Đề tài luận văn: “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: thực trạng và giải pháp”
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, môi trường sống của chúng ta đang bị suy giảm nghiêm trọng: Không bị
ô nhiễm, rừng bị tàn phá, nhiều dòng sông trở thành dòng sông đen bởi các chất thải công
nghiệp, sinh hoạt và dịch vụ, đất đai bị xói mòn và bị nhiễm độc bởi các loại thuốc trừ
sâu, phân bóng hóa học, thuốc tăng trưởng cây trồng dùng vượt quá liều lượng thuốc trừ
sâu, phân bón hóa học, thuốc tăng trưởng cây trồng dùng vượt quá liều lượng cho phép…
Môi trường không có biên giới, do đó ô nhiễm môi trường đang trở thành mối hiểm họa
chung cho toàn nhân loại, do đó vấn đề có tính chất và qui mô của thế giới.
Bảo vệ môi trường đang là việc làm có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Vì thế, trào lưu
của thế giới hiện nay là làm sao để có thể “phát triển đáp ứng những yêu cầu của hiện tại
nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”, thì vấn đề
bảo vệ môi trường đang được mỗi quốc gia trên thế giới hết sức quan tâm và đặt ưu tiên
hàng đầu trong quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của mình. Bởi
lẽ, môi trường là một điều kiện cốt tử bảo đảm cho sự phát triển bền vững cùa tất cả các
quốc gia. Vì thế, sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới ngày nay không phải là khai
thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra năng suất và sản lượng bằng mọi giá Trái lại,
vấn đề năng suất và sản lượng được tạo ra phải bảo đảm sự cân đối với việc duy trì, bảo
vệ và nuôi dưỡng nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ tương lai. Trong xu thế ấy,
Việt Nam cũng đang tiến hành hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, cùng
với việc nỗ lực tham gia các Công ước quốc tế, cũng như tích cực nội hạt hóa các cam
kết quốc tế nhằm bảo vệ môi trường hiệu quả hơn.
Nhận thức được tầm quan trọng này, trong thời gian qua, Nhà nước ta đã ban hành
các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, theo thống kê của Bộ Tư pháp, Việt Nam đã
ban hành khoảng 300 văn bản pháp luật bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, hệ thống văn bản
này còn thiếu nhiều quy định cần phải xem xét, bổ sung và sửa chữa lại trong bối cảnh
môi trường Việt Nam đang bị ô nhiễm và suy thoái nặng nề. Một trong nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng đó là do công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo đội ngũ cán
bộ về môi trường trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chưa được coi trọng; pháp
đó tìm ra những ưu điểm và nhược điểm. Trên cơ sở đó, có thể khắc phục những hạn chế,
đề ra những qui định mới, cụ thể thông qua các đề xuất, giải pháp về vấn đề xử lý vi
phạm hành chính, nhằm mục đích tăng cường hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường
và để hoàn thành việc học tập.
3. Phạm vi nghiên cứu
Thực tế hiện nay vấn đề về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường là vấn đề rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực trong đời sống, do vậy khi nghiên cứu
lĩnh vực này đòi hỏi phải có một thời gian thích hợp. Vì thế trong khuôn khổ thời gian
cho phép và do yêu cầu của một đề tài luận văn tốt nghiệm nên người viết chủ yếu nghiên
cứu những quy đình hiện hành của pháp luật điều chỉnh về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, thực trạng về chính sách và pháp luật bảo vệ môi
trường ở Việt Nam, những tồn tại trong việc thực thi và áp dụng các quy định đó vào
thực tế, từ đó đưa ra các nhận định, đề xuất giải pháp mới bổ sung cho pháp luật và chính
sách về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài luận văn này, người viết chủ yếu vận dụng các phương pháp sau:
Sử dụng phương pháp phân tích luật viết, phương pháp nghiên cứu so sánh, tổng
hợp, đánh giá và kết quả lý luận với thực tiễn.
Nhận xét, bình luận và nêu ý kiến sửa đổi về Nghị định 81/2006/NĐ-CP. Bên cạnh
đó, đi sâu tìm hiểu thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường hiện nay thông qua việc thu thập các tài liệu, thông tin đã được nghiên cứu sẵn và
tìm hiểu tình hình thực tế đang xảy ra để nhìn nhận đúng vấn đề.
GVHD: Th.S. KIM OANH NA
2
SVTH: VÕ NGỌC THANH
“Môi trường” là một khái niệm vô cùng rộng và được sử dụng trong nhiều lĩnh
vực khác nhau, như môi trường giáo dục, môi trường xã hội, môi trường thiên nhiên…
Môi trường theo một định nghĩa thông thường: “là toàn bộ điều kiện tự nhiên và xã hội
nói chung trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với
con người và sinh vật ấy”, là, “sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài
có ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ”.
Về định nghĩa của Luật bảo vệ môi trường năm 2005 tại Khoản 1, Điều 3, thì
“Môi trường là bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người,
có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và
sinh vật”.
Căn cứ theo cách định nghĩa của điều luật này, ta có thể hiểu, môi trường sống của
con người được chia thành các loại:
Thứ nhất, môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như: vật lý, hóa
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của
con người. Đó là, ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất,
nước… Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây,
chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu
thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm
cho cuộc sống con người thêm phong phú.
Thứ hai, người ta còn phân biệt với môi trường nhân tạo, là bao gồm tất cả các
nhân tố do con người tạo nên nhằm tác động tới môi trường làm thành những tiện nghi
trong cuộc sống, để phục vụ cho nhu cầu bản thân mình như: nhà ở, xí nghiệp, công sở,
các khu vực đô thị, hệ thống các đê điều, công viên nhân tạo, đảo nhân tạo, công trình
nghệ thuật, văn hóa,…
Có 4 loại môi trường tự nhiên cơ bản: môi trường đất, môi trường không khí, môi
trường nước và môi trường sinh vật.
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
- Môi trường là nơi cung cấp tài ngyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản
xuất của con người.
môi trường. Do đó, để phòng chống, đấu tranh một cách có hiệu quả đối với vi phạm
hành chính trong lĩnh vực nay, thì, tất yếu phải đưa ra một định nghĩa chính thức về vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Và chính vì sự cần thiết đó, nên định nghĩa vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường đã được đưa vào trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Trên cơ sở
những nội dung đã nêu tại Khoản 2, Điều 1, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm
2007: “Vi phạm hành chính à hành vi do cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung
là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định chung của pháp luật
về quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị
xử phạt hành chính”. Theo đó, Nghị định của Chính phủ số 81/2006/NĐ-CP ngày 09
tháng 8 năm 2006 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cũng
đã đưa ra một định nghĩa cụ thể tại Khoản 2, Điều 1, như sau: “Vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là những hành vi vi phạm các quy tắc quản lý Nhà
nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc
vô ý mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của Pháp lệnh
GVHD: Th.S. KIM OANH NA
5
SVTH: VÕ NGỌC THANH
Đề tài luận văn: “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: thực trạng và giải pháp”
Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định này phải bị xử lý vi phạm hành chính”. Trong đó,
lỗi cố ý và vô ý được hiểu như sau:
+ Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính: là thái độ tâm lý của một người khi thực
hiện hành vi trái pháp luật hành chính và nhận thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc
nhưng lại có ý thức xem thường mặc dù họ hoàn toan có khả năng xử sự đúng theo nghĩa
quyền xác định là khu vực cấm do mức độ đặc biệt nguy hiểm về môi trường đối với sức
khỏe và tính mạng của con người.
GVHD: Th.S. KIM OANH NA
6
SVTH: VÕ NGỌC THANH
Đề tài luận văn: “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: thực trạng và giải pháp”
15. Che giấu hành vi hủy hoại môi trường, cản trở hoạt động bảo vệ môi trường,
làm sai lệch thông tin dẫn đến hậu quả xấu đối với môi trường.
16. Các hành vi nghiêm cấm khác về bảo vệ môi trường theo quy định Pháp luật.
Bên cạnh đó, Nghị định 81/2006/NĐ-CP, cũng đưa ra các hành vi vi phạm trong
lĩnh vực môi trường, bao gồm: Vi phạm các quy định về cam kết bảo vệ môi trường, báo
cáo đánh giá tác động môi trường, vi phạm việc thực hiện phòng, chống, khắc phục ô
nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, và những hành vi vi phạm hành chính về bảo vệ môi
trường được quy định trong các Nghị định có liên quan thì áp dụng theo quy định tại các
nghị định đó để xử phạt.
1.1.3. Về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Để đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh, trật
tự, an toàn xã hội; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước thì
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2007, đưa ra quy định về xử lý vi phạm hành
chính tại Điều 1 như sau:
1. Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện
pháp xử lý hành chính khác.
2. Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức
(sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định
pháp cưỡng chế hành chính khác (trong trường hợp cần thiết, theo quy định của pháp
luật) đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường”.
Từ khái niệm trên, hoạt động xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
có đặc điểm sau:
Thứ nhất, hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường chỉ được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm về bảo vệ môi trường theo quy
định của pháp luật.
Thứ hai, việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường phải do các chủ
thể có thẩm quyền tiến hành theo đúng trình tự thủ tục được quy định về xử lý vi phạm
hành chính trong các lĩnh vực môi trường. Theo đó, thì chỉ có những chức danh mà luật
quy định mới có thẩm quyền xử lý vi phạm và phải xử lý theo đúng các quy định của
luật.
Thứ ba, kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính thể hiện ở các quyết
định xử phạt vi phạm hành chính, trong đó ghi nhận các hình thức, biện pháp xử phạt áp
dụng đối với tổ chức cá nhân đã vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Và, việc quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt đó thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc
của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Qua
đó, ngăn chặn những hành vi xem thường pháp luật nhằm bảo vệ môi trường và giáo dục
cho mọi người có ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường nói riêng và tuân thủ pháp luật
về bảo vệ môi trường nói chung.
1.2. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH MÔI TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, Việt Nam đang phải đối mặt với mâu
thuẫn giữa phát triển và bảo vệ môi trường. So với các nước khác thì tình trạng của môi
trường Việt Nam còn đáng báo động hơn. Vì Việt Nam là một nước đang phát triển và
chưa có nhiều nguồn lực để giải quyết các vấn đề về môi trường, bởi thế, còn nhiều vấn
đề cấp bách về môi trường còn đang tồn tại. Rừng, các con sông, biển, tài nguyên, đất và
không khí đang ở tình trạng suy thoái nghiêm trọng do những năm dài chiến tranh, chịu
sức ép do dân số tăng nhanh và đang phải gánh những hậu quả do sự phát triển kinh tế
chính đối với môi trường không khí ở nước ta là các nguồn thải từ công nghiệp, xây
dựng, và giao thông. Nhưng, nếu xét về ngành sản xuất công nghiệp thì các nguồn gây ô
nhiễm không khí chủ yếu là: công nghiệp sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, khai thác
mỏ, công nghiệp hóa chất, công nghiệp phân bón, công nghiệp luyện kim, và các ngành
công nghiệp khác.
Việt Nam hiện có 64 tỉnh, thành phố, với gần 570 đô thị lớn, nhỏ. Dân số đô thị
khoảng 15 triệu người, chiếm 20% dân số cả nước. Có thể nói, ô nhiễm bụi trong không
khí đô thị và ở khu công nghiệp nước ta có tính phổ biến và đang ở mức nghiêm trọng.
Nồng độ bụi trong không khí ở khu dân cư gần các nhà máy, xí nghiệp hoặc gần các
đường giao thông lớn vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1.5 đến 3 lần. Bên cạnh đó, tình trạng
ô nhiễm không khí SO2, NO3 và CO cũng đang diễn ra ở nước ta. Cụ thể, ở Thành phố
Hồ Chí Minh, theo kết quả quan trắc của Chi cục Bảo vệ môi trường thành phố, so với
năm 2005 thì nồng độ các chất độc trong không khí của những năm gần đây tăng 1,4 đến
2,4 lần. Như: nồng độ chì trung bình tăng 1,4 đến 2,4 lần; benzene từ 1,1 đến 2 lần. Và,
tại các ngã tư của thành phố mức độ ô nhiễm do bụi cũng đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ
3 đến 7 lần. Theo thống kê, hiện thành phố có tới 500.000 xe ôtô các loại và hơn 200 cơ
sở sản xuất nằm trong khu dân cư thường xuyên thải khói bụi, gây ô nhiễm không khí.
Và mức ô nhiễm không khí do bụi ở Hà Nội cũng vượt tiêu chuẩn quy định tới 2,5 lần.
Tình trạng ô nhiễm mùi cũng đáng báo động. Ô nhiễm mùi hôi thường xảy ra ở
hai bên bờ kênh rạch thoát nước trong độ thị, do sự thối rữa của các chất hữu cơ, vi sinh
GVHD: Th.S. KIM OANH NA
9
SVTH: VÕ NGỌC THANH
Đề tài luận văn: “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: thực trạng và giải pháp”
vật và rác thải, đã tạo ra các khí ô nhiễm như H 2S, ammoniac (NH3), khí metan, … Bên
vào môi trường.
Như chúng ta đã biết, Việt Nam có một nền công nghiệp đang phát triển, dân số
tăng nhanh, nhu cầu sử dụng nước so với trữ lượng nước tự nhiên chưa phải là cao, song
tình trạng ô nhiễm nguồn nước đáng phải báo động. Mỗi ngành thải ra các loại chất thải
khác nhau, như: nước thải sinh hoạt, công nghiệp và y tế phần lớn chưa được xử lý lại đổ
vào các con sông, xác chết động thực vật đem vứt trên sông, và do có cả tập quán sống
GVHD: Th.S. KIM OANH NA
10
SVTH: VÕ NGỌC THANH
Đề tài luận văn: “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: thực trạng và giải pháp”
trên sông, xác chết động thực vật đem vứt trên sông, và do đó có cả tập quán sống trên
sông. Đây là các thủ phạm chính gây nên ô nhiễm nguồn nước. Như, các con sông Tô
Lịch, ở lưu vực sông Nhuệ - Đáy đang đứng trước nguy cơ sắp “chết” do phải gánh một
lượng lớn nước thải khổng lồ từ hơn 4000 sơ sở công nghiệp và 450 làng nghề dọc theo
con sông, cộng thêm nước thải sinh hoạt, y tế … Tương tự, mức độ ô nhiễm của nước
trên Cầu, đoạn đi qua khu công nghiệp thép Thái Nguyên, nước thải đã vượt tiêu chuẩn
cho phép từ 2-3 lần. Phần hạ lưu sông Đồng Nai, Sài Gòn cũng đang “thoi thóp” bởi chất
thải rắn, kim loại, vi sinh. Chẳng hạn, sông Thị Vải thuộc hệ thống sông Đồng Nai đang
“chết” (đoạn từ hợp lưu Suối Cả - Thị Vải đến khu công nghiệp Mỹ Xuân), con sông này
bị ô nhiễm do hàm lượng thủy ngân vượt quá tiêu chuẩn từ 1,5 đến 4 lân và hàm lượng
kẽm vượt 3 đến 5 lần. Nước nơi đây đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, có màu nâu đen và bốc
lên mùi hôi thối. Theo cảnh báo, nếu không khắc phục tình trạng này thì đến năm 2050
toàn bộ sông Thị Vải sẽ bị hủy diệt trong vòng 76 km. Theo Giáo sư Tiến sĩ Lê Huy Bá,
thì các kênh, rạch ở Thành phố Hồ Chí mInh và Hà Nội phần lớn cũng không còn sử
dụng được nữa, như: kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè ở Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh
máy, nay lại càng đen hơn do nhà máy vẫn chưa khắc phục được hệ thống xả thải. Bên
cạnh đó, thì người dân còn xả rác vô tư, xây nhà vệ sinh thải thẳng xuống sông… Qua
khảo sát của Bộ môn Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, có tới 17% hộ dân xây nhà
vệ sinh trên sông, trên 70% nước thải sinh hoạt và 30% rác thải cũng được cho ra sông.
Tại Đồng Tháp và An Giang, theo kết quả khảo sát cho thấy, chất lượng nguồn nước mặt
ở nơi đây đang ở mức độ nguy hiểm, có thể gây nguy cơ cá chết hàng loạt cho cá tra nuôi
ở các vùng này khi các chất gây ô nhiễm tiếp tục thải xuống sông rạch.
Có thể nói, con người là tác nhân chính gây ô nhiễm. Đáng sợ nhất là nước thải từ
các nhà máy, khu công nghiệp. Theo ước tính, để sản xuất một thùng bia khoảng 120 lít
thì phải cần đến 1.700 lít nước, để cần đến 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép thì phải cần đến
300.000 lít nước và phải mất đến 2 triệu lít nước mới có được 1 tấn nhựa tổng hợp. Theo
đó, thì phần nước sử dụng chỉ chiếm 1-2%, phần còn lại được trả về sông với đầy rẫy
chất gây ô nhiễm. Theo tính toán của các chuyên gia môi trường, với một đô thị có
khoảng 200.000 dân thì lượng nước thải mỗi ngày có thể từ 40.000 đến 60.000 m 3 và hầu
hết chưa qua xử lí đúng theo yêu cầu, mà nước thải đô thị là loại nước thải hỗn hợp có
trong các đô thị, loại nước thải này sẽ theo hệ thống cống, rãnh chảy ra các con sông,
kênh, rạch. Do đó, kéo theo sự ô nhiễm nguồn nước mặt và sẽ còn dẫn đến nguy cơ khan
hiếm nước sạch. Cũng theo dự báo, đến năm 2010 thì tỉ lệ dân số đô thị tăng, sẽ chiếm
33% dân số cả nước, từ đó khiến cho nhu cầu nước sinh hoạt tăng và nước sạch bị phá
hủy bởi người dân đô thị cũng tăng.
Theo nghiên cứu, phần lớn dòng chảy nước mặt trên lãnh thổ Việt Nam, là đến từ
các nước Trung Quốc, Thái Lan, Myanmar, Lào và Campuchia. Quá trình phát triển công
nghiệp, đô thị, nông nghiệp, dịch vụ, … ở các nước này đã khiến cho nhu cầu nước tăng
nhanh. Nguồn nước tại các quốc gia này đã được sử dụng triệt để, gây ô nhiễm rồi mới
chảy về phía Hạ nguồn là Việt Nam. Do vậy, tình trạng ô nhiễm nước mặt đã xảy ra ở
nhiều nơi với mức độ nghiêm trọng khác nhau. Đã vậy, nguồn nước mặt trong sạch ít ỏi
cũng bị các đô thị làm cho nhiễm bẩn, thêm vào đó là các khu công nghiệp vừa xài, vừa
hủy.
Tài nguyên nước rất đa dạng và có vai trò rất lớn đối với đời sống con người và sự
Một là, do hoạt động sản xuất công, nông nghiệp (thuốc trừ sâu, phân bón hóa
học, chất thải công nghiệp, nông nghiệp, chất phóng xạ,…).
Hai là, là các lại chất thải trong hoạt động của con người (rắn, lỏng, khí) như dùng
phân người và gia súc tươi để trồng cây, đổ rác và nước thải sinh hoạt: như nước ô nhiễm
chưa qua xử lý cần thiết, tưới bừa bãi, thì có thể đưa các chất có hại trong nguồn nước (có
chứa vi khuẩn, vi rút gây bệnh, trứng giun,…) vào đất. Các chất thải này có thể được tích
lũy trong đất trong thời gian dài gây ra nguy cơ tiềm tàng đối với môi trường. Người ta
còn phân chia các chất thải gây ô nhiễm đất làm 4 nhóm: Chất thải xây dựng, chất thải
kim loại, chất thải khí, chất thải hóa học và hữu cơ.
Chất thải xây dựng: như gạch, ngói, thủy tinh, ống nhựa, dây cáp, bê tông, …
trong đất rất khó bị phân hủy.
Chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng như: chì, kẽm, đồng, niken,
cadimi … thường có nhiều ở các khu khai thác mỏ, các khu công nghiệp. Các kim loại
này tích lũy trong đất và thâm nhập vào cơ thể theo chuỗi thức ăn và nước uống, ảnh
hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe.
Các chất thải khí và phóng xạ phát ra chủ yếu từ các nhà máy nhiệt điện, các khu
vực khai thác than, các khu vực nhà máy điện nguyên tử có khả năng tích lũy cao trong
các loại đất giàu khoáng sét và chất mùn.
Các chất thải hóa học và hữu cơ đây là các chất gây ô nhiễm đất ở mức độ lớn
như: các chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, màu vẽ, công
nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hóa chất. Nhiều loại chất hữu cơ đến
từ nước cống, rãnh thành phố, nước thải công nghiệp được sử dụng làm nguồn nước tưới
trong sản xuất cũng là tác nhân gây ô nhiễm đất.
GVHD: Th.S. KIM OANH NA
13
SVTH: VÕ NGỌC THANH
thành đất trống, đồi trọc, trong đó, có nhữn diện tích bị trơ sỏi đá và có khoảng 1,5 triệu
ha mất khả năng sinh sản.
Việc lạm dung hóa chất và thuốc trừ sâu trong canh tác nông nghiệp, canh tác
không đúng kỹ thuật đang gây ô nhiễm và suy thoái nhiều vùng đất trên phạm vi cả nước.
Theo kết quả quan trắc môi trường cho thấy, một số vùng đất nông nghiệp bị ô nhiễm
như là ở vùng trồng rau Thành phố Hồ Chí Minh, vùng rau Hóc Môn hàm lượng chì
trong tầng đất mặt đạt 89 mg/kg, vượt ngưỡng cho phép; vùng Thanh Trì, Từ Liêm (Hà
Nội).
Ở nước ta có hai nơi tập trung nhiều khu sản xuất lớn, đó là Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh, do có mật độ dân số khá cao nên dễ dẫn đến tình trạng đất bị ô nhiễm. Hà
GVHD: Th.S. KIM OANH NA
14
SVTH: VÕ NGỌC THANH
Đề tài luận văn: “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: thực trạng và giải pháp”
Nội với diện tích 4.300 ha, nhưng chỉ có 120 chỗ tập trung rác. Mỗi ngày, ở Hà Nội có
2000 tấn rác, 200 tấn chất thải, 400.000 m3 nước thải công nghiệp… Thành phố Hồ Chí
Minh là thành phố đông dân nhất nước, vì thế, mỗi ngày sản sinh ra 3000 tấn rác, trong
đó có từ 80 đến 100 tấn rác của các bệnh viện. Chính do những yếu tố này, đất không
những bị mất lớp mặt do ô nhiễm mà lòng đất đã trở thành nơi chôn cất các chất thải
công nghiệp, chất thải sinh hoạt, xác chết động vật do dịch cúm…
Nhìn chung, sự suy thoái và ô nhiễm môi trường đất ở nước ta giai đoạn hiện nay
đang diễn ra theo chiều hướng xấu. Có thể nói, với sự tác động ngày càng mạnh mẽ của
con người, đất đã và đang bị thoái hóa và ô nhiễm nghiêm trọng. Thế cho nên, để tăng
cường bảo vệ, cải tạo, phục hồi và bồi bổ tài nguyên đất, pháp luật Việt Nam đã có những
quy định chặt chẽ về vấn đề này.
SVTH: VÕ NGỌC THANH
Đề tài luận văn: “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: thực trạng và giải pháp”
tăng 1,6 triệu hecta so với năm 1995, trong đó rừng tự nhiên tăng 1,2 triệu hecta, rừng
trồng tăng 0,4 triệu hecta.
Công tác quản lý, quy hoạch tài nguyên rừng cũng có những chuyển động tích
cực. Trên phạm vi cả nước đã và đang hình thành các vùng trồng rừng tập trung nhằm
cung cấp nguyên liệu cho sản xuất. Chẳng hạn, vùng Đông bắc Trung du Bắc bộ đã trồng
300 nghìn hecta rừng nguyên liệu công nghiệp, Bắc Trung bộ có 70 nghìn hecta rừng
thông. Ngoài ra, hơn 6 triệu hecta rừng phòng hộ và 2 triệu hecta rừng đặc dụng được
quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học; có
tới 27 vườn quốc gia và hơn 50 khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng, quy hoạch và
quản lý… Trong 10 năm qua, hàng năm giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt xấp xỉ 6.000 tỷ
đồng, chiếm 5-7% giá trị sản lượng nông, lâm thủy sản.
Mặc dù, có những kết quả tích cực trong quy hoạch, sản xuất cũng như trong bảo
vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, song, nhìn chung chất lượng rừng ở nước ta hiện
nay vẫn còn rất thấp, rừng nước ta đã ít mà trong đó năng suất rừng trồng lại thấp. Đặc
biệt, nguồn tài nguyên rừng nước ta vẫn tiếp tục đứng trước những nguy cơ nghiêm trọng
như: bị hủy hoại, suy thoái, giảm sút và mất dần tính đa dạng sinh học của rừng. Hậu quả
khôn lường của những vụ tàn phá rừng trước đây và gần đây nhất là thảm họa cháy rừng
U Minh (3/2002), đã khiến cho gần 8 nghìn hecta rừng U Minh Thượng và U Minh Hạ
bỗng chốc trở thành đông tro tàn, đã thực sự là những lời cảnh báo nghiêm khắc đối với
chúng ta trong nhiệm vụ bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng nói riêng và bảo vệ môi
trường sống – chiếc nôi nuôi dưỡng sự sống của con người – nói chung.
Có thể nói, Rừng U Minh bao gồm những cánh rừng tràm bạt ngàn chạy dọc theo
bờ rìa Vịnh Thái Lan thuộc hai tỉnh Kiên Giang và Cà Mau hiện nay, trong đó phần thuộc
Kiên Giang được gọi là U Minh Thượng, còn phần thuộc Cà Mau là U Minh Hạ. Rừng U
Minh được xếp vào hệ sinh thái rừng ngập lợ với một hệ động – thực vật rất phong phú,
càng cao.
Tình cảnh của rừng U Minh Hạ từ sau năm 1975 cũng rất đáng được báo động
nguy hiểm. Các vụ cháy rừng khủng khiếp và cuộc “tấn công” rừng từ phía con người
trong những năm 70 – 80 của thế kỉ XX đã khiến diện tích rừng U Minh Hạ thu hẹp chưa
từng thấy. Năm 1977, rừng U Minh Hạ bị cháy trụi trên diện tích 21 nghìn hecta. Năm
1983, vụ cháy lịch sử kéo dài ròng rã 3 tháng trời đã biến 28 nghìn hecta rừng U Minh Hạ
thành đống tro tàn, hơn 30 nghìn hecta rừng bị cháy. Suốt thời gian đó, U Minh Hạ và
các vùng lân cận hầu như không thấy ánh mặt trời do khói bụi dày đặc, môi trường khu
vực bị ô nhiễm nặng. Trong vòng 10 năm qua (1991 – 2001), diện tích rừng tràm U Minh
Hạ tiếp tục mất đi khoảng 20 nghìn hecta do hỏa hoạn, như vậy tính trung bình cứ mỗi
năm U Minh Hạ bị thiêu cháy 2 nghìn hecta. Cho đến thời điểm này, rừng tràm U Minh
Hạ chỉ còn khoảng 39 nghìn hecta, nhưng phần lớn là rừng tái sinh và trồng mới. Cũng
cần nhấn mạnh rằng, những cánh rừng tràm bạt ngàn đầy tính huyền thoại của U Minh
xưa, không bị hủy hoại, bị biến mất do hỏa hoạn mà còn do hậu quả tai hại của nạn chặt
phá rừng bừa bãi để trồng rẫy, trồng lúa, nuôi tôm và nạn lâm tặc hoành hành. Tuy chưa
có số liệu thống kê cụ thể, nhưng theo nhiều ý kiến thì những thiệt hại của sự tàn phá
rừng từ những lý do nêu trên có lẽ cũng không thua kém là bao so với những thảm họa
cháy rừng. Tổng diện tích rừng U Minh (gồm U Minh Thượng và U Minh Hạ) sau thảm
họa cháy vừa qua chỉ còn lại khoảng 60 nghìn hecta – một con số nhỏ nhoi so với diện
tích hơn 200 nghìn hecta vốn có của nó 50 năm trước. Sự thay đổi nay đang bào mon,
hủy hoại hệ sinh thái rừng ngập nước U Minh, dẫn đến những hệ lụy khó lường đối với
môi trường khu vực các tỉnh lân cận cũng như cả nước, ảnh hưởng tiêu cực nặng nề đến
sự phát triển kinh tế - xã hội trước hết là của hai tỉnh Kiên Giang và Càu Mau. Với tốc độ
hủy hoại nhanh như gần 30 năm qua, nếu không có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu, thì
rừng U Minh rất có thể sẽ biến mất thực sự và chỉ còn lại trong những câu chuyện kể
huyền thoại đối với các thế hệ tương lai.
Nói tóm lại, việc bảo vệ, khai thác và phát triển tài nguyên rừng là rất cần thiết,
chúng ta phải hoàn chỉnh và thực thi ngay một chiến lược đồng bộ, có tính khả thi về tài
GVHD: Th.S. KIM OANH NA
Theo số liệu thống kê của Bộ Xây dựng, hiện nay, tổng lượng chất thải rắn sinh
hoạt phát sinh trong toàn quốc khoảng 12,8 triệu tấn/năm, trong đó, khu vực đô thị (từ
loại 4 trở lên) là 6,9 triệu tấn/năm (chiếm 54%), lượng chất thải rắn còn lại tập trung ở
các xã, thị trấn. Dự báo tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị đến năm 2010 sẽ vào
khoảng 12 triệu tấn/năm và đến năm 2020 tăng lên gần 22 triệu tấn/năm. Những ngành
phát sinh nhiều chất thải rắn đã xác định là, chế biến thực phẩm với khoảng 37.000
tấn/năm; chế biế gỗ gần 8.000 tấn/năm. Mỗi ngày, tại các đô thị và khu vực công nghiệp
thải ra trên 20.000 tấn chất thải rắn nhưng chỉ thu gom và đưa ra các bãi chứa được trên
60%.
Đến nay, mới chỉ có 12 trên 64 tỉnh, thành có bãi chôn rác hợp vệ sinh, hầu hết
chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị Việt Nam được xử lý chủ yếu bằng phương pháp
chôn lấp, trong đó, chỉ có khoảng 15% bãi chôn lấp chất thải rắn đảm bảo tiêu chuẩn hợp
vệ sinh, còn lại đều là các bãi rác lộ thiên hoặc đổ tự nhiên tại các bãi rác tạm. Chỉ có một
số ít bãi chôn lấp rác mới xây dựng gần đây được thực hiện theo quy hoạch đô thị đã phê
GVHD: Th.S. KIM OANH NA
18
SVTH: VÕ NGỌC THANH
Đề tài luận văn: “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: thực trạng và giải pháp”
duyệt. Đa số các bãi rác được xây dựng trước đây đều không có quy hoạch, lựa chọn địa
điểm. Trên thực tế, hầu hết các địa phương đều chưa có quy hoạch cụ thể vị trí bãi rác
cho các thị trấn và cụm dân cư. Rác sau khi thu gom không được xử lý, chôn lấp đúng
quy định mà chỉ đơn giản là gom lại để tập trung một chỗ. Thậm chí, hiện tượng vứt rác
bừa bãi xuống kênh mương, sông, hồ ở các vùng nông thôn đang diễn ra phổ biến, gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt đối với nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản
xuất. Và, một vấn đề gây “đau đầu” hiện nay, là chất thải từ các bệnh viện. Hàng ngafym,
GVHD: Th.S. KIM OANH NA
19
SVTH: VÕ NGỌC THANH
Đề tài luận văn: “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: thực trạng và giải pháp”
sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về điều hành chỉnh và xử lý vi phạm đối với hành vi
xả rác, thải các loại chất thải. Đây là, một tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại phát
triển.
1.2.6. Hiện trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp
Tính đến cuối năm 2007, cả nước ta có 154 khu công nghiệp và khu chế xuất đang
hoạt động. Trong đó, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có hơn 60 khu công nghiệp –
khu chế xuất. Công nghiệp không những cung cấp hầu hết những tư liệu sản xuất, xây
dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho tất cả các ngành kinh tế mà còn tạo ra các sản phẩm
tiêu dùng có giá trị, góp phần phát triển nền kinh tế và nâng cao trình độ văn minh của
toàn xã hội. Tuy nhiên, chất thải phát sinh từ những ngành công nghiệp đã và đang từng
bước đe dọa nghiêm trọng đến môi trường làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm, suy
thoái, nhiều chỉ tiêu môi trường đã vượt tiêu chuẩn cho phép và thật sự đáng báo động.
Ở Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh:
Hầu hết các ban quản lý khu công nghiệp – khu chế xuất và các doanh nghiệp hoạt
động trong khu vực này đều nắm rõ quy định về việc xây khu xử lý chất thải, tuy nhiên,
không phải nơi nào cũng thực hiện nghiêm túc. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, hiện có 13
khu công nghiệp – khu chế xuất với 910 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó có 6 khu
công nghiệp – khu chế xuất có nhà máy xử lý nước thải tập tủng đang hoạt động, đó là:
Tân Thuận, Linh Trung 1, Linh Trung 2, Lê Minh Xuân, Tân Tạo và Tân Bình nhưng chỉ
có 3 nơi có hệ thống thu gom nước thải hoàn chỉnh 100% doanh nghiệp đã đấu nối nước
thải vào hệ thống thu gom. Các khu công nghiệp còn lại do việc xây dựng cơ sở hạ tầng
công nghiệp được thu gom và xử lý mới đạt 50 – 60%; chất thải rắn công nghiệp nguy
hại chỉ đạt 15 – 20%, tiềm ẩn nhiều mối nguy hiểm. Lượng nước thải từ các khu công
nghiệp như: Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2, Nhơn Trạch 3, Gò Dầu… đã gây ô nhiễm
nặng cho sông Thị Vải.
Theo kết quả kiểm tra của Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cho thấy,
trong 13 khu công nghiệp có nguồn thải lớn hơn 57.000 m 3/ngày đêm thì chỉ gần 20.000
m3 được xử lý tại các nhà máy xử lý nước thải tập trung của các khu công nghiệp, khu
công nghiệp Nhơn Trạch 1 đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng đang
trong giai đoạn vận hành thử nghiệm và mới chỉ xử lý được 1.500 m 3/ngày, nước thải qua
xử lý vẫn có tổng Coliform vượt 2.600 lần, khu công nghiệp Nhơn Trạch 3 có hai cống
thoát nước chính ra cống Lò Rèn và Rạch Miễu đổ ra sông Thị Vải. Phân tích mẫu nước
thải của khu công nghiệp tại cống Lò Rèn cho thấy, hàm lượng các chất Cyanua vì vi
khuẩn khá cao, trong đó hàm lượng Coliform vượt tiêu chuẩn 9.200 lần.
Ở Khu vực Bình Dương:
Tính đến tháng 6/2008, Ban quản lý các khu công nghiệp Bình Dương được giao
quản lý 24 khu công nghiệp, trong đó chỉ có 4 trên 10 khu công nghiệp có nhà máy xử lý
nước thải đang hoạt động, tuy nhiên chưa thực hiện đấu nước thải vào nhà máy xử lý
nước thải tập trung như: Sóng Thần 1, Sóng Thần 2, Đồng An, Tân Đông Hiệp B. Số còn
lại đang trong quá trình xây dựng hoặc mới có dự án. Riêng khu công nghiệp Bình An đã
cơ bản hoàn thành cơ sở hạ tầng nhưng lại không xây dựng hệ thống thu gom nước thải.
Bên cạnh đó, cũng có khu công nghiệp đã đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập
trung lớn như VSIP, khu công nghiệp này đã đưa vào hoạt động nhà máy xử lý nước thải
đạt loại A theo tiêu chuẩn nước thải công nghiệp Tiêu chuẩn Việt Nam 5945 – 1995.
Việc phát triển mạnh mẽ các khu công nghiệp – khu chế xuất trong vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam đã thải ra một lượng lớn nước thải, khí thải, chất thải rắn và chất
thải rắn nguy hại đã đe dọa nghiêm trọng môi trường sống. Khu vực này đã và đang bị
khai thác quá tải dẫn đến suy thoái đáng kể tài nguyên và môi trường, lo ngại nhất là rừng
đầu nguồn, đất, … chất lượng và trữ lượng nước, tài nguyên khoáng sản, đa dạng sinh
học.
1.3. SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CON NGƯỜI
người nông dân bị chứng đau nhức các khớp xương, 34 người chết, 280 người tàn phế.
Cùng với sự tăng lên về số lượng sử dụng phân hóa học thì, độ sâ và độ rộng của loại ô
nhiễm này ngày càng nghiêm trọng. Vì số lượng lớn nông dược tích lũy trong đất, đặc
biệt là các thuốc có chứa các nguyên tố như chì, asen, thủy ngân… có độc tính lớn, thời
gian lưu lại trong đất dài, có loại nông dược thời gian lưu trong đất tới 10 đến 30 năm,
những loại nông dược này có thể được cây trồng hấp thu, tích lũy trong quả, lá rồi vào cơ
thể người và động vật qua thực phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe.
Ô nhiễm đất không những ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông nghiệp và chất lượng
nông sản, mà còn thông qua lương thực, rau quả… ảnh hưởng gián tiếp tới sức khỏe con
người và động vật. Sự tích tụ cao các chất độc hại, các kim loại nặng trong đất sẽ làm
tăng khả năng hấp thụ các nguyên tố có hại trong cây trông, vật nuôi và gián tiếp gây tác
hại tới sức khỏe con người.
Hiện nay, do sử dụng quá nhiều hóa chất trong nông nghiệp nên tình hình ngộ độc
thực phẩm do các hóa chát độc, trong đó có thuốc bảo vệ thực vật vẫn diễn ra phức tạp và
có nhiều hướng gia tăng. Theo thống kê của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm trong 6
tháng đầu năm 2008, cả nước đã xảy ra 106 vụ ngộ độc thực phẩm với trên 4.700 người
mắc, trong đó 43 trường hợp tử vong. Tình hình ô nhiễm môi trường nước cũng đang
gióng lên hồi chuông báo động, nhất là tại các đô thị lớn như: Thành phố Hồ Chí Minh,
GVHD: Th.S. KIM OANH NA
22
SVTH: VÕ NGỌC THANH
Đề tài luận văn: “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: thực trạng và giải pháp”
Hà Nội, tại các lưu vực sông… đang từng ngày đe dọa đến sức khỏe của hàng chục triệu
người dân. Theo nghiên cứu, mỗi người, mỗi ngày cần khoảng 20 lít nước ngọt để ăn,
uống. Ngoài ra, cần từ 50 đến 150 lít nước sinh hoạt. Dân số ngày thì một tăng, nông
cao gấp 5,4 lần so với những khu vực khác. Điều đó cũng giải thích vì sao tại các bệnh
viện chuyên ngành, số người mắc các bệnh ung thư luôn tăng ở cấp số cộng. Là một
thành phố có số dân chiếm đến 1/10 dân số cả nước đang phải đối mặt từng ngày, từng
GVHD: Th.S. KIM OANH NA
23
SVTH: VÕ NGỌC THANH
Đề tài luận văn: “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: thực trạng và giải pháp”
giờ với một nguồn khí “bẩn” thì sự tiên liệu về sức lao động ngày càng giảm sút, đây là
điều rất đáng để quan tâm và cần khẩn cấp có giải pháp khắc phục.
Theo đó, thì sự ảnh hưởng của rác thải cũng tác động tiêu cực đến sức khỏe con
người. Trong nhiều đô thị của ta hiện nay có rất nhiều ao tù nước đọng, bẩn thỉu và bốc
lên mùi hôi hám rất khó chịu. Chính do, các hành vi thiếu ý thức, vứt rác bừa bãi của
người dân đô thị và hậu quả là làm mất đi vẻ mỹ quan của đô thị, làm giảm sức khỏe con
người. Tác hại đầu tiên là, rác thải gây ô nhiễm môi trường nước mà đây là nguyên nhân
chính gây ra các bệnh như: tiêu chảy, thương hàn, viêm gan A, giun, sán. Các bệnh này,
gây suy dinh dưỡng, làm thiếu máu, kém phát triển, tử vong, nhất là trẻ em. Thêm vào
đó, khi con người thải ra các chất hữu cơ, xác chết động vật sẽ qua những trung gian
bệnh và gây ra nhiều bệnh tật nguy hiểm, có thể trở thành dịch bệnh. Ví dụ: bệnh dịch tả,
dịch hạch. Từ những phân tích nêu trên, có thể nói rằng, những tác động tiêu cực đến môi
trường tự nhiên, khai thác thiên nhiên một cách cạn kiệt, vừa xài, vừa hủy, vứt rác bừa
bãi thì trong tương lai gần con người phải đối diện với những thách thức vô cùng khó
khăn, nan giải.
1.3.2. Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường
Để chặn đứng những thảm họa do ô nhiễm môi trường gây ra hiện nay, đang thật
nhập bị mất do vệ sinh môi trường kém gây ra) trung bình tương đương khoảng 0,5%
tổng sản phẩm quốc dân (GDP) hàng năm, tức khoảng 290 triệu đô la Mỹ, và tổn thất về
kinh tế nói chung bằng 1,3% GDP, tức 780 triệu đô la Mỹ. Trong tổng thiệt hại kinh tế do
vệ sinh môi trường kém thì thiệt hại đối với y tế là 262 triệu đô la Mỹ trên một năm, và,
được chia ra cho ba nhóm (chi phí cho chăm sóc y tế, mất sức lao động và thiệt hại về
người). Do ô nhiễm nguồn nước, mỗi năm, đất nước ta bị thiệt hại 287.3 triệu đô la Mỹ.
Theo nghiên cứu, tại Viêt Nam hàng năm có khoảng 2,3 triệu tấn phân, 46 triệu mét khối
nước tiểu và 610 triệu nước thải sinh hoạt gia đình đổ vào các nguồn nước trong đất liền,
đây là nguyên nhân gây dịch bệnh lây lan và hiện tượng khan hiếm nước sạch. Hàng
năm, Nhà nước ta phải dành ra hàng ngàn tỷ đồng để chi cho các hoạt động cải tạo môi
trường. Mới đây, Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương đã quyết định chi 307 tỷ đồng
để cải tạo kênh Ba Bò.
Còn đối với các vùng ven biển ở Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 8 tỉnh:
Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang có
bờ biển dài 736 km. Đặc trưng của vùng này là suy thoái rừng ngập mặn do phá rừng đắp
đập nuôi tôm, suy giảm tài nguyên thủy sản và đa dạng sinh học. Phong trào tự phát pháp
lúa, phá rừng đước ngập mặn để nuôi tôm, thủy sản đã khiến chúng ta phải trả giá không
chỉ ở giá trị vật chất của xã hội hiện tại, mà cả môi trường sinh thái của vùng đối với các
thế hệ tương lai.
Một thách thức lớn về môi trường mang tính toàn cầu, đó là biến đổi khí hậu, vấn
đề mà các quốc gia trên thế giới đang quan tâm lo ngại nhiều nhất. Biến đổi khí hậu gây
ra nhiều thiên tai như:bão, lũ lụt, khô hạn, xâm nhập mặn, đe dọa sự sống của các loài
sinh vật, hoat động của con người. Biến đổi khí hậu làm cho không khí ngày càng nóng
lên, mực nước sông Cửu Long, làm mất diện tích đất, giảm sản lượng lương thực, đe dọa
an ninh lương thực quốc gia.
Nước ta đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức ngày càng tăng trong công
tác bảo vệ môi trường. Áp dụng do dân số tăng, phát triển công nghiệp và hội nhập kinh
tế quốc tế đòi hỏi tiêu thụ ngày càng nhiều tài nguyên thiên nhiên và năng lượng. Phát
triển công nghiệp hóa đang gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, chỉ tính riêng Hà Nội,
mỗi năm tổn thất lên tới 23 triệu USD do ô nhiễm không khí. Với tình trạng ô nhiễm môi