Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội - Pdf 57

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ DƯƠNG

PH¸P LUËT VÒ Xö Lý VI PH¹M HµNH CHÝNH
TRONG LÜNH VùC §ÊT §AI Tõ THùC TIÔN THI
HµNH
T¹I THµNH PHè Hµ NéI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ DƯƠNG

PH¸P LUËT VÒ Xö Lý VI PH¹M HµNH CHÝNH
TRONG LÜNH VùC §ÊT §AI Tõ THùC TIÔN THI
HµNH
T¹I THµNH PHè Hµ NéI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN QUANG TUYẾN


KHÁI QUÁT CHUNG.................................................................................8
1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai..................................8
1.1.2. Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.......................13
1.1.3. Nội dung quy định về đối tượng, nguyên tắc, thẩm quyền và hình thức
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.........................................14
1.2.
LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI..................................................................20
1.2.1. Cơ sở xây dựng chế định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
.................................................................................................................... 20
1.2.2. Khái niệm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
.................................................................................................................... 23
1.2.3. Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai........................................................................25
Kết luận Chương 1..................................................................................................33
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN THI
HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI........................................................34
2.1.
NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI..................................................................34
2.1.1. Nội dung quy định về hành vi vi phạm hành chính hình thức, mức xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai..........................................34
2.1.2. Nội dung quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai...........................................................................................50


2.2.

THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH

KẾT LUẬN............................................................................................................88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................90
PHỤ LỤC............................................................................................................... 94


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
QSDĐ

Quyền sử dụng đất

SDĐ

Sử dụng đất

TN&MT

Tài nguyên và môi trường

UBND

Ủy ban nhân dân

VPHC

Vi phạm hành chính

VPPL


1.1. Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực đất đai là
một chế định cơ bản của pháp luật đất đai. Chế định này ra đời góp phần nâng cao
hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai; bởi lẽ, không phải bất cứ tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân nào khi sử dụng đất (SDĐ) (gọi chung là người SDĐ) cũng đều tự
giác SDĐ đúng mục đích, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch SDĐ và tuân thủ các
quy định của pháp luật đất đai. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường, dưới tác
động của các quy luật khách quan của thị trường thì đất đai ngày càng trở lên có giá
trị; nên một bộ phận không nhỏ người SDĐ sẵn sàng vi phạm pháp luật (VPPL) đất
đai miễn sao có được lợi nhuận do đất đai mang lại. Các quy định về xử lý VPHC
trong lĩnh vực đất đai đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu của giới khoa
học pháp lý nước ta. Thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học về vấn đề này
được công bố với một số giải pháp góp phần hoàn thiện chế định pháp luật về xử lý
VPHC trong lĩnh vực đất đai. Những giải pháp này đã được tham khảo trong quá
trình sửa đổi, bổ sung các quy định về xử lý VPHC về đất đai. Tuy nhiên, thực tiễn
thi hành pháp luật đất đai cho thấy hiệu quả của việc xử lý VPHC trong lĩnh vực đất
đai chưa đáp ứng sự kỳ vọng, mong muốn của xã hội. Nhiều vụ VPPL đất đai được
phát hiện nhưng việc xử lý thiếu dứt điểm, kiên quyết với những chế tài chưa đủ sức
răn đe, giáo dục người vi phạm. Điều này không chỉ khiến dư luận xã hội bức xúc
mà còn gây ra ý thức kinh nhờn, coi thường pháp luật và tạo sự rối ren trong quản lý
và SDĐ đai. Đây là lý do cần phải tiếp tục có sự nghiên cứu, đánh giá một cách hệ
thống, toàn diện thực trạng pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai nhằm
nhận diện những tồn tại, bất cập và nguyên nhân của tồn tại, bất cập; trên cơ sở đó,
đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành chế định xử
lý VPHC trong lĩnh đất đai. Mặt khác, Luật Đất đai năm 2013 ra đời với những sửa
đổi, bổ sung về xử lý VPPL đất đai và đang được các Bộ, ngành, địa phương tích
cực triển khai thi hành. Đặt trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu các quy định mới về xử

1





(1998), Tìm hiểu về xử phạt vi phạm hành chính, Nxb Pháp lý, Hà Nội; iv) Vũ Thư
(2000), Chế tài hành chính - Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
v) Bùi Minh Thanh (2003), Vi phạm pháp luật và đấu tranh chống vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; vi) Lê Nguyễn Nam Ninh (2004), Vi
phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực hải quan và giải pháp xử lý, luận văn
thạc sĩ luật học, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội; vii) Đỗ Thị Phượng
(2005), Vi phạm hành chính về đất đai ở Thái Bình - Thực trạng và giải pháp khắc
phục, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
v.v... Hoặc có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn như:
viii) Tôn Gia Huyên (2002), Chính sách đất đai của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam - Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; ix) Phạm Hữu Nghị (2002), Về thực
trạng chính sách đất đai ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8; x)
Nguyễn Đình Bồng (2001), Một số vấn đề quản lý nhà nước về đất đai trong giai
đoạn hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 04; xi) Nguyễn Mạnh Hùng (2003),
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với đất đai qua thực tiễn tỉnh Thái Bình, luận
văn thạc sĩ luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội…
Các công trình nghiên cứu trên đây đã giải quyết được một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về VPPL nói chung và VPHC nói riêng, bao gồm phân tích khái niệm,
đặc điểm, hậu quả của VPPL và VPHC; đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp
nâng cao hiệu quả phòng chống VPPL. Tuy nhiên, xem xét dưới góc độ pháp luật về
xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai một cách có hệ thống, đầy đủ và toàn diện trên
phương diện lý luận, thực tiễn đặt trong mối quan hệ tham chiếu với Luật Đất đai
năm 2013, Luật Xử lý VPHC năm 2012 và thực tiễn thi hành lĩnh vực pháp luật này
trên địa bàn thành phố Hà Nội thì dường như vẫn còn thiếu một công trình như vậy.
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên
quan đến đề tài đã công bố, luận văn đi sâu tìm hiểu pháp luật về xử lý VPHC trong

thi hành pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn thi hành tại
thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:

4


- Các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện pháp luật đất
đai nói chung và pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai nói riêng trong nền
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay;
- Các quy định của Luật Xử phạt VPHC năm 2012 và các văn bản hướng dẫn
thi hành;
- Các quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi
hành về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai;
- Các quy định của Luật Thủ đô và các văn bản hướng dẫn thi hành;
- Hệ thống lý thuyết, trường phái học thuật về xử lý VPHC nói chung và xử
lý VPHC trong lĩnh vực đất đai nói riêng;
- Thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai tại thành
phố Hà Nội…
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam là một đề tài có
phạm vi nghiên cứu rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Tuy
nhiên trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ luật, tác giả giới hạn phạm vi
nghiên cứu của luận văn ở những nội dung cụ thể sau:
- Nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai
ở Việt Nam của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
- Đánh giá thực tiễn thi hành các quy định về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất
đai ở Việt Nam của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành trên

- Hệ thống hóa, bổ sung và phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về pháp luật
về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam;
- Giải mã nội hàm khái niệm về xử lý VPHC nói chung và xử lý VPHC trong
lĩnh vực đất đai nói riêng; đồng thời chỉ ra những đặc điểm của xử lý VPHC trong
lĩnh vực đất đai;
- Tìm hiểu lịch sử phát triển của pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất
đai qua các thời kỳ nhằm nhận diện sự phát triển tư duy pháp lý của Nhà nước ta
trong xây dựng và hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này;
- Đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai và thực
tiễn thi hành chế định pháp luật này tại thành phố Hà Nội;
- Đưa ra các kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi
hành pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai tại thành phố Hà Nội.
7. Kết cấu của luận văn

6


Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai và nâng cao hiệu quả thi hành tại thành phố Hà Nội.

7


Chương 1


đầy đủ điều pháp luật bắt buộc phải làm hoặc làm điều mà pháp luật
cấm; 3) Là hành vi có chứa đựng lỗi của chủ thể - trạng thái tâm lí thể
hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi của mình ở thời điểm
chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật; 4) Là hành vi do chủ thể có năng
lực trách nhiệm pháp lí thực hiện (nếu chủ thể hành vi trái pháp luật là cá
nhân thì người đó phải đến độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lí theo luật
định, không mắc các bệnh tâm thần, có khả năng nhận thức được hậu quả
nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và hậu quả pháp lí của nó).
Tùy thuộc vào tính chất của vi phạm pháp luật, vào hậu quả có hại và
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng như tính chất của chế tài
có thể được áp dụng đối với hành vi mà các vi phạm pháp luật được chia
thành hai loại là tội phạm và vi phạm, trong đó vi phạm có thể là vi phạm
hành chính, vi phạm dân sự, vi phạm kỉ luật nhà nước [50, tr. 852].
Từ những quan niệm trên đây, chúng ta có thể hiểu VPPL là hành vi của con
người xâm phạm những điều bị pháp luật cấm hoặc không cho phép thực hiện.
VPPL có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là, VPPL là hành vi do con người thực hiện. Hành vi này được thể hiện
ra bên ngoài thế giới khách quan mà chúng ta có thể nhận biết được thông qua hành
động, ví dụ: hành động trộm, cắp xe máy của người khác; hành động cắt trộm dây
điện để lấy đồng bán kiếm lời v.v; hoặc không hành động, ví dụ: Không tố giác kẻ
phạm tội; không cứu giúp người khác khi họ bị đe dọa nguy hiểm đến tính mạng v.v...
Hai là, VPPL là hành vi trái pháp luật. Điều này có nghĩa là người bị xác
định VPPL có hành vi không thực hiện những điều do pháp luật quy định, ví dụ:
Không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông; điều khiển phương tiện giao thông
trong trạng thái say rượu v.v...; hoặc thực hiện hành vi bị pháp luật cấm, ví dụ: Vượt
đèn đỏ, nhận tiền tham nhũng v.v...
Ba là, VPPL là hành vi trái pháp luật được thực hiện do lỗi của người vi phạm.
Bốn là, người có hành vi VPPL có năng lực pháp lý thực hiện. Điều này có
nghĩa là người thực hiện hành vi VPPL có khả năng nhận thức được mức độ và hậu

Hành vi trái pháp luật đất đai là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng những quy định của pháp luật đất đai, xâm hại tới những khách thể
được pháp luật đất đai bảo vệ. Hành vi trái pháp luật đất đai được biểu hiện trên

10


thực tế bằng hành động (ví dụ: lấn, chiếm đất đai; SDĐ không đúng mục đích; hủy
hoại đất đai; giao đất không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng v.v...)
hoặc không hành động (ví dụ: không bồi bổ, cải tạo đất; nhận đất mà không sử
dụng; bỏ hoang hóa, lãng phí đất đai v.v...). Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp
xử sự của một người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định của pháp
luật đất đai nhằm ngăn ngừa một thiệt hại lớn hơn có thể xảy ra cho xã hội thì
không bị coi là hành vi VPPL đất đai (thiệt hại lớn hơn này có căn cứ khẳng định
chắc chắn rằng sẽ xảy ra trên thực tế nếu không có các biện pháp ngăn ngừa).
Thứ hai, VPPL đất đai là hành vi trái pháp luật đất đai của một cá nhân được
thực hiện do lỗi của họ gây ra.
Theo khoa học pháp lý, lỗi là trạng thái tâm lý, là ý chí chủ quan của chủ thể
thực hiện hành vi vi phạm. Lỗi có thể là lỗi cố ý hoặc vô ý thể hiện nhận thức của
bản thân người vi phạm đối với hành vi và hậu quả do họ gây ra.
- Lỗi cố ý: Được thể hiện ở chỗ người có hành vi vi phạm nhận thức được
tính chất hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện. Lỗi cố ý có hai hình thức thể hiện
là lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp.
- Lỗi vô ý: Lỗi vô ý do cẩu thả là người có hành vi vi phạm không biết và
không nhận thức được rằng hành vi của mình là trái pháp luật mặc dù cần phải biết
và nhận thức được điều đó; vô ý do quá tự tin là người có hành vi vi phạm nhận
thức được điều này nhưng do quá tự tin cho rằng có thể ngăn ngừa được dễ dàng
hậu quả của hành vi trái pháp luật của mình.
Yếu tố lỗi là một dấu hiệu không thể thiếu được trong việc nhận biết một
hành vi VPPL nói chung và hành vi VPPL đất đai nói riêng. Bởi lẽ, mục đích cao cả

và các tổ chức khác (gọi chung là tổ chức); hộ gia đình được Nhà nước giao đất, cho
thuê đất, công nhận QSDĐ ổn định lâu dài; cơ sở tôn giáo được Nhà nước giao đất;
cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất và tổ chức, cá nhân nhận chuyển QSDĐ
của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có hành vi VPHC trong SDĐ đai hoặc trong việc
thực hiện các hoạt động dịch vụ về đất đai.
Cán bộ, công chức nhà nước trong khi thi hành công vụ (thực hiện nhiệm vụ
quản lý nhà nước về đất đai) có hành vi VPPL về quản lý đất đai không thuộc nhóm
chủ thể VPPL đất đai trong lĩnh vực SDĐ.
Thứ hai, khách thể của VPPL đất đai là các quyền và lợi ích hợp pháp của

12


Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai; quyền và lợi ích hợp
pháp của người SDĐ và chế độ sử dụng các loại đất được pháp luật đất đai bảo vệ.
Thứ ba, do đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng v.v... và là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống nên VPPL đất đai không chỉ xâm
phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người SDĐ mà còn xâm phạm đến quyền
và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của cộng đồng, của xã hội.
Hậu quả của VPPL đất đai để lại những tác động tiêu cực trên nhiều phương
diện về chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường... Việc khắc phục hậu quả của VPPL
đất đai tiến hành rất khó khăn, phức tạp và rất tốn kém; thậm chí có trường hợp
VPPL đất đai để lại hậu quả không thể khắc phục được.
Thứ tư, việc SDĐ thường liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng nhà ở, công
trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất. Do đó VPPL đất đai thường
kéo theo VPPL về nhà ở, về lĩnh vực xây dựng; về lĩnh vực dân sự hoặc VPPL đất
đai ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề môi trường, tiềm ẩn nguy cơ đe dọa sự phát triển
bền vững v.v...
1.1.2. Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

lợi về vật chất tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi VPPL đất
đai của mình gây ra. Ngoài ra, chủ thể vi phạm còn bị buộc thực hiện khôi phục lại
tình trạng ban đầu của đất đai như trước khi vi phạm; đồng thời, các phương tiện,
công cụ được sử dụng để VPPL đất đai và số tiền có được từ việc VPPL đất đai sẽ
bị Nhà nước tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Thứ tư, xử lý VPPL đất đai có mục đích là khôi phục lại tình trạng ban đầu
của đất đai như trước khi bị vi phạm; khôi phục lại trật tự quản lý và SDĐ do hành
vi vi phạm xâm hại; đồng thời, đảm bảo tính pháp chế trong thực thi pháp luật đất
đai trong lĩnh vực đất đai.
1.1.3. Nội dung quy định về đối tượng, nguyên tắc, thẩm quyền và hình
thức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Cơ sở áp dụng trách nhiệm hành chính đối với hành vi VPPL đất đai được
quy định tại Điều 206, Điều 207, Điều 208 và Điều 209 Luật Đất đai năm 2013 và
Nghị định số 102/2014/NĐ-CP về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai do Chính
phủ ban hành ngày 10/11/2012 (sau đây gọi là Nghị định số 102/2014/NĐ-CP).

14


1.1.3.1. Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính đất đai
Theo Nghị định số 102/2014/NĐ-CP, người có hành vi VPPL trong lĩnh vực
đất đai bị xử phạt VPHC bao gồm các đối tượng dưới đây có hành vi VPHC trong
SDĐ hoặc trong việc thực hiện các hoạt động dịch vụ về đất đai: Một là, hộ gia
đình, cộng đồng dân cư; cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài (sau đây gọi chung là cá nhân); Hai là, tổ chức trong nước, tổ
chức nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (sau đây gọi chung là tổ
chức); Ba là, cơ sở tôn giáo.
Tổ chức, cá nhân được áp dụng quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại
diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế
tại Việt Nam theo quy định của pháp luật không thuộc đối tượng bị xử phạt VPHC

VPHC, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao mà phát hiện các hành vi
VPHC về đất đai thuộc lĩnh vực hoặc địa bàn quản lý của mình thì cũng có
quyền xử phạt. Mức xử phạm VPHC trong lĩnh vực đất đai được pháp luật hiện
hành quy định cụ thể như sau:
i) Chủ tịch UBND cấp xã được quyền xử phạt tiền đến 05 triệu đồng.
ii) Chủ tịch UBND cấp huyện, Chánh Thanh tra Sở, Trưởng đoàn
thanh tra chuyên ngành do Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai,
Giám đốc Sở, Chánh Thanh tra Sở TN&MT ra quyết định thanh tra và
thành lập Đoàn thanh tra có quyền xử phạt tiền đến 50 triệu đồng.
iii) Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp Bộ có quyền phạt
tiền đến 250.000.000 đồng;
iv) Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Chánh Thanh tra Bộ TN&MT; Tổng
cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai được quyền xử phạt tiền đến 500
triệu đồng.
v) Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra
chuyên ngành đang thi hành công vụ có quyền phạt tiền đến 500 nghìn đồng.
1.1.3.3. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai phải tuân thủ theo
nguyên tắc sau:
a) Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải
bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc

16


phục theo đúng quy định của Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 và quy
định của pháp luật có liên quan;
b) Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính khi có vi phạm hành
chính quy định tại Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014;
c) Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status