1
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ TRUNG KIÊN
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC
TRONG LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
(QUA THỰC TIỄN TỈNH THANH HÓA)
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số : 60 38 01
tóm tắt luận văn thạc sĩ luật học
hà nội - 2012
Công trình đƣợc hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG
LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
7
1.1.
Nội dung và đặc điểm của lĩnh vực thi hành án dân sự
7
1.1.1.
Khái niệm thi hành án dân sự
7
1.1.2.
19 5
hành án dân sự
1.2.4.
Các nguyên tắc quản lý
19
1.2.5.
Hình thức, phương pháp quản lý nhà nước đối với lĩnh vực
thi hành án dân sự
22
1.2.6.
Nội dung cụ thể và thủ tục quản lý nhà nước đối với lĩnh vực
thi hành án dân sự
23
1.2.7.
Chủ thể quản lý
27
1.3.
Khung pháp luật về thi hành án dân sự hiện nay ở nước ta
28
1.4.
Xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự và vai trò hỗ trợ
của Nhà nước
34
Chương 2: VAI TRÕ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở THANH HÓA HIỆN NAY
37
Thực trạng vai trò của nhà nước và quản lý nhà nước đối với
lĩnh vực thi hành án dân sự tại Thanh Hóa
54
2.2.1.
Thực trạng pháp luật về thi hành án dân sự tại Thanh Hóa
hiện nay
56 6
2.2.2.
Thực trạng về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án
dân sự tại Thanh Hóa
62
2.2.2.1.
Quản lý nhà nước về chuyên môn, nghiệp vụ
62
2.2.2.2.
Quản lý nhà nước về tổ chức cán bộ
65
2.2.2.3.
Quản lý nhà nước về cơ sở vật chất
67
2.2.2.4.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự
68
2.2.2.5.
Xử lý vi phạm và các hình thức trách nhiệm trong lĩnh vực
thi hành án dân sự
69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
99 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
THADS
: Thi hành án dân sự
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa 8
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
làm thay đổi sâu rộng mọi mặt đời sống xã hội, đưa nước ta sang một giai
đoạn phát triển mới. Các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu, các giao
lưu kinh tế, dân sự trong nước và quốc tế phát triển đa dạng, phong phú. Công
cuộc đổi mới đất nước làm xuất hiện những yêu cầu khách quan, tất yếu phải
cải cách và hoàn thiện bộ máy nhà nước để phù hợp với tình hình mới. Vì vậy,
Đảng và Nhà nước ta chủ trương cải cách bộ máy Nhà nước nhằm hướng tới xây
dựng một nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, quản lý xã hội 10
bằng pháp luật, đề cao tính dân chủ và các giá trị nhân văn. Trong bối cảnh
chung đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản về việc cải cách tổ
chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan THADS nói
riêng như: Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về những
nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020; Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 về tăng cường và
nâng cao hiệu quả công tác THADS; Chỉ thị số 21/2008/CT-TTg ngày
01/7/2008 về tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác THADS do
Thủ tướng Chính phủ ban hành; Luật THADS năm 2008…
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa IX ngày 06/10/1992, Pháp
lệnh THADS năm 1993, Chỉ thị số 266/CT-TTg ngày 02/6/1993 của Thủ
tướng Chính phủ, công tác THADS được Tòa án chuyển giao cho Bộ Tư pháp
thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương. Gần 20 năm qua, công tác
THADS đã có chuyển biến tích cực, hệ thống văn bản pháp luật, tổ chức bộ
máy từng bước được hoàn thiện, cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư, kết quả
thi hành án năm sau luôn cao hơn năm trước. Theo thống kê của Bộ Tư pháp:
Kết quả thi hành án dân sự (về việc, về tiền và tỷ lệ việc
chuyển sang năm sau/ tổng số việc có điều kiện thi hành) từ 2007 -
2010 như sau: Năm 2007: 69% về việc; 55% về tiền; chuyển sang
Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng trên, đó là vai trò của Nhà
nước đối với công tác THADS vẫn còn hạn chế, quản lý nhà nước về công tác
THADS tỏ ra bất cập, chồng chéo.
Xuất phát từ thực tiễn đó tác giả lựa chọn đề tài "Vai trò của Nhà
nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự (qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa)" là
đề tài luận văn cao học Luật của mình. Đây là một vấn đề phức tạp liên quan
đến nhiều khoa học chuyên ngành khác nhau như: Nhà nước và pháp luật;
quản lý nhà nước, quản lý hành chính nhà nước… Tuy nhiên, với khả năng và
phạm vi nghiên cứu của đề tài, vấn đề đặt ra chỉ tập trung trong những nội
dung cơ bản về vai trò của nhà nước trong lĩnh vực THADS, đồng thời kiến
nghị một số giải pháp góp phần nâng cao vai trò của Nhà nước, tạo động lực
thúc đẩy hoạt động THADS nói riêng và hoạt động thi hành án nói chung phát
triển hơn. 12
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây trước những đòi hỏi khách quan, cấp thiết của công
tác THADS đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực THADS
như: Tìm hiểu pháp luật thi hành án dân sự của Nhà xuất bản chính trị quốc gia
năm 1999; Kỹ năng thi hành án dân sự năm 2010 của Học viện Tư pháp biên
soạn; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Những cơ sở lý luận và thực tiễn về
chế định Thừa phát lại", mã số 95-98-114/ĐT do Viện nghiên cứu Khoa học
pháp lý - Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện;
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ "Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án",
mã số 96-98-027/ĐT do Cục THADS - Bộ Tư pháp thực hiện; Đề tài cấp Nhà
nước "Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở
Việt Nam trong giai đoạn mới" do Bộ Tư pháp chủ trì; Đề tài "Thi hành án
dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án VIE/98/001" do Bộ Tư pháp
chủ trì thực hiện. Một số luận án và công trình nghiên cứu khác như: Luận văn
lĩnh vực THADS và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Kiến nghị những giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước, tạo điều
kiện thuận lợi thúc đẩy công tác THADS nói riêng, hoạt động thi hành án nói
chung đạt hiệu quả cao hơn.
Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi thực tiễn công tác THADS của
tỉnh Thanh Hóa. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, vấn đề đặt ra chỉ giới
hạn trong những nội dung cơ bản về vai trò của Nhà nước đối với lĩnh vực
THADS để tìm ra giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước, góp phần hoàn
thiện, phát triển hoạt động thi hành án nói chung và THADS nói riêng trong
điều kiện thực tế của nước ta hiện nay.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng Cộng
sản Việt Nam. 14
Tác giả luận văn dùng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng
hợp, lịch sử, luật học so sánh để tiếp cận, nghiên cứu những vấn đề thuộc nội
dung của đề tài.
5. Điểm mới của luận văn
Luận văn không tập trung phân tích sâu những vấn đề về chuyên môn
nghiệp vụ trong công tác THADS mà nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở
thực tiễn, thực trạng, nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm góp phần
nâng cao vai trò của Nhà nước cũng như hiệu quả công tác trong lĩnh vực thi
hành án nói chung, THADS nói riêng.
6. Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu
Hiện nay, hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về vai
trò của Nhà nước trong lĩnh vực THADS. Vì vậy, Luận văn nghiên cứu về vấn
hiện tại có một số quan điểm cơ bản sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, thi hành án là giai đoạn cuối cùng của
quá trình tố tụng. Bởi vì, thi hành án là để thực hiện mục tiêu chung của toàn
bộ quá trình tố tụng. Bản án, quyết định của Tòa án chỉ mới dừng lại ở việc
làm rõ đúng hay sai, phải hay trái trên văn bản giấy tờ. Nếu muốn chân lý
được thực hiện trên thực tế cần phải chờ kết quả của công tác thi hành án. Vì
vậy, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử, ở giai đoạn này,
cơ quan thi hành án được áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật
để đưa bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, của các
cơ quan có thẩm quyền khác trở thành hiện thực trong đời sống thực tế. Thi
hành án là hoạt động bảo vệ pháp luật khác về bản chất với các hoạt động
hành chính là tổ chức và quản lý.
Quan điểm thứ hai khẳng định, thi hành án là hoạt động hành chính -
tư pháp. Theo quan điểm này, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử
của Tòa án chấm dứt khi Tòa án nhân danh Nhà nước ra phán quyết. Thi hành
án không phải là giai đoạn tố tụng, bởi vì: 16
Thi hành án có mục đích khác với mục đích tố tụng, tố tụng
là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế,
trên cơ sở đó đưa ra phương án giải quyết vụ việc theo đúng quy
định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt
động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật [42, tr. 21].
Đặc thù trong các quan hệ thủ tục thi hành án (đây là một vấn đề dễ
dẫn đến sự nhầm lẫn với quan hệ tố tụng) có thể bao gồm cả quan hệ mang
tính chất tố tụng và quan hệ mang tính hành chính - tư pháp, nhưng các quan
hệ mang tính hành chính - tư pháp là chủ yếu hơn (đặc biệt là trong thi hành
án kinh tế, tuyên bố phá sản doanh nghiệp, lao động…). Thi hành án là hoạt
là hoạt động mang tính hành chính, hay tư pháp, không phải là giai đoạn cuối
cùng của quá trình tố tụng. Bản chất của hoạt động thi hành án thể hiện rõ cả
hai đặc điểm đó là tính hành chính và tính tư pháp. Vì vậy, nên coi thi hành án
là hoạt động hành chính - tư pháp.
Để làm rõ khái niệm THADS, chúng ta phải hiểu như thế nào về "dân
sự" trong THADS. Hiện có hai nhóm ý kiến khác nhau như sau:
Ý kiến thứ nhất, xác định "dân sự" theo nghĩa hẹp. Cơ sở để đưa ra ý
kiến này xuất phát từ quy định tại Điều 1 của Bộ luật Dân sự năm 2005 cho
rằng: quan hệ dân sự bao gồm quan hệ về tài sản và nhân thân phi tài sản
trong giao lưu dân sự. Vì vậy, những bản án, quyết định dân sự trong thi hành
án bao gồm bản án, quyết định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động và một số loại bản án, quyết định có tính
chất dân sự như: quyết định về tài sản trong vụ án hình sự, hành chính, quyết
định giải quyết tranh chấp kinh tế hoặc thương mại của trọng tài được tiến
hành theo trình tự, thủ tục riêng.
Ý kiến thứ hai cho rằng, phải hiểu khái niệm "dân sự" ở đây theo
nghĩa rộng, đó không chỉ bao gồm các bản án, quyết định về giải quyết tranh
chấp đối với các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số loại 18
bản án, quyết định có tính chất dân sự của Tòa án, mà còn bao gồm các bản
án, quyết định khác do pháp luật quy định.
Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai, bởi lẽ theo quy định của
pháp luật hiện hành ở nước ta có nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được
giải quyết theo các trình tự, thủ tục khác nhau (như tố tụng dân sự, kinh tế,
hành chính, lao động…) nhưng đến giai đoạn thi hành án đều được áp dụng
theo trình tự, thủ tục THADS. Điều này cũng phù hợp với pháp luật của nhiều
nước trên thế giới: việc tổ chức thi hành các bản án có nguồn gốc pháp luật về
của hoạt động THADS là đảm bảo cho phán quyết của Tòa án và các quyết
định khác của cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật được thực hiện
trong đời sống thực tế. Hơn nữa, theo quy định của Hiến pháp 1992, sửa đổi,
bổ sung năm 2001 thì Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng chính là thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (Điều 137). Theo
quy định của Luật THADS năm 2008 "Viện kiểm sát các cấp trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành
án của cơ quan thi hành án dân sự…" [41]. Nghĩa là, ngay trong các văn bản
pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất như Hiến pháp, Luật cũng đã khẳng định
THADS là hoạt động tư pháp.
Tính chất tư pháp của hoạt động thi hành án còn được thể hiện như
sau: Trong quá trình thi hành án, người được thi hành án và người phải thi
hành án có quyền thỏa thuận và tự định đoạt với nhau về cách thức thi hành
án, nhà nước khuyến khích các bên đương sự tự nguyện thi hành án. Quan hệ
"tư" đó làm cho tính chất tư pháp của hoạt động THADS nổi bật, chỉ khi các
bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về phương thức thi hành án và
người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thì mới
bị cưỡng chế thi hành án (gồm cả quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội
đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của trọng tài thương mại theo
quy định của Luật THADS năm 2008). Trong quá trình tổ chức thi hành án,
Chấp hành viên chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của
mình, tức là có tính độc lập rất cao trong hoạt động nghiệp vụ. 20
Mặt khác, yếu tố hành chính của hoạt động thi hành án thể hiện ở chỗ,
Chấp hành viên phải tuân theo sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của cơ quan quản
lý THADS, cơ quan THADS và của thủ trưởng cơ quan THADS. Trong quá
trình tổ chức thi hành án, nếu như Chấp hành viên có vi phạm thủ tục thi hành
án dẫn tới khiếu nại của đương sự, thì việc giải quyết khiếu nại thực hiện
trưởng cơ quan THADS phân công tổ chức thi hành vụ việc, hầu như Chấp
hành viên có quyền chủ động rất lớn trong hoạt động nghiệp vụ để thi hành
dứt điểm vụ việc. Trừ một số việc thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan
THADS như ra các quyết định ủy thác, trả đơn, đình chỉ, tạm đình chỉ, hoãn
thi hành án, trả lại tiền, tài sản theo quyết định của Bản án, thành lập Hội
đồng tiêu hủy vật chứng (theo sự đề xuất của Chấp hành viên)…còn lại Chấp
hành viên được quyền chủ động trong việc thiết lập hồ sơ, thông báo, xác
minh thi hành án, triệu tập đương sự, đôn đốc giải quyết việc thi hành án, đặc
biệt là chủ động trong việc ra các quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế và
biện pháp bảo đảm thi hành án, xử lý tài sản kê biên, trực tiếp ký kết hợp
đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá, với tổ chức bán đấu giá tài sản…Nói
tóm lại, trong quy trình giải quyết vụ việc THADS, ngoài phần việc thuộc
thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan THADS như đã nêu, Chấp hành viên có
quyền chủ động rất cao trong việc tổ chức thi hành dứt điểm Bản án, quyết
định của Tòa án. Về nguyên tắc, tính chủ động, độc lập của Chấp hành viên
trong hoạt động nghiệp vụ luôn được tôn trọng, bảo vệ.
1.1.2.3. Đảm bảo quyền yêu cầu, tự nguyện và thỏa thuận thi hành
án của các bên đương sự
Xuất phát từ nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận, bình đẳng, hòa giải
trong quan hệ dân sự. Đối với hoạt động THADS, cơ quan thi hành án phải
chủ động ra quyết định thi hành án các khoản: hình phạt tiền, truy thu tiền, tài
sản thu lợi bất chính, án phí; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung
quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; thu hồi quyền sử dụng đất
và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời (khoản 1, Điều 36 Luật THADS năm 2008), ngoài ra cơ
quan thi hành án chỉ tổ chức thi hành án trên cơ sở yêu cầu của người phải thi 22
hành án, người được thi hành án. Mặt khác, cơ quan thi hành án và Chấp hành
23
thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc
cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá" [41, khoản 5, Điều 101]. Hiện
nay, Thủ tục thi hành án không quy định thời hạn để giải quyết xong dứt điểm
một vụ việc THADS cụ thể. Vì vậy, các vụ việc THADS thường bị kéo dài,
án tồn đọng và dư luận xã hội bức xúc.
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.2.1. Sơ lƣợc lịch sử quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thi hành án
dân sự
Thời Pháp thuộc, hoạt động THADS ở nước ta được tổ chức theo hình
thức Thừa phát lại - đây là những công lại làm nhiệm vụ chuyền phiếu, các
việc về tư pháp, thi hành các bản án, công văn và mệnh lệnh khác của Tòa án.
Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh về
việc "Giữ tạm thời các luật lệ hiện hành của chế độ cũ", theo đó hoạt động
Thừa phát lại tiếp tục được duy trì. Ngày 24/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký Sắc lệnh số 13 quy định về tổ chức Tòa án, xác định Ban Tư pháp xã thuộc
Tòa án có nhiệm vụ thực hiện các việc tư pháp, hòa giải tất cả các việc dân
sự, thương sự và thi hành mệnh lệnh của Thẩm phán Tòa án cấp trên. Đến Sắc
lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và tố tụng thì hoạt
động THADS do Thẩm phán Tòa án cấp huyện đảm nhiệm dưới sự kiểm soát
của Biện lý. Ngày 24/10/1960, Quốc hội khóa I thông qua Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân có quy định, tại Tòa án nhân dân địa phương có chức danh "nhân
viên chấp hành án" làm nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định về dân sự,
phần dân sự trong bản án, quyết định về hình sự. Tuy nhiên, do điều kiện lịch
sử của nước ta, nên tại thời điểm này công việc thi hành án do Tòa án giao
cho một Thẩm phán phụ trách thi hành án. Thẩm phán làm cả nhiệm vụ xét
xử và tổ chức thi hành án. Thực hiện Quyết định số 186/TC và Thông tư
187/TC ngày 13/10/1972 của Tòa án nhân dân tối cao lần đầu tiên quy định
chức danh "Chấp hành viên". Các Chấp hành viên có nhiệm vụ thi hành
25
quốc, các cơ quan THADS địa phương gồm: Cục THADS cấp tỉnh là cơ quan
trực thuộc Tổng cục THADS, Chi cục THADS cấp huyện là cơ quan trực
thuộc Cục THADS tỉnh, đồng thời chịu sự quản lý, chỉ đạo của Chủ tịch
UBND cùng cấp. Hệ thống THADS trong quân đội, có Cục Thi hành án Bộ
Quốc phòng là cơ quan quản lý thi hành án trực thuộc Bộ Quốc phòng. Ở
quân khu và tương đương có phòng thi hành án cấp quân khu là cơ quan thi
hành án trực thuộc quân khu.
1.2.2. Khái niệm chung về quản lý nhà nƣớc
Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhưng quan
niệm chung nhất về quản lý được sử dụng rộng rãi trong khoa học nghiên cứu
và trong thực tiễn là định nghĩa về quản lý của điều khiển học. Theo quan
niệm của điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay
một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng
để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý
nhằm đạt được những mục tiêu đã định trước. Có quản lý kỹ thuật, quản lý xã
hội và quản lý các đối tượng khác nhau. Quản lý xã hội là sự tác động đến xã
hội nhằm mục đích duy trì những đặc điểm về chất, điều chỉnh, hoàn thiện và
phát triển những đặc điểm đó của xã hội. Do tính chất xã hội trong hoạt động
lao động của con người, quản lý tồn tại trong mọi xã hội ở bất kỳ lĩnh vực nào
và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào. Lao động của con người luôn là lao
động tập thể, mỗi người có một vị trí nhất định trong tập thể nhưng có quan
hệ và có giao tiếp với người khác, tập thể khác trong quá trình lao động. Vì
vậy, cần có sự quản lý để duy trì tính tổ chức, sự phân công lao động, các mối
quan hệ giữa những người trong một tổ chức xã hội và giữa các tổ chức xã hội
trong quá trình sản xuất vật chất, trong quá trình xã hội nhằm đạt mục tiêu
nhất định. Thực chất của hoạt động quản lý chính là hoạt động tổ chức, chỉ
huy phối hợp trong quá trình xã hội hóa lao động, quản lý xuất hiện như một
tựu chung lại là quản lý trên ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp để thực
hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.
Như đã phân tích, công cụ chủ yếu được sử dụng để quản lý nhà nước
là pháp luật, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp 27
quyền XHCN. Để quản lý nhà nước bằng pháp luật và tăng cường pháp chế
XHCN trong điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay, yêu cầu Nhà
nước phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, các cơ quan bảo vệ pháp luật phải
hoạt động có hiệu quả, mọi công dân trong ý thức, cũng như việc làm đều
"bình đẳng trước pháp luật" và tuyệt đối tôn trọng, chấp hành pháp luật.
1.2.3. Nội dung cơ bản của quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thi
hành án dân sự
Hiện nay, chưa có một khái niệm chính thống nào về quản lý nhà
nước trong lĩnh vực THADS. Tuy nhiên, quản lý nhà nước trong lĩnh vực
THADS có thể được hiểu là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước trong lĩnh
vực THADS nhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh đối với hoạt động
THADS do các cơ quan THADS tiến hành để hiện thực hóa những bản án,
quyết định của Tòa án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định
và được bảo đảm bằng quyền lực Nhà nước.
1.2.4. Các nguyên tắc quản lý
Theo Từ điển tiếng Việt: "Nguyên tắc là điều cơ bản định ra nhất thiết
phải tuân theo trong một loạt việc làm" [56, tr. 672]. Như vậy, nguyên tắc là
tư tưởng cốt lõi, chủ đạo, chỉ đạo hoạt động và xuyên suốt trong hoạt động đó.
Nguyên tắc quản lý THADS là những tư tưởng cốt lõi, chỉ đạo được quy định
trong chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước làm cơ sở cho
việc xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực
THADS. Theo ý kiến của chúng tôi, nguyên tắc quản lý nhà nước trong lĩnh
vực THADS trước hết tuân thủ nguyên tắc cơ bản trong quản lý bộ máy nhà