đạt cho tôi, đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
tốt nghiệp.
Tôi vô cùng biết ơn những người thân yêu của tôi và các bạn bè, đồng nghiệp
thân thiết luôn động viên để tôi duy trì nghị lực, luôn cảm thông và chia sẻ về cả thời
gian, sức khỏe và các nguồn lực khác trong suốt quá trình hoàn thành Luận văn./.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Ngọc Sơn


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADPL:

Áp dụng pháp luật

AN, TT:

An ninh, trật tự

ATXH:



1

2.

2

Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn

3

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

4

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4

6. Đóng góp mới của Luận văn

4

7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

5

8. Kết cấu của Luận văn

TRONG LĨNH VỰC AN NINH, TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ 40
HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIÊN NAY
2.1. Thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và 40
an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội


2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực an ninh, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn thành phố
Hà Nội hiện nay

41

Kết luận chương 2

65

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC AN
NINH, TRẬT TỰ VÀ AN TOÀN XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

66

3.1. Bảo đảm điều kiện thiết yếu cho quá trình thực hiện pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và an
toàn xã hội

66

3.2. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong

92

Kết luận chương 3
KẾT LUẬN CHUNG

97
98


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích mà các chủ thể pháp
luật bằng hành vi của mình thực hiện các quy định pháp luật trong thực tế đời sống.
Thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và an
toàn xã hội là một lĩnh vực thực hiện pháp luật cụ thể. Nó có khái niệm, đặc điểm riêng
biệt cần được định nghĩa, bổ sung, cụ thể hóa lý luận chung và soi rọi vào thực tiễn
thực hiện pháp luật. Từ đó, đối chiếu đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính về an ninh, trật tự và an toàn xã hội làm cơ sở để đưa ra các giải pháp
nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
Thực tiễn cho thấy, trong những năm qua, việc bảo đảm thực hiện pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và an toàn xã hội bên cạnh
những ưu điểm đã bộc lộ nhiều bất cập, quy định pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn,
chưa rõ ràng, khó áp dụng, thiếu sự phù hợp với thực tế, còn hạn chế tính khả thi. Hoạt
động giải thích pháp luật vi phạm hành chính đã triển khai song hiệu quả chưa cao dẫn
đến việc áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự
và an toàn xã hội nhiều nơi còn tùy tiện hoặc dung túng bao che, không xử lý hoặc xử
lý không kịp thời, những điều đó làm nảy sinh tâm lý coi thường kỷ cương phép nước.

về pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Theo đường lối đổi mới và nhất là nhằm
thực hiện chủ trương “quản lý đất nước bằng pháp luật”, việc nghiên cứu những vấn đề
lý luận về pháp luật, cơ chế thực hiện pháp luật nói chung, pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính nói riêng đã có sự phát triển mạnh. Có thể kể đến một số công trình sau:
- Luận văn thạc sĩ luật học: “Thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía bắc ở
nước ta hiện nay – thực trạng và các phương hướng, giải pháp” của Lê Thanh Bình,
2002. Đề tài đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về thực hiện pháp
luật ở các tỉnh miền núi như: khái niệm, những nội dung cơ bản, thực trạng thực hiện
pháp luật ở các tỉnh miền núi phía bắc. Những giá trị của đề tài đã nghiên cứu về sự
bảo đảm về mặt pháp lý đối với việc thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía bắc.
- Luận văn thạc sĩ luật học: “Tăng cường pháp chễ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh
vực xử lý vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay” của Đặng Thanh Sơn, 2003. Nội
dung của công trình này nghiên cứu sâu về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, khái
niệm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính ở
nước ta hiện nay.
- Chuyên đề “ Hoàn thiện các biện pháp xử lý hành chính khác theo pháp luật
Việt Nam” của Thạc sĩ Lê Ngọc Thanh (tỉnh Đăc Lắc) đăng trên tạp chí Dân chủ và
Pháp luật số 1/2006.


3

- Bài viết “ Quyền công dân, quyền con người và chỗ đứng của “các biện pháp
xử lý hành chính khác” trong pháp luật về vi phạm hành chính” của tác giả Trần
Thanh Hương đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 11/2015.
- Bài viết “Đổi mới tổ chức xét xử khiếu kiện hành chính theo tinh thần cải cách
tư pháp” của tác giả Thạc sĩ Nguyễn Thanh Bình (Học viện Tư Pháp) và bài viết
“Nhằm nâng cao hiệu quả xét xử hành chính của TAND” của Thạc sĩ Hoàng Quốc
Hồng (Trường Đại học Luật Hà Nội) đăng trên tạp chí Nghề Luật số 1/2006.
Ngoài ra, còn có một số bài viết của các cán bộ chuyên gia trong và ngoài ngành

+ Phân tích, đánh giá thực trạng, tìm ra các nguyên nhân hạn chế việc thực hiện
pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
+ Khuyến nghị các giải pháp bảo đảm điều kiện thiết yếu cho quá trình thực
hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và an toàn xã
hội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: Là những vấn đề lý luận và thực tiễn
thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và an
toàn xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ có hạn, Luận văn chỉ tập trung nghiên
cứu những vấn đề cơ bản của việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội và nghiên cứu chủ yếu giai đoạn từ sau
đổi mới (1986) đến nay, đồng thời có tham khảo các quy định pháp luật trước đó khi
phân tích các vấn đề mang tính lịch sử vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật
tự và an toàn xã hội.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về
tuyên truyền, giáo dục thực hiện pháp luật. Luận văn dựa trên cơ sở lý luận trực tiếp
của bộ môn lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của khoa học pháp lý xã hội chủ
nghĩa.
- Về phương pháp nghiên cứu, Luận văn sử dụng các phương pháp của triết học
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, như phương pháp lý luận với thực tiễn, phân
tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể. Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu của một số bộ môn khoa học khác như phương pháp luật học so sánh,
phương pháp xã hội học (điều tra, khảo sát).
6. Đóng góp mới của Luận văn
Điểm mới nhất của Luận văn là ở chỗ không chỉ nghiên cứu thực hiện pháp luật,
nguyên nhân hạn chế việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực an ninh, trật tự và an toàn xã hội mà còn nghiên cứu làm sáng tỏ các yếu tố cấu

8. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Luận văn được kết cấu thành 3 chương sau:


6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC AN NINH,
TRẬT TỰ VÀ AN TOÀN XÃ HỘI
1.1. Những vấn đề lý luận về pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực an ninh, trật tự và an toàn xã hội
1.1.1. Khái niệm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an
ninh, trật tự và an toàn xã hội
1.1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật xẩy ra khá phổ biến hàng
ngày trong đời sống xã hội. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với
tội phạm nhưng VPHC là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của
Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng,
là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã
hội nếu như không được ngăn chặn và xử lý kịp thời. Chính vì lẽ đó, công tác đấu tranh
phòng và chống VPHC luôn là vấn đề được xã hội quan tâm.
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “VPHC” lần đầu tiên được định nghĩa
một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt VPHC ngày 30/11/1989, Điều 1 của Pháp
lệnh này quy định: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm
hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”[31]. Định nghĩa
này sau đó đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đưa vào các
giáo trình giảng dạy về pháp luật. Theo Pháp lệnh xử lý VPHC năm 1995 và sau đó là
Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002 thì khái niệm VPHC không được định nghĩa riêng

nhận thức được điều đó nhưng vẫn cố tình thực hiện (lỗi cố ý). Khi có đủ căn cứ để cho
rằng chủ thể thực hiện hành vi trong tình trạng không có khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi, chúng ta có thể kết luận rằng đã không có VPHC xảy ra.
Ngoài dấu hiệu lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của mọi VPHC, ở một số
trường hợp cụ thể, pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc của
một số loại VPHC. Luật Xử lý VPHC hiện hành quy định tổ chức bị xử phạt VPHC về
mọi VPHC do mình gây ra. Đồng thời, nó phải có trách nhiệm xác định lỗi của người
thuộc tổ chức mình trực tiếp gây ra VPHC trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được
giao để truy cứu trách nhiệm kỷ luật và để bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp
luật.
Ba là, chủ thể thực hiện hành vi VPHC là tổ chức hoặc cá nhân có năng lực chịu
trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính. Đối với tổ chức, thì
hành vi này được thực hiện bởi cá nhân nhưng dưới danh nghĩa tổ chức (do tổ chức
giao, phân công hoặc thực hiện hành vi nhân danh tổ chức đó). Các chủ thể thực hiện
hành vi VPHC là tổ chức hoặc cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính.


8

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt VPHC về VPHC do cố ý. Như vậy, khi
xác định người ở độ tuổi này có VPHC hay không cần xác định yếu tố lỗi trong mặt
chủ quan của họ. Luật Xử lý VPHC hiện hành không định nghĩa thế nào là lỗi cố ý
hoặc vô ý trong VPHC. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, thông thường người thực
hiện hành vi với lỗi cố ý là người nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, bị pháp luật cấm đoán nhưng vẫn cố tình thực hiện. Người từ đủ 16 tuổi trở lên
bị xử phạt VPHC về mọi VPHC (vi phạm do lỗi cố ý hay vô ý). Tổ chức là chủ thể
VPHC là cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính
trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn
vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật. Tổ
chức, cá nhân nước ngoài cũng là chủ thể VPHC theo quy định của pháp luật Việt

hiện hoặc không thể ý thức được, từ đó không thể lựa chọn cách xử sự theo yêu cầu
của pháp luật thì hành vi đó không thể coi là có lỗi và chủ thể không bị coi là vi phạm
pháp luật. Kể cả những hành vi trái pháp luật mà chủ thể bị buộc phải thực hiện trong
điều kiện không có tự do ý chí thì cũng không bị coi là có lỗi.
- Chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật phải có năng lực trách nhiệm pháp lý.
Trong pháp luật xã hội chủ nghĩa sự độc lập gánh chịu nghĩa vụ pháp lý chỉ quy định
đối với những người có khả năng tự lựa chọn cách xử sự và có tự do ý chí, nói một
cách khác, người đó phải có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
mình. Những hành vi mặc dù trái pháp luật nhưng do những người mất khả năng nhận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không thể coi là vi phạm pháp luật.
Hành vi trái pháp luật của trẻ em (chưa đến độ tuổi pháp luật quy định phải chịu trách
nhiệm pháp lý) cũng không bị coi là vi phạm pháp luật. Như vậy, trách nhiệm pháp lý
trong pháp luật xã hội chủ nghĩa chỉ quy định cho những người đã đạt một độ tuỏi nhất
định theo quy định của pháp luật, có khả năng lý trí và tự do ý chí.
Từ những dấu hiệu trên có thể xác định: Vi phạm pháp luật là hành vi (hành
động hoặc không hành động) trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách
nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xã hội chủ
nghĩa bảo vệ.
Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính
Để xác định một hành vi xẩy ra có phải là vi phạm hành chính hay không, cần
xác định các dấu hiệu pháp lý của các yếu tố cấu thành loại vi phạm hành chính này.
Những dấu hiệu này được mô tả trong các văn bản pháp luật quy định về VPHC, hình
thức và biện pháp xử lý VPHC. Giống như bất kì loại vi phạm pháp luật nào, VPHC
được cấu thành bởi bốn yếu tố:
- Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của VPHC là hành vi VPHC. Nói
cách khác, hành vi mà tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vi xâm phạm các quy tắc
quản lý nhà nước và đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm. Việc bị ngăn cấm được thể


10

vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý; Tổ chức bị xử phạt vi
phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra; Cá nhân, tổ chức nước
ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc


11

quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu
bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi
phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc
tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. Đối
tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là cá nhân được quy định tại các điều 90,
92, 94 và 96 của, Luật Xử lý VPHC năm 2012. Các biện pháp xử lý hành chính không
áp dụng đối với người nước ngoài.
- Vi phạm hành chính cũng như mọi VPPL khác đều xâm hại đến các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ. Dấu hiệu khách thể để nhận biết về VPHC là hành vi vi
phạm này đã xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật hành
chính quy định và bảo vệ. Nói cách khác, VPHC là hành vi trái với các quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như quy
tắc về an ninh, trật tự, an toàn xã hội,... Điều đó đã được quy định trong các văn bản
pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
1.1.1.2. Khái niệm xử lý vi phạm hành chính
Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện
pháp xử lý hành chính.
Xử phạt hành chính
Xử phạt hành chính thực chất là một loại hoạt động quản lý hành chính Nhà
nước. Đó là loại hoạt động đặc biệt và rất phức tạp bao gồm một loạt các hành vi cụ thể
liên quan mật thiết với nhau như phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của VPHC, xác
định thẩm quyền xử phạt, đối chiếu với quy định của pháp luật, áp dụng hình thức và
mức phạt và ra quyết định xử phạt hành chính.

Từ quy định trên, khi áp dụng các biện pháp xử phạt đòi hỏi các cơ quan hoặc
cán bộ Nhà nước có thẩm quyền phải xác định rõ có VPHC xảy ra hay không, tính chất
và mức độ của vi phạm như thế nào, hành vi vi phạm đó có quy định trong các văn bản
pháp luật quy định về xử phạt hành chính hay chưa.
- Hoạt động xử phạt hành chính được tiến hành qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn
nhưng kết quả của hoạt động này phải được thể hiện bằng quyết định xử phạt hành
chính. Trong xử phạt hành chính, các chủ thể có thẩm quyền tiến hành xử phạt luôn
được thực hiện hai loại hành vi: 1- Hành vi ban hành quyết định xử phạt hành chính.
Quyết định xử phạt hành chính phải được thể hiện bằng văn bản hay bằng một hình
thức khác do pháp luật quy định; 2 – Hành vi hành chính khác, như nhằm đình chỉ
hành vi vi phạm, lập biên bản vi phạm, giải thích hành vi vi phạm và thông báo điều
khoản văn bản pháp luật được áp dụng cho cá nhân hoặc tổ chức vi phạm,…
Hai loại hành vi trên luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau.
Trong đó, hành vi ban hành quyết định xử phạt là cơ bản và chủ yếu nhất. Các hành vi
hành chính khác được thực hiện nhằm hướng tới việc ra quyết định xử phạt hoặc thực


13

hiện trên cơ sở quyết định xử phạt. Đặc biệt, khi ban hành quyết định xử phạt sẽ dẫn
đến hậu quả pháp lý là làm phát sinh trách nhiệm hành chính. Quyết định xử phạt hành
chính là hình thức thể hiện công khai ý trí và thái độ của Nhà nước phản ứng trước các
hành vi VPHC và mức cưỡng chế của Nhà nước đối với chủ thể vi phạm.
- Hoạt động xử phạt hành chính được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật và
phải tuân thủ pháp luật về trình tự, thủ tục hành chính. Tất cả các cơ quan, cán bộ có
thẩm quyền xử phạt hành chính khi thực hiện các hành vi xử phạt đều phải tuân thủ
theo các trình tự, thủ tục hành chính do pháp luật quy định chứ không tuân theo các
quy định về Tố tụng hình sự kể cả trường hợp Tòa án nhân dân thực hiện quyền xử
phạt hành chính.
Xử lý vi phạm hành chính

cương đó được xác lập trên cơ sở các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành
(được gọi là những quy phạm pháp luật) và những giá trị xã hội, chuẩn mực đạo đức
truyền thống được mọi người trong xã hội thừa nhận, tôn trọng, tuân thủ và nhờ đó mà
mọi người có được cuộc sống yên ổn.
Nói cách khác, trật tự, an toàn xã hội là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cương,
trong đó mọi người có cuộc sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn
mực đạo đức, pháp lý xác định. Để làm được điều đó, chúng ta phải áp dụng các biện
pháp theo quy định của pháp luật để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh
chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác xâm hại đến cuộc sống an toàn của mọi
người dân, đến trật tự, kỷ cương của đất nước.
Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn xã hội là hoạt động chấp hành và
điều hành của các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức xã hội được Nhà nước ủy quyền,
được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật nhằm thực hiện các chức
năng của Nhà nước trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Từ những phân tích ở trên có thể hiểu: An ninh, trật tự, an toàn xã hội là thuật
ngữ pháp lý dùng để chỉ trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cương, trong đó mọi người
sống yên ổn trên cơ sở các quy định pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội, thuần
phong mỹ tục của dân tộc.
- Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và an toàn xã
hội.
Thực hiện pháp luật xử lý VPHC trong lĩnh vực AN, TT và ATXH hầu hết là do
cơ quan Công an và UBND các cấp, trong đó lực lượng Công an là chủ yếu thực hiện
quản lý về xử phạt VPHC trong lĩnh vực AN, TT, ATXH; xử phạt VPHC và áp dụng
các biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật; bảo đảm AN, TT trong
việc thực hiện quyết định cưỡng chế khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Cơ


15

quan Công an thực hiện các quyền đó thông qua một hệ thống các quy trình thủ tục

thủ tục hành chính quy định; hoạt động xử phạt VPHC không chỉ nhằm bảo đảm thực


16

hiện bảo vệ các quy phạm vật chất của ngành luật hành chính mà còn bảo đảm thực
hiện và bảo vệ các quy phạm vật chất của các ngành luật khác; giữa các cơ quan nhà
nước, người có thẩm quyền thực hiện xử phạt VPHC và chủ thể bị áp dụng các biện
pháp xử phạt VPHC không có quan hệ trực thuộc thì xử phạt VPHC trong lĩnh vực
AN, TT, ATXH có một số đặc điểm riêng sau:
Khi thực hiện xử lý VPPL hành chính người có thẩm quyền xử phạt chỉ được
thực hiện quyền xử phạt của mình trong phạm vi mà pháp luật đã quy định. Trong
trường hợp quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng biện pháp hành chính khác
vượt thẩm quyển của người xử phạt VPHC thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến
cấp có thẩm quyền xử phạt.
Kết quả của việc xử phạt VPHC trong lĩnh vực AN, TT và ATXH thể hiện ở các
quyết định xử phạt hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
do VPHC gây ra. Việc quyết định áp dụng các hình thức xử phạt, các biện pháp khắc
phục hậu quả VPHC thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc của Nhà nước đối với cá
nhân, tổ chức VPHC trong lĩnh vực AN, TT và ATXH, qua đó giáo dục ý thức tuân thủ
pháp luật về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực AN, TT và ATXH.
Biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực AN, TT và ATXH như các biện pháp
khắc phục hậu quả do VPHC trong lĩnh vực AN, TT và ATXH gây ra. Về bản chất,
biện pháp này không có tính chất trừng phạt người VPHC mà chỉ nhằm mục đích khắc
phục hậu quả do VPHC để lại trên thực tế. Biện pháp này gồm: Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch
thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC; Xử phạt trục xuất đối với
người nước ngoài.
Qua các phân tích ở trên có thể định nghĩa pháp luật xử lý VPHC trong lĩnh vực
AN, TT, ATXH như sau: Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh,

ngày nhằm mục đích gây rối TTCC, cố ý gây thương tích cho người khác; Lôi kéo
hoặc kích động người khác gây rối, làm mất TTCC; Thuê hoặc lôi kéo người khác
đánh nhau; Gây rối trật tự tại phiên tòa, nơi thi hành án hoặc có hành vi khác gây trở
ngại cho hoạt động xét xử, thi hành án; Gây rối trật tự tại nơi tổ chức thi hành quyết
định cưỡng chế; Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người
khác; Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người
khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân; Gây rối hoặc cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức; Tập trung
đông người trái pháp luật tại nơi công cộng hoặc các địa điểm, khu vực cấm; Tổ chức,
tạo điều kiện cho người khác kết hôn với người nước ngoài trái với thuần phong mỹ tục
hoặc trái với quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng tới AN, TT, ATXH; Viết, phát


18

tán, lưu hành tài liệu có nội dung xuyên tạc bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín
của tổ chức, cá nhân; Tàng trữ, vận chuyển “đèn trời”.
+ Gây rối TTCC mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ
trợ; Sản xuất, nhập khẩu, buôn bán "đèn trời".
Nếu cá nhân, tổ chức Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi
phạm các quy định trên thì khi đó cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt VPHC sẽ
THPL bằng hình thức ADPL xử lý VPHC trong lĩnh vực TTCC ra quyết định xử phạt
VPHC tùy theo mức độ hành vi có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đến
5.000.000 đồng. Ngoài việc bị phạt tiền cá nhân, tổ chức VPHC còn có thể bị phạt bổ
sung: Tịch thu tang vật, phương tiện VPHC, trục xuất theo quy định tại Điều 5, Nghị
định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt VPHC trong
lĩnh vực AN, TT và ATXH.
1.1.2.2. Các quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
đảm sự yên tĩnh chung
Theo quy định tại Điều 6, Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status