Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em - Pdf 48

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1. Lý do và tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một sự nghiệp lớn lao và
hệ trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “ Chăm sóc và giáo dục tốt các
cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”, “ Trước hết, gia đình phải làm thật
tốt công việc ấy; các Đảng ủy...các ban, ngành, đoàn thể khác phải có kế hoạch
cụ thể chăm sóc các cháu ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ”. [5, tr7]
Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và
đang quan tâm ngày một tốt hơn công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Thực tế công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ta hiện nay đã có
nhiều chuyển biến đáng khích lệ, thực trạng tình hình trẻ em ở nước ta đang
được cải thiện trên nhiều mặt về đời sống vật chất và tinh thần. Quốc tế đánh giá
cao những kết quả mà chúng ta đã đạt được trong sự nghiệp bảo vệ quyền trẻ
em.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì tình hình trẻ em bị xâm phạm về
thể chất và tinh thần, môi trường sống không đảm bảo lành mạnh và an toàn
đang là một thực tế hiện nay. Vi phạm hành chính về trẻ em là một trong những
nguyên nhân dẫn đến hệ quả tiêu cực đó. Vậy thì, pháp luật hiện hành đã quy
định như thế nào về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ
em? Các quy định đó đã đủ sức răn đe, giáo dục đối tượng vi phạm, đã tạo ra
được hành lang pháp lý thuận lợi cho các chủ thể có thẩm quyền xử lý nghiêm
minh các hành vi vi phạm hay chưa? Đó là những nội dung quan trọng cần được
chúng ta tìm hiểu, nghiên cứu và làm sáng tỏ, để qua đó có những kiến giải,
đóng góp quan trọng nhằm hoàn thiện pháp luật.


2

Với đề tài: “ Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong


3

Đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử để xem xét vấn đề một cách toàn diện, đầy đủ và khách quan
nhất.
* Phương pháp riêng (phương pháp củ thể có tính đặc thù):
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu (chủ yếu);
- Phương pháp lôgíc - lịch sử;
- Phương pháp liên hệ so sánh, thống kê mô tả.

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRẺ EM VÀ VI
PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
1.1. Quyền trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là hạnh phúc của gia đình, là
lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sinh thời Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã dành tình cảm đặc biệt cho trẻ em. Tình thương yêu Bác dành cho
trẻ em thật vô bờ bến, tình yêu đó bắt nguồn từ lý tưởng của Bác: suốt đời phấn
đấu cho sự nghiệp vĩ đại - giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Mưu cầu
hạnh phúc cho nhân dân, đó là điều “ham muốn tột bậc của Người. Sự quan tâm
đặc biệt của Người dành cho trẻ em còn bắt nguồn từ tầm nhìn xa trông rộng,
“Vì lợi ích trăm năm”, từ chiến lược con người. Trong chiến lược đó, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã dày công vun trồng thế hệ mầm non của đất nước. Vì “ngày nay
các cháu là nhi đồng. Ngày sau các cháu là người chủ của nước nhà, của thế
giới”. Tư tưởng này giờ đây vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó và hoàn toàn phụ
hợp với tư tưởng của thời đại: “Trẻ em hôm nay - thế giới ngày mai”. Như vậy,
Người đã chỉ cho chúng ta thấy trẻ em cần được chăm sóc, bảo vệ về mọi mặt:
Sức khỏe, học tập, vui chơi giải trí và hoạt động đoàn thể.[5, tr5]
Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một sự nghiệp lớn lao và
hệ trọng. Nó đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của Nhà nước, sự nỗ lực

mới được hưởng trong điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội nhất
định”[7]


5

Theo chúng tôi, quyền trẻ em- quyền con người là những quyền nhân sinh,
mang tính chất tự nhiên và xã hội mà bất kể một cá thể nào sinh ra đều có quyền
được hưởng khi họ tham gia vào quan hệ giữa con người với con người, giữa
con người với thế giới tự nhiên, giữa con người với thế giới tâm linh và quan hệ
giữa họ với chính bản thân mình; các quyền con người đó phải được bảo vệ
bằng pháp luật, trong khuôn khổ pháp luật Quốc gia và Pháp luật Quốc tế.
Tuyên bố thế giới về nhân quyền năm 1948 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc
quy định: Điều 1 “ Mọi người sinh ra đều bình đẳng về phẩm giá và nhân quyền.
Họ được phú cho lý trí và tương lai và phải đối xử với nhau trong tình anh em”;
Điều 2 “ Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu trong bản
tuyên ngôn này, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da,
giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân
tộc hoặc xã hội, tài sản, giống nòi hay các tình trạng khác...”. Như vậy, trẻ em
cần phải được hưởng đầy đủ các giá trị quyền lợi tự nhiên và xã hội của con
người, được bảo vệ bằng pháp luật. Bên cạnh đó, trẻ em còn được hưởng các
quyền khác mà xã hội ưu tiên dành cho. Để chăm sóc, bảo vệ các quyền của trẻ
em cần có sự chung sức của toàn thể xã hội với nhiều hoạt động khác nhau,
trong đó xử lý để ngăn chăn và phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật đối
với trẻ em là một hoạt động quan trọng mang tính pháp lý đặc trưng.
* Pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền trẻ em
Các quyền và nghĩa vụ của trẻ em được pháp luật Việt Nam ghi nhận và
bảo hộ trong các văn bản pháp luật khác nhau từ: Hiến pháp, Luật, đến các văn
bản dưới luật. Điều 65, Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992 quy định: “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm

và giá trị hiệu lực tối cao trong sự nghiệp quốc tế về bảo vệ các giá trị nhân
quyền. Tuyên bố thế giới về nhân quyền là Điều ước quốc tế chung về quyền
con người, trong đó có điều khoản riêng quy định về quyền trẻ em, Điều 25
khoản 2 quy định: “ Người mẹ và trẻ em được đảm bảo sự chăm sóc và giúp đỡ
đặc biệt. Mọi đứa con dù trong hay ngoài giá thú đều phải được hưởng sự bảo
hiểm xã hội như nhau”.
Thứ hai, Công ước quốc tế về quyền trẻ em, thông qua ngày 20 tháng11
năm 1989, có hiệu lực ngày 2 tháng 9 năm 1990. Việt Nam gia nhập Công ước


7

này ngày 20 tháng 2 năm 1990. Đây là công ước quốc tế dành riêng để bảo vệ
quyền trẻ em, là cơ sở pháp lý quan trọng ràng buộc trách nhiệm của các quốc
gia thành viên trong hoạt động chăm sóc và bảo vệ quyền trẻ em. Tại Điều 2,
Công ước quy định: “ 1. Các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo đảm
những quyền được nêu ra trong công ước đối với trẻ em thuộc quyền tài phán
của họ không có bất cứ một sự phân biệt đối xử nào, bất kể trẻ em, cha mẹ hay
người giám hộ pháp lý của trẻ em đó thuộc chủng tộc, màu da, giới tính, tiếng
nói, tôn giáo nào, không kể người đó có quan điểm chính trị hay quan điểm gì
khác mhư thế nào, gốc gác quốc gia, dân tộc hay xã hội, tài sản, khuyết tật, xuất
thân và những mối tương quan ra sao...”; Điều 3, của Công ước quy định: “
Trong mọi hoạt động đối với trẻ em dù của cơ quan phúc lợi xã hội của Nhà
nước hay của cá nhân, Tòa án hay nhà chức trách hành chính, cơ quan lập
pháp, thì những lợi ích tốt nhất của tẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu...”
Hay tại Điều 24 khoản 1 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự,
chính trị mà Việt Nam gia nhập ngày 24 tháng 9 năm 1982 đề cập đến vấn đề
bảo vệ quyền trẻ em cũng quy định trên tinh thần tương tự như vậy.
Việt Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới (và là nước đầu tiên ở Châu Á)
phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Việc phê chuẩn rất sớm

chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Nhưng vì không xác định được cụ thể
các chủ thể này có phải là trẻ em hay không nên chúng ta sẽ không xem xét nó
trong phạm vi bài viết này.
* Khái niệm vi phạm hành chính về trẻ em
Vi phạm hành chính về trẻ em là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em mà không phải là tội phạm và phải bị xử
phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Vi phạm hành chính đối
với trẻ em ngoài những đặc điểm của vi phạm hành chính nói chung nó còn
mang một số đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, chủ thể bị vi phạm trong quan hệ pháp luật này là trẻ em hay nói
cách khác nạn nhân của hành vi vi phạm này là trẻ em. Mà theo quy định của


9

luật bảo vệ, chăm sóc trẻ em thì trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt
Nam dưới mười sáu tuổi.
Thứ hai, khách thể của loại quan hệ pháp luật này là các quyền được chăm
sóc và bảo vệ của trẻ em được pháp luật ghi nhận và bảo hộ thông qua các hoạt
động quản lý của nhà nước. Đối tượng trực tiếp là các giá trị vật chất và tinh
thần mà trẻ em được hưởng theo quy định của pháp luật hiện hành. Như quyền
được chăm sóc nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức; quyền được
học tập; quyền được vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hóa văn
nghệ, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi; quyền có tài sản, hưởng
thừa kế, hưởng các chế độ bảo hiểm theo quy định của pháp luật;...được quy
định tại luật bảo vệ, chăm sóc trẻ em và các văn bản pháp luật có liên quan khác.
* Các loại vi phạm hành chính về trẻ em
Vi phạm hành chính về trẻ em là các loại vi phạm hành chính xâm phạm
đến các quyền của trẻ em được pháp luật bảo vệ, các quyền cơ bản đó được quy

- Từ chối khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em. Chủ thể của loại vi phạm này
chỉ có thể là các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm khám, chữa bệnh cho trẻ em
theo qui ðịnh của pháp luật.
- Thu tiền khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi tại các cơ sở y tế
công lập trái với quy định của pháp luật.
- Cố tình không sự dụng trang thiết bị, phương tiện khám bệnh, chữa bệnh
cho trẻ em trong khi có điều kiện và được phép sự dụng.
éối với loại vi phạm này, dấu hiệu lỗi cố ý là dấu hiệu bắt buộc trong cấu
thành. Tuy nhiên, nếu hậu quả là trẻ em chết thì hành vi sẽ cấu thành Tội không
cứu giúp ngýời ðang ở trong tình trạng nguy hiểm ðến tính mạng theo éiều 102
của Bộ luật hình sự.
2. Hành vi cha, mẹ bỏ rơi con, người giám hộ bỏ rơi trẻ em được mình
giám hộ (Điều 13 của Nghị định 114) có các loại hành vi cụ thể sau:
- Ngay sau khi sinh con, cha hoặc mẹ bỏ con, không chăm sóc, nuôi dưỡng.
Trong trýờng hợp ngýời mẹ do ảnh hýởng nặng nề của tý týởng lạc hậu hoặc


11

trong hoàn cảnh khỏch quan ðặc biệt mà vứt bỏ con mới ðẻ dẫn ðến hậu quả ðứa
trẻ chết thỡ hành vi cấu thành Tội giết con mới ðẻ theo éiều 94 của Bộ Luật
hỡnh sự.
- Cha, mẹ để con, người giám hộ để trẻ em được mình giám hộ cho người
khác nuôi, cắt đứt quan hệ, không thực hiện nghĩa vụ đóng góp nuôi dưỡng trẻ
em, mặc dù có khả năng thực hiện nghĩa vụ này, trừ trường hợp cho trẻ em làm
con nuôi theo quy định của pháp luật. Trong trýờng hợp gõy hậu quả nghiờm
trọng hoặc ngýời thực hiện hành vi ðó bị xử lớ hành chớnh về hành vi này mà
vẫn tỏi phạm, thỡ hành vi cấu thành Tội từ chối hoặc trốn trỏnh nghĩa vụ cấp
dýỡng theo éiều 152 của Bộ luật hỡnh sự.


vực bảo vệ quyền trẻ em. Các nguyên tắc đó bao gồm:
* Thứ nhất, mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải
đình chỉ ngay. Việc xử phạt vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh
chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải
được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật.
Đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính về trẻ em là công việc cần phải
được tiến hành thường xuyên trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các
cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân đều có trách nhiệm phát hiện và kiến
nghị xử lý kịp thời các vi phạm hành chính về trẻ em với cơ quan có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật.
Trên thực tế hiện nay, việc xác minh rõ các tình tiết của một hành vi nào đó
có vi phạm hành chính về trẻ em hay không là rất khó khăn. Bởi vì, hầu hết các
hành vi vi phạm hành chính về trẻ em đều có dấu hiệu của mặt khách quan trong
cấu thành tội phạm. Ví dụ, giữa hành vi vi phạm hành chính “kích động tình dục
trẻ em” quy định tại Điều 15 NĐ số114/2006/NĐ- CP với hành vi phạm tội
“dâm ô với trẻ em” quy định tại Điều 116 Bộ luật hình sự năm 1999, đều có dấu
hiệu của mặt khách quan là như nhau rất khó phân biệt. Vì vậy, việc xác định
đâu là hành vi vi phạm hành chính về trẻ em chúng ta phải căn cứ triệt để vào
mức độ của hành vi vi phạm, chủ thể thực hiện.
Để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc nói trên pháp luật về xử phạt
vi phạm hành chính quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, thời hạn ra


14

quyết định xử phạt, thủ tục đình chỉ vi phạm hành chính và các biện pháp khắc
phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra.
* Thứ hai, cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có vi phạm hành
chính do pháp luật quy định.
Việc xác định vi phạm hành chính về trẻ em và áp dụng các biện pháp xử

xử phạt hoặc ðã lập biên bản ðể xử phạt thỡ khụng ðýợc lập biên bản, ra quyết
ðịnh xử phạt lần thứ hai ðối với chính hành vi đó nữa. Trong trýờng hợp hành vi
vi phạm vẫn tiếp tục ðýợc thực hiện mặc dù đã bị ngýời có thẩm quyền xử phạt
ra lệnh đình chỉ thỡ bị ỏp dụng tỡnh tiết tóng nặng: Tiếp tục thực hiện hành vi vi
phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đó yêu cầu chấm dứt hành vi đó.
- Một hành vi vi phạm hành chính đã ðýợc ngýời có thẩm quyền xử phạt ra
quyết ðịnh xử phạt thì không ðồng thời áp dụng biện pháp xử lí hành chính khác
(giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở
giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh); ðối với hành vi ðó;
- Trong trýờng hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm bị chuyển hồ sừ
ðề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự mà trýớc ðó ðã có quyết ðịnh xử phạt vi
phạm hành chính thì ngýời ðó quyết ðịnh xử phạt phải huỷ bỏ quyết ðịnh xử
phạt; nếu chýa ra quyết ðịnh xử phạt thì không xử phạt vi phạm hành chính ðối
với hành vi ðó;
- Nhiều ngýời cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi
ngýời vi phạm ðều bị xử phạt về hành vi đó. Ngýời có thẩm quyền xử phạt cón
cứ vào tính chất, mức ðộ vi phạm, nhân thân ngýời vi phạm, tình tiết tóng nặng,
giảm nhẹ mà ra quyết ðịnh xử phạt ðối với từng ngýời cùng thực hiện vi phạm
hành chính;
- Một ngýời thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về
từng hành vi vi phạm. Khi quyết ðịnh xử phạt một ngýời thực hiện nhiều hành vi
vi phạm hành chính, thì ngýời có thẩm quyền chỉ ra một quyết ðịnh xử phạt
trong đó quyết ðịnh hình thức, mức xử phạt ðối với từng hành vi vi phạm; nếu
các hình thức xử phạt là phạt tiền thì cộng lại thành mức phạt chung.


16

* Thứ năm, việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất,
mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng

cao hơn được pháp luật bảo hộ nên những hành vi này đã “loại trừ” tính chất
nguy hiểm của hành vi, do đó mà pháp luật không coi nó là hành vi vi phạm
pháp luật. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này của pháp luật trên thực tế
thường gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc xác định ranh giới giữa hành vi
trong các trường hợp này với hành vi đã vi phạm pháp luật. Nó đòi hỏi sự chính
xác, khách quan của các chủ thể có thẩm quyền trong việc phát hiện và xử lý kịp
thời đúng pháp luật các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, vi phạm hành
chính về trẻ em nói riêng.
2.2. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em
Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng trước hết nhằm
mục đích trừng phạt người vi phạm, thông qua đó giáo dục mọi người tuân thủ
pháp luật, tôn trọng các quy tắc của đời sống cộng đồng, phòng ngừa các vi
phạm pháp luật có thể xẩy ra. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về trẻ
em được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và các Nghị định
của Chính phủ trong các lĩnh vực cụ thể. Theo đó, đối với mỗi vi phạm hành
chính về trẻ em, chủ thể vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt
chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền.
* Cảnh cáo:
Hình thức này được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính
nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ, hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính
do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện với lỗi cố ý.
Khi xử phạt cảnh cáo, người có thẩm quyền quyết định xử phạt bằng văn bản.
Như vậy, hình thức xử phạt cảnh cáo chỉ được áp dụng đối với cá nhân tử
đủ 16 tuổi trở lên hoặc tổ chức vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện sau
đây:
- Hành vi vi phạm mà tổ chức, cá nhân thực hiện được văn bản pháp luật
quy định là có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Điều này xác định rằng


18



19

thể căn cứ vào các Nghị định của Chính phủ về từng lĩnh vực điều chỉnh. Chẳng
hạn như, mức phạt tiền quy định trong NĐ số 45/2005/ NĐ-CP đối với các vi
phạm hành chính về trẻ em, có mức thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là
15.000.000 đồng; trong Nghị định số 150/2005/NĐ- CP, thì mức tiền phạt đối
với hành vi vi phạm về trẻ em quy định tại khoản 2, Điều 26 là từ 200.000 đồng
dến 500.000 đồng; còn trong NĐ số114/2006/NĐ- CP mức thấp nhất là 100.000
đồng và mức cao nhất là 30.000.000 đồng.
Việc lựa chọn, áp dụng mức tiền phạt đối với người vi phạm phải trong
khung phạt cụ thể được văn bản pháp luật quy định cho loại vi phạm đã thực
hiện theo cách: Mức tiền phạt cụ thể đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính là
mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có
tình tiết giảm nhẹ thì mức phạt có thể giảm xuống, nhưng không được giảm quá
mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức phạt tiền có
thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt. Ví dụ:
Cá nhân, tổ chức có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng uy
quyền để ép buộc trẻ em phải bỏ học, nghỉ học, thì bị xử phạt từ 200.000 đồng
đến 500.000 đồng (khoản 1, Điều 20, NĐ 114/2006/NĐ- CP), khi áp dụng mức
xử phạt sẽ lấy mức trung bình của khung tiền phạt là 350.000 đồng. Còn nếu
như trường hợp chủ thể vi phạm lại có tình tiết tăng nặng là lợi dụng chức vụ,
quyền hạn để vi phạm (khoản 5, Điều 9 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
năm 2002), thì có thể áp dụng mức tiền phạt cao hơn mức trung bình nhưng
không được quá 500.000 đồng. Cũng ví dụ trên nếu chủ thể vi phạm lại có tình
tiết giảm nhẹ là tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi (điểm b, khoản 1 Điều 8
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002), thì có thể áp dụng mức tiền
phạt thấp hơn mức trung bình nhưng không được thấp hơn 200.000 đồng.
Việc lựa chọn, áp dụng mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới

hạn hoặc không thời hạn và ðýợc quy ðịnh ðối với hành vi vi phạm hành chính
cụ thể, tùy thuộc vào tính chất, mức ðộ của hành vi vi phạm ðó.
Thời hạn áp dụng ðối với hình thức xử phạt týớc quyền sử dụng giấy phép,
chứng chỉ hành nghề có thời hạn tối ða không quá 12 tháng; ðối với hình thức


21

týớc quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề không thời hạn thì thời hạn
áp dụng từ 12 tháng trở lên. Trong số các hành vi vi phạm hành chính về trẻ em
mà chúng tôi đã liệt kê thì có 6 loại hành vi có áp dụng hình thức xử phạt bổ
sung tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề và thời hạn áp dụng ở
các loại hành vi này là từ 01 táng đến 06 tháng, hai trường hợp áp dụng không
thời hạn, không có trường hợp nào áp dụng thời hạn lên đến 12 tháng như quy
định chung trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính. Ví dụ, tại khoản 4 Điều
19 Nghị định 114 quy định “ Tước quyền sự dụng giấy phép từ 03 tháng đến 06
tháng đối với hành vi sự dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng giả, hàng
cấm, hàng hóa, tiền tệ trái phép ở trong nước”
Thời hạn týớc quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề ðýợc tính từ
thời ðiểm tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trýờng hợp một ngýời cùng
một lúc thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính mà các hành vi này bị týớc
quyền sử dụng cùng một loại giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì chỉ áp dụng
týớc quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn dài nhất quy
ðịnh ðối với các hành vi vi phạm; nếu không cùng một loại giấy phép, chứng chỉ
hành nghề thì áp dụng riêng ðối với từng hành vi.
Ví dụ, khoản 3, Điều 12 NĐ số 114/2006/NĐ- CP, quy định: “Tước quyền
sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành
vi từ chối khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em; hoặc hành vi thu tiền khám bệnh,
chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi theo quy định của pháp luật”.
* Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính:

ra.
Trong nhiều trường hợp ngoài việc bị áp dụng các biện pháp xử phạt hành
chính như đã nêu trên, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính về trẻ em còn có thể
bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm hành chính của
mình gây ra. Về mặt bản chất, biện pháp cưỡng chế hành chính này không có
tính trừng phạt người vi phạm hành chính mà chỉ nhằm mục đích khắc phục hậu
quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra. Theo quy định trong Pháp lệnh xử lý


23

vi phạm hành chính, các Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành
trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em, thì các biện pháp khắc phục này gồm có:
* Thứ nhất: Các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính
về trẻ em gây ra quy định tại NĐ số 114/2006/NĐ - CP:
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành
chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dưng, lắp đặt thiết bị trái phép;
- Buộc thực hiện những biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường
do vi phạm hành chính gây ra; tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con
người, văn hóa phẩm độc hại;
- Buộc thu hồi số tiền do vi phạm hành chính gây ra; nộp lại số tiền bằng
giá trị tang vật , phương tiện vi phạm đã tiêu thụ , tẩu tán trái với quy định của
pháp luật;
- Buộc thực hiện trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, thực hiện nghĩa
vụ đóng góp nuôi dưỡng trẻ em theo quy định;
- Buộc chịu mọi chi phí để khám bệnh , chữa bệnh cho trẻ em do hành vi vi
phạm hành chính gây ra;
- Buộc thực hiện các quy định về việc thành lập, hoạt động của cơ sở trợ
giúp trẻ em theo quy định tại Điều 45, Điều 46 và Điều 47 Luật bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em;

Thanh tra trực tiếp thực hiện nghiệp vụ của mình khi tham gia vào các hoạt động
quản lý hành chính nhà nước trong các lĩnh vực bảo vệ quyền trẻư em, như
Thanh tra dân số và gia đình, Thanh tra giáo dục...).
Ngoài ra, theo qui ðịnh tại éiều 41 của Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính,
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, Chánh thanh tra chuyên ngành cấp sở, Chánh
thanh tra chuyên ngành bộ, cừ quan ngang bộ có thể ủy quyền cho cấp phó thực
hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Việc uỷ quyền phải ðýợc thực
hiện bằng vón bản. Cấp phó ðýợc ủy quyền phải chịu trách nhiệm về quyết ðịnh
xử phạt vi phạm hành chính của mình trýớc cấp trýởng và trýớc pháp luật.
Thẩm quyền xử phạt của những ngýời nêu trên được pháp luật quy định đối
với một hành vi vi phạm hành chính. Trong trýờng hợp phạt tiền, thẩm quyền xử


25

phạt ðýợc xác ðịnh cón cứ vào mức tối ða của khung tiền phạt qui ðịnh ðối với
từng hành vi vi phạm cụ thể.
Tuỳ thuộc vào từng trýờng hợp vi phạm hành chính ðýợc thực hiện, ngýời
có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em cón cứ vào ðiều khoản
týừng ứng qui ðịnh tại Nghị ðịnh có quy định hành vi vi phạm hành chính về trẻ
em ðể xác ðịnh biện pháp xử phạt chính, các biện pháp xử phạt bổ sung và các
biện pháp khắc phục hậu quả cần ðýợc áp dụng, sau ðó ðối chiếu với thẩm
quyền xử phạt của mình, nếu phù hợp thì ra quyết ðịnh xử phạt. Trong trýờng
hợp thấy một trong các biện pháp cần áp dụng không thuộc thẩm quyền của
mình thì phải chuyển hồ sừ vụ vi phạm ðến ngýời có thẩm quyền xử phạt.
Ví dụ như, khi Thanh tra viên chuyên ngành có liên quan trực tiếp tới công
tác bảo vệ quyền của trẻ em ðang thi hành công vụ có quyền áp dụng các biện
pháp xử phạt chính ðối với hành vi cản trợ việc học tập của trẻ em ðýợc qui
ðịnh tại éiều 20 của Nghị ðịnh 114. Tuy nhiên, nếu cần phải áp dụng biện pháp
Tịch thu tang vật, phýừng tiện ðýợc sử dụng ðể vi phạm hành chính có giá trị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status