Môc lôc
2
mở đầu
1. Lý do và tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một sự nghiệp lớn lao và
hệ trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: Chăm sóc và giáo dục tốt các
cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, Trớc hết, gia đình phải làm thật tốt
công việc ấy; các Đảng ủy...các ban, ngành, đoàn thể khác phải có kế hoạch cụ
thể chăm sóc các cháu ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ. [5, tr7]
Thấm nhuần t tởng của Ngời, Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta đã và đang
quan tâm ngày một tốt hơn công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Thực
tế công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nớc ta hiện nay đã có nhiều
chuyển biến đáng khích lệ, thực trạng tình hình trẻ em ở nớc ta đang đợc cải
thiện trên nhiều mặt về đời sống vật chất và tinh thần. Quốc tế đánh giá cao
những kết quả mà chúng ta đã đạt đợc trong sự nghiệp bảo vệ quyền trẻ em.
Bên cạnh những kết quả đã đạt đợc thì tình hình trẻ em bị xâm phạm về thể
chất và tinh thần, môi trờng sống không đảm bảo lành mạnh và an toàn đang là
một thực tế hiện nay. Vi phạm hành chính về trẻ em là một trong những nguyên
nhân dẫn đến hệ quả tiêu cực đó. Vậy thì, pháp luật hiện hành đã quy định nh thế
nào về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em? Các quy
định đó đã đủ sức răn đe, giáo dục đối tợng vi phạm, đã tạo ra đợc hành lang
pháp lý thuận lợi cho các chủ thể có thẩm quyền xử lý nghiêm minh các hành vi
vi phạm hay cha? Đó là những nội dung quan trọng cần đợc chúng ta tìm hiểu,
nghiên cứu và làm sáng tỏ, để qua đó có những kiến giải, đóng góp quan trọng
nhằm hoàn thiện pháp luật.
Với đề tài: Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ quyền trẻ em, bài viết này, chúng tôi, mong muốn góp phần quan
trọng, có ý nghĩa cụ thể và thiết thực vào mục đích nêu trên.
Đứng vững trên lập trờng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử để xem xét vấn đề một cách toàn diện, đầy đủ và khách quan
nhất.
* Phơng pháp riêng (phơng pháp củ thể có tính đặc thù):
- Phơng pháp phân tích - tổng hợp tài liệu (chủ yếu);
- Phơng pháp lôgíc - lịch sử;
- Phơng pháp liên hệ so sánh, thống kê mô tả.
4
Chơng I: Một số vấn đề lý luận về quyền trẻ em và vi
phạm Hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em
1.1. Quyền trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em
Trẻ em là chủ nhân tơng lai của đất nớc, là hạnh phúc của gia đình, là lớp
ngời kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã dành tình cảm đặc biệt cho trẻ em. Tình thơng yêu Bác dành cho trẻ em
thật vô bờ bến, tình yêu đó bắt nguồn từ lý tởng của Bác: suốt đời phấn đấu cho
sự nghiệp vĩ đại - giải phóng dân tộc, giải phóng con ngời. Mu cầu hạnh phúc
cho nhân dân, đó là điều ham muốn tột bậc của Ngời. Sự quan tâm đặc biệt của
Ngời dành cho trẻ em còn bắt nguồn từ tầm nhìn xa trông rộng, Vì lợi ích trăm
năm, từ chiến lợc con ngời. Trong chiến lợc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày
công vun trồng thế hệ mầm non của đất nớc. Vì ngày nay các cháu là nhi đồng.
Ngày sau các cháu là ngời chủ của nớc nhà, của thế giới. T tởng này giờ đây
vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó và hoàn toàn phụ hợp với t tởng của thời đại:
Trẻ em hôm nay - thế giới ngày mai. Nh vậy, Ngời đã chỉ cho chúng ta thấy
trẻ em cần đợc chăm sóc, bảo vệ về mọi mặt: Sức khỏe, học tập, vui chơi giải trí
và hoạt động đoàn thể.[5, tr5]
Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một sự nghiệp lớn lao và
điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội nhất định[7]
Theo chúng tôi, quyền trẻ em- quyền con ngời là những quyền nhân sinh,
mang tính chất tự nhiên và xã hội mà bất kể một cá thể nào sinh ra đều có quyền
đợc hởng khi họ tham gia vào quan hệ giữa con ngời với con ngời, giữa con ngời
với thế giới tự nhiên, giữa con ngời với thế giới tâm linh và quan hệ giữa họ với
chính bản thân mình; các quyền con ngời đó phải đợc bảo vệ bằng pháp luật,
trong khuôn khổ pháp luật Quốc gia và Pháp luật Quốc tế. Tuyên bố thế giới về
nhân quyền năm 1948 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc quy định: Điều 1 Mọi
ngời sinh ra đều bình đẳng về phẩm giá và nhân quyền. Họ đợc phú cho lý trí và
tơng lai và phải đối xử với nhau trong tình anh em; Điều 2 Mọi ngời đều đợc
hởng tất cả các quyền và tự do nêu trong bản tuyên ngôn này, không có bất kỳ sự
phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính
kiến hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, giống nòi hay
6
các tình trạng khác.... Nh vậy, trẻ em cần phải đợc hởng đầy đủ các giá trị
quyền lợi tự nhiên và xã hội của con ngời, đợc bảo vệ bằng pháp luật. Bên cạnh
đó, trẻ em còn đợc hởng các quyền khác mà xã hội u tiên dành cho. Để chăm
sóc, bảo vệ các quyền của trẻ em cần có sự chung sức của toàn thể xã hội với
nhiều hoạt động khác nhau, trong đó xử lý để ngăn chăn và phòng ngừa các hành
vi vi phạm pháp luật đối với trẻ em là một hoạt động quan trọng mang tính pháp
lý đặc trng.
* Pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền trẻ em
Các quyền và nghĩa vụ của trẻ em đợc pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo
hộ trong các văn bản pháp luật khác nhau từ: Hiến pháp, Luật, đến các văn bản
dới luật. Điều 65, Hiến pháp Nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 quy định: Trẻ em đợc gia đình, Nhà nớc và xã hội bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục. Cụ thể hơn, theo quy định tại Chơng II, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo
quyền. Tuyên bố thế giới về nhân quyền là Điều ớc quốc tế chung về quyền con
ngời, trong đó có điều khoản riêng quy định về quyền trẻ em, Điều 25 khoản 2
quy định: Ngời mẹ và trẻ em đợc đảm bảo sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt.
Mọi đứa con dù trong hay ngoài giá thú đều phải đợc hởng sự bảo hiểm xã hội
nh nhau.
Thứ hai, Công ớc quốc tế về quyền trẻ em, thông qua ngày 20 tháng11 năm
1989, có hiệu lực ngày 2 tháng 9 năm 1990. Việt Nam gia nhập Công ớc này
ngày 20 tháng 2 năm 1990. Đây là công ớc quốc tế dành riêng để bảo vệ quyền
trẻ em, là cơ sở pháp lý quan trọng ràng buộc trách nhiệm của các quốc gia
thành viên trong hoạt động chăm sóc và bảo vệ quyền trẻ em. Tại Điều 2, Công ớc quy định: 1. Các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo đảm những
quyền đợc nêu ra trong công ớc đối với trẻ em thuộc quyền tài phán của họ
không có bất cứ một sự phân biệt đối xử nào, bất kể trẻ em, cha mẹ hay ngời
giám hộ pháp lý của trẻ em đó thuộc chủng tộc, màu da, giới tính, tiếng nói, tôn
giáo nào, không kể ngời đó có quan điểm chính trị hay quan điểm gì khác mh
thế nào, gốc gác quốc gia, dân tộc hay xã hội, tài sản, khuyết tật, xuất thân và
những mối tơng quan ra sao...; Điều 3, của Công ớc quy định: Trong mọi hoạt
động đối với trẻ em dù của cơ quan phúc lợi xã hội của Nhà nớc hay của cá
8
nhân, Tòa án hay nhà chức trách hành chính, cơ quan lập pháp, thì những lợi
ích tốt nhất của tẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu...
Hay tại Điều 24 khoản 1 của Công ớc quốc tế về các quyền dân sự, chính
trị mà Việt Nam gia nhập ngày 24 tháng 9 năm 1982 đề cập đến vấn đề bảo vệ
quyền trẻ em cũng quy định trên tinh thần tơng tự nh vậy.
Việt Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới (và là nớc đầu tiên ở Châu á) phê
chuẩn Công ớc Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Việc phê chuẩn rất sớm toàn bộ
Công ớc không phải bảo lu một điều khoản nào cho thấy sự quan tâm của Nhà nớc đối với việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Điều này phản ánh một truyền thống từ
lâu đời của dân tộc ta là luôn dành cho trẻ em những lợi ích tốt đẹp nhất.
* Khái niệm vi phạm hành chính về trẻ em
Vi phạm hành chính về trẻ em là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nớc
trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em mà không phải là tội phạm và phải bị xử phạt
vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Vi phạm hành chính đối với trẻ
em ngoài những đặc điểm của vi phạm hành chính nói chung nó còn mang một
số đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, chủ thể bị vi phạm trong quan hệ pháp luật này là trẻ em hay nói
cách khác nạn nhân của hành vi vi phạm này là trẻ em. Mà theo quy định của
luật bảo vệ, chăm sóc trẻ em thì trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt
Nam dới mời sáu tuổi.
Thứ hai, khách thể của loại quan hệ pháp luật này là các quyền đợc chăm
sóc và bảo vệ của trẻ em đợc pháp luật ghi nhận và bảo hộ thông qua các hoạt
động quản lý của nhà nớc. Đối tợng trực tiếp là các giá trị vật chất và tinh thần
mà trẻ em đợc hởng theo quy định của pháp luật hiện hành. Nh quyền đợc chăm
sóc nuôi dỡng để phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức; quyền đợc học tập;
quyền đợc vui chơi, giải trí lành mạnh, đợc hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục,
thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi; quyền có tài sản, hởng thừa kế, hởng các
chế độ bảo hiểm theo quy định của pháp luật;...đợc quy định tại luật bảo vệ,
chăm sóc trẻ em và các văn bản pháp luật có liên quan khác.
* Các loại vi phạm hành chính về trẻ em
Vi phạm hành chính về trẻ em là các loại vi phạm hành chính xâm phạm
đến các quyền của trẻ em đợc pháp luật bảo vệ, các quyền cơ bản đó đợc quy
định tại Chơng II, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. Hiện
10
nay, các loại vi phạm hành chính về trẻ em đợc quy định cụ thể trong một số các
Nghị định của Chính phủ đã liệt kê ở phần trên. Theo đó, tại NĐ số 114 quy định
- Thu tiền khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dới sáu tuổi tại các cơ sở y tế
công lập trái với quy định của pháp luật.
- Cố tình không sự dụng trang thiết bị, phơng tiện khám bệnh, chữa bệnh
cho trẻ em trong khi có điều kiện và đợc phép sự dụng.
i vi loi vi phm này, du hiu li c ý là du hiu bt buc trong cu
thành. Tuy nhiên, nu hu qu là tr em cht thì hành vi s cu thành Ti không
cu giúp ngi ang trong tình trng nguy him n tính mng theo iu 102
ca B lut hình s.
2. Hành vi cha, mẹ bỏ rơi con, ngời giám hộ bỏ rơi trẻ em đợc mình giám
hộ (Điều 13 của Nghị định 114) có các loại hành vi cụ thể sau:
- Ngay sau khi sinh con, cha hoặc mẹ bỏ con, không chăm sóc, nuôi dỡng.
Trong trng hp ngi m do nh hng nng n ca t tng lc hu hoc
trong hon cnh khỏch quan c bit m vt b con mi dn n hu qu a
tr cht thỡ hnh vi cu thnh Ti git con mi theo iu 94 ca B Lut hỡnh
s.
- Cha, mẹ để con, ngời giám hộ để trẻ em đợc mình giám hộ cho ngời khác
nuôi, cắt đứt quan hệ, không thực hiện nghĩa vụ đóng góp nuôi dỡng trẻ em, mặc
dù có khả năng thực hiện nghĩa vụ này, trừ trờng hợp cho trẻ em làm con nuôi
theo quy định của pháp luật. Trong trng hp gõy hu qu nghiờm trng hoc
ngi thc hin hnh vi ó b x lớ hnh chớnh v hnh vi ny m vn tỏi phm,
thỡ hnh vi cu thnh Ti t chi hoc trn trỏnh ngha v cp dng theo iu
152 ca B lut hỡnh s.
12
3. Hành vi kích động tình dục trẻ em (Điều 15 Nghị định 114) có các loại
hành vi cụ thể sau:
- Cho trẻ em tiếp xúc với văn hóa phẩm, sản phẩm có nội dung khiêu dâm;
- Tác động vào cơ thể trẻ em hằm kích động tình dục trẻ em. i vi hnh
đợc tiến hành thờng xuyên trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các cơ
quan nhà nớc, tổ chức và công dân đều có trách nhiệm phát hiện và kiến nghị xử
lý kịp thời các vi phạm hành chính về trẻ em với cơ quan có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật.
Trên thực tế hiện nay, việc xác minh rõ các tình tiết của một hành vi nào đó
có vi phạm hành chính về trẻ em hay không là rất khó khăn. Bởi vì, hầu hết các
hành vi vi phạm hành chính về trẻ em đều có dấu hiệu của mặt khách quan trong
cấu thành tội phạm. Ví dụ, giữa hành vi vi phạm hành chính kích động tình dục
trẻ em quy định tại Điều 15 NĐ số114/2006/NĐ- CP với hành vi phạm tội dâm
ô với trẻ em quy định tại Điều 116 Bộ luật hình sự năm 1999, đều có dấu hiệu
của mặt khách quan là nh nhau rất khó phân biệt. Vì vậy, việc xác định đâu là
hành vi vi phạm hành chính về trẻ em chúng ta phải căn cứ triệt để vào mức độ
của hành vi vi phạm, chủ thể thực hiện.
Để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc nói trên pháp luật về xử phạt
vi phạm hành chính quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, thời hạn ra
14
quyết định xử phạt, thủ tục đình chỉ vi phạm hành chính và các biện pháp khắc
phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra.
* Thứ hai, cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có vi phạm hành
chính do pháp luật quy định.
Việc xác định vi phạm hành chính về trẻ em và áp dụng các biện pháp xử
phạt hành chính có ảnh hởng trực tiếp đến lợi ích của nhà nớc, tự do, quyền và
lợi ích của các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Do vậy, pháp luật cần quy định cụ
thể về các loại vi phạm hành chính về trẻ em và nguy cơ áp dụng các biện pháp
xử phạt hành chính đối với cá nhân, tổ chức thực hiện những loại vi phạm đó
nhằm hạn chế tối đa việc bỏ lọt vi phạm hành chính cũng nh việc áp dụng tùy
tiện các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính.
(giáo dục tại xã, phờng, thị trấn; đa vào trờng giáo dỡng; đa vào cơ sở giáo dục;
đa vào cơ sở chữa bệnh); i vi hành vi ó;
- Trong trng hp hành vi vi phm có du hiu ti phm b chuyn h s
ngh truy cu trách nhim hình s mà trc ó ã có quyt nh x pht vi
phm hành chính thì ngi ó quyt nh x pht phi hu b quyt nh x
pht; nu cha ra quyt nh x pht thì không x pht vi phm hành chính i
vi hành vi ó;
- Nhiu ngi cùng thc hin mt hành vi vi phm hành chính thì mi
ngi vi phm u b x pht v hành vi đó. Ngi có thm quyn x pht cn
c vào tính cht, mc vi phm, nhân thân ngi vi phm, tình tit tng nng,
gim nh mà ra quyt nh x pht i vi tng ngi cùng thc hin vi phm
hành chính;
- Mt ngi thc hin nhiu hành vi vi phm hành chính thì b x pht v
tng hành vi vi phm. Khi quyt nh x pht mt ngi thc hin nhiu hành vi
vi phm hành chính, thì ngi có thm quyn ch ra mt quyt nh x pht
trong đó quyt nh hình thc, mc x pht i vi tng hành vi vi phm; nu
các hình thc x pht là pht tin thì cng li thành mc pht chung.
16
* Thứ năm, việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức
độ vi phạm, nhân thân ngời vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để
quyết định hình thức, biện pháp xử phạt thích hợp.
Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính nghiêm
minh của pháp luật, bảo đảm tính giáo dục và phòng ngừa vi phạm trong công
tác xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp
pháp của trẻ em.
* Thứ sáu, không xử phạt vi phạm hành chính trong các trờng hợp thuộc
tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành
2.2. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em
Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính đợc áp dụng trớc hết nhằm mục
đích trừng phạt ngời vi phạm, thông qua đó giáo dục mọi ngời tuân thủ pháp
luật, tôn trọng các quy tắc của đời sống cộng đồng, phòng ngừa các vi phạm
pháp luật có thể xẩy ra. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em đợc
quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và các Nghị định của Chính
phủ trong các lĩnh vực cụ thể. Theo đó, đối với mỗi vi phạm hành chính về trẻ
em, chủ thể vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo
hoặc phạt tiền.
* Cảnh cáo:
Hình thức này đợc áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính
nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ, hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính
do ngời cha thành niên từ đủ 14 tuổi đến dới 16 tuổi thực hiện với lỗi cố ý. Khi
xử phạt cảnh cáo, ngời có thẩm quyền quyết định xử phạt bằng văn bản.
Nh vậy, hình thức xử phạt cảnh cáo chỉ đợc áp dụng đối với cá nhân tử đủ
16 tuổi trở lên hoặc tổ chức vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Hành vi vi phạm mà tổ chức, cá nhân thực hiện đợc văn bản pháp luật quy
định là có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Điều này xác định rằng loại
hành vi mà tổ chức, cá nhân đã thực hiện là vi phạm nhỏ. Nếu loại vi phạm mà
chủ thể đó thực hiện mà pháp luật quy định chỉ áp dụng hình thức phạt tiền thì
18
không đợc áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Ví dụ nh, Điều 21, khoản 1 NĐ
số 114/2006/NĐ- CP, quy định: phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng
dến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng nhục, bắt làm việc có tính chất xúc
phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm đối với trẻ em vi phạm pháp luật, thì trong
trờng hợp này chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào mức độ vi phạm mà có thể áp
về trẻ em quy định tại khoản 2, Điều 26 là từ 200.000 đồng dến 500.000 đồng;
còn trong NĐ số114/2006/NĐ- CP mức thấp nhất là 100.000 đồng và mức cao
nhất là 30.000.000 đồng.
Việc lựa chọn, áp dụng mức tiền phạt đối với ngời vi phạm phải trong
khung phạt cụ thể đợc văn bản pháp luật quy định cho loại vi phạm đã thực hiện
theo cách: Mức tiền phạt cụ thể đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính là mức
trung bình của khung tiền phạt đợc quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết
giảm nhẹ thì mức phạt có thể giảm xuống, nhng không đợc giảm quá mức tối
thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức phạt tiền có thể tăng
lên nhng không đợc vợt quá mức tối đa của khung tiền phạt. Ví dụ: Cá nhân, tổ
chức có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng uy quyền để ép buộc
trẻ em phải bỏ học, nghỉ học, thì bị xử phạt từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng
(khoản 1, Điều 20, NĐ 114/2006/NĐ- CP), khi áp dụng mức xử phạt sẽ lấy mức
trung bình của khung tiền phạt là 350.000 đồng. Còn nếu nh trờng hợp chủ thể vi
phạm lại có tình tiết tăng nặng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm (khoản
5, Điều 9 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002), thì có thể áp dụng
mức tiền phạt cao hơn mức trung bình nhng không đợc quá 500.000 đồng. Cũng
ví dụ trên nếu chủ thể vi phạm lại có tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện khai báo,
thành thật hối lỗi (điểm b, khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
năm 2002), thì có thể áp dụng mức tiền phạt thấp hơn mức trung bình nhng
không đợc thấp hơn 200.000 đồng.
Việc lựa chọn, áp dụng mức tiền phạt đối với ngời từ đủ 16 tuổi đến dới 18
tuổi vi phạm hành chính có những nét đặc thù riêng biệt đã đợc quy định tại
khoản 1, Điều 7 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, khi phạt tiền
đối với họ thì mức tiền phạt không đợc quá một phần hai mức phạt đối với ngời
thành niên.
Nhìn chung, trong các hành vi vi phạm hành chính về trẻ em, thì hình thức
xử phạt tiền đợc áp dụng chiếm tỷ lệ cao hơn hình thức xử phạt cảnh cáo (xử
phạt tiền chiếm tới 73,8%, cảnh cáo chỉ có 24,2%). Nhng điều đó hoàn toàn
các loại hành vi này là từ 01 táng đến 06 tháng, hai trờng hợp áp dụng không
21
thời hạn, không có trờng hợp nào áp dụng thời hạn lên đến 12 tháng nh quy định
chung trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính. Ví dụ, tại khoản 4 Điều 19
Nghị định 114 quy định Tớc quyền sự dụng giấy phép từ 03 tháng đến 06 tháng
đối với hành vi sự dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng giả, hàng cấm,
hàng hóa, tiền tệ trái phép ở trong nớc
Thi hn tc quyn s dng giy phép, chng ch hành ngh c tính t
thi im tm gi giy phép, chng ch hành ngh. Trng hp mt ngi cùng
mt lúc thc hin nhiu hành vi vi phm hành chính mà các hành vi này b tc
quyn s dng cùng mt loi giy phép, chng ch hành ngh thì ch áp dng
tc quyn s dng giy phép, chng ch hành ngh có thi hn dài nht quy
nh i vi các hành vi vi phm; nu không cùng mt loi giy phép, chng ch
hành ngh thì áp dng riêng i vi tng hành vi.
Ví dụ, khoản 3, Điều 12 NĐ số 114/2006/NĐ- CP, quy định: Tớc quyền sử
dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi
từ chối khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em; hoặc hành vi thu tiền khám bệnh,
chữa bệnh cho trẻ em dới 6 tuổi theo quy định của pháp luật.
* Tịch thu tang vật, phơng tiện đợc sử dụng để vi phạm hành chính:
Là việc ngời có thẩm quyền xử phạt quyết định biện pháp tịch thu để sung
vào công quỹ Nhà nớc các tài sản, vật chứng, hàng hóa, tiền bạc... dùng để thực
hiện hành vi vi phạm hành chính hoặc do vi phạm hành chính mà có.
Tu thuc vào tính cht, mc ca vi phm hành chính mà ch th có
thm quyn quyt nh áp dng hình thc tch thu tang vt, phng tin c s
dng vi phm hành chính hoc không áp dng bin pháp này kèm theo hình
thc x pht chính. Trong mt s trng hp, hình thc này có th c áp dng
c lp (đó là các trờng hợp quy định tại khoản1 Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính, các Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành trong
lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em, thì các biện pháp khắc phục này gồm có:
* Thứ nhất: Các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính về
trẻ em gây ra quy định tại NĐ số 114/2006/NĐ - CP:
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành
chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dng, lắp đặt thiết bị trái phép;
23
- Buộc thực hiện những biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trờng
do vi phạm hành chính gây ra; tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con ngời,
văn hóa phẩm độc hại;
- Buộc thu hồi số tiền do vi phạm hành chính gây ra; nộp lại số tiền bằng
giá trị tang vật , phơng tiện vi phạm đã tiêu thụ , tẩu tán trái với quy định của
pháp luật;
- Buộc thực hiện trách nhiệm chăm sóc, nuôi dỡng trẻ em, thực hiện nghĩa
vụ đóng góp nuôi dỡng trẻ em theo quy định;
- Buộc chịu mọi chi phí để khám bệnh , chữa bệnh cho trẻ em do hành vi vi
phạm hành chính gây ra;
- Buộc thực hiện các quy định về việc thành lập, hoạt động của cơ sở trợ
giúp trẻ em theo quy định tại Điều 45, Điều 46 và Điều 47 Luật bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em;
- Buộc chịu mọi chí phí để đa trẻ em trở về gia đình, gia đìng thay thế hoặc
cơ sở trợ giúp trẻ em.
- Tịch thu tang vật, phơng tiện vi phạm đối với hành vi bán rợu, bia cho trẻ
em dới 16 tuổi (theo quy định tại Điều 26, NĐ150/2006/NĐ- CP);
- Tái chế hoặc buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe của trẻ em đối
với hành vi vi phạm các quy định về sản xuất, kinh doanh và sự dụng các sán
phẩm thay thế sữa mẹ (theo quy định tại Điều 17, NĐ số 45/2005/NĐ- CP);
hin bng vn bn. Cp phó c y quyn phi chu trách nhim v quyt nh
x pht vi phm hành chính ca mình trc cp trng và trc pháp lut.
Thm quyn x pht ca nhng ngi nêu trên đợc pháp luật quy định đối
với mt hành vi vi phm hành chính. Trong trng hp pht tin, thm quyn x
pht c xác nh cn c vào mc ti a ca khung tin pht qui nh i vi
tng hành vi vi phm c th.
Tu thuc vào tng trng hp vi phm hành chính c thc hin, ngi
có thm quyn x pht vi phm hành chính v tr em cn c vào iu khon
tng ng qui nh ti Ngh nh có quy định hành vi vi phạm hành chính về trẻ
em xác nh bin pháp x pht chính, các bin pháp x pht b sung và các
bin pháp khc phc hu qu cn c áp dng, sau ó i chiu vi thm
quyn x pht ca mình, nu phù hp thì ra quyt nh x pht. Trong trng
25
hp thy mt trong các bin pháp cn áp dng không thuc thm quyn ca
mình thì phi chuyn h s v vi phm n ngi có thm quyn x pht.
Ví dụ nh, khi Thanh tra viên chuyên ngành có liên quan trc tip ti công
tác bo v quyn ca tr em ang thi hành công v có quyn áp dng các bin
pháp x pht chính i vi hành vi cản trợ việc học tập của trẻ em c qui nh
ti iu 20 ca Ngh nh 114. Tuy nhiên, nu cn phi áp dng bin pháp Tch
thu tang vt, phng tin c s dng vi phm hành chính có giá tr trên
2.000.000 ng i vi loi vi phm hành chính này thì v vic li không thuc
thm quyn x pht ca thanh tra viên chuyên ngành.
i vi nhng ngi có thm quyn x pht a phng, thì ch có thm
quyn x pht i vi nhng vi phm hành chính c thc hin a phng
mình.
* Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em
đợc xác định nh sau: